Tải bản đầy đủ

luan van CT hoan kiem

Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính
LỜI NÓI ĐẦU

Để thực hiện được mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước thì
vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng
kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào qui mô và hiệu quả vốn đầu tư. Vì
vậy để đáp ứng nhu cầu phát triển và cạnh tranh các doanh nghiệp việt nam cũng
đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới dây
truyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, vươn lên cạnh tranh với
hàng hoá, dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi vậy nhu
cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng. Một địa chỉ quen thuộc và tiện ích
nhất mà người cần vốn nghĩ đến đó là các Ngân hàng thương mại.
Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên
trong điều kiện thị trường tài chính nước ta đang trong giai đoạn bước đầu hình
thành và phát triển thì huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và hiệu
quả nhất. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh
tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại vừa với danh nghĩa là một
tổ chức hạch toán kinh tế - kinh doanh, vừa với vai trò trung gian tài chính. Với vai
trò trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại tập trung mọi nguồn vốn tạm thời

nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh
doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức trong nền kinh
tế theo các nguyên tắc tín dụng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở
trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm hiểu
tình hình thực tế tại NHCT Hoàn Kiếm vừa qua, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một
số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Ngân Hàng Công Thương Hoàn
Kiếm ”. Làm luận văn tốt nghiệp cho mình.

SV: Đỗ Việt Hà

1

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Luận văn được trình bày theo 3 chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1 : Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Chương 2 : Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Ngân Hàng
Công Thương Hoàn Kiếm.
Để có kiến thức và kết quả thực tế ngày hôm nay trước hết Em xin chân
thành gửii lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Tài Chính trường ĐH Kinh
Doanh và Công Nghệ đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong thời gian
qua.
Em xin chân thành cảm ơn giảng viên Đỗ Thúy Ngọc và các anh, chị phòng
kinh doanh đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em trong quá
trình thực tập và hoàn thành luận văn.

SV: Đỗ Việt Hà

2

Mã SV: 09A02505



Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng
cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.Để thực
hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi
nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định.
Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau:
“ Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực
hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”.
Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng
thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền
tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi. Họ
chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu,
nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Đây chính là họ
chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm
các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có
được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho
thuê...Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực
hiện các chức năng của ngân hàng thương mại.
1.1.2 Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

SV: Đỗ Việt Hà

3

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

- Vốn chủ sở hữu
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Vốn khác
Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của
ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của
NHTM.
1.1.3 Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.1.3 .1 Đối với toàn bộ nền kinh tế
Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế. Tiết kiệm và đầu
tư có mối quan hệ nhân quả, tiết kiệm góp phần thúc đẩy, mở rộng phát triển sản
xuất kinh doanh, tăng cường đầu tư và đầu tư cũng góp phần khuyến khích tiết
kiệm. Nhưng trong nền kinh tế các khoản tiết kiệm thường nhỏ, lẻ và người tiên
phong trong việc tập hợp vốn hiệu quả nhất chính là các ngân hàng thương mại.
Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp
phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế.
Đối với những người có vốn nhàn rỗi: Việc huy động vốn của ngân hàng
trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh toán
đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng.
Đối với những người cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về
vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu tư luôn có điều kiện để thực
hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với việc huy
động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy việc huy động vốn có thể thực hiện
bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà nước...nhưng trong điều
kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân hàng thương mại vẫn là hình
SV: Đỗ Việt Hà

4

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.1.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
- Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn.
Ngoài lượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác.
Ngân hàng đi vay để cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà
cho vay. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng. Đối với những
ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân
hàng nhỏ. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh
chủ yếu của ngân hàng thương mại. Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng
không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
- Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Ngân
hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có được
nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có
điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân hàng lớn, nhiều
vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi hoạt động kinh doanh của
họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan
trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên
thương trường
Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi
và nể trọng. Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn
của ngân hàng. Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm
bảo, các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nên
kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng
đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn
SV: Đỗ Việt Hà

5

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

hơn.
- Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để
các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt
động, tăng cường quan hệ với các đối tác. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ
chân các khách hàng truyền thống. Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm
tăng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả
năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt
về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi...Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải
tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.
1.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Một hoạt động không thể thiếu của các ngân hàng thương mại là tiến hành
huy động vốn để ngân hàng đi vào hoạt động. Quá trình huy động vốn đó hầu như
đều giống nhau ở các ngân hàng nhưng để phân loại các hình thức huy động thì lại
rất khác nhau. Điều này còn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại.
1.2.1 Phân loại căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên
quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng
như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được
chia thành:
1.2.1.1Huy động ngắn hạn
Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông
qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ
nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán....Phần lớn số này được dùng để cho vay
ngắn hạn ( tiềnới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung
hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính

SV: Đỗ Việt Hà

6

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

ổn định lại kém.
1.2.1.2 Huy động trung và dài hạn
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung
hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy
động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện. Tuy nhiên lãi suất
huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất
quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công
nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
Hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với
nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao ( từ 5
năm trở lên ). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao.
1.2.2 Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động
1.2.2.1 Huy động vốn từ dân cư
Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng
huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những
người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân cư thường
khá ổn định .
1.2.2.2 Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh
nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp
khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu kỳ rút tiền
của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy ngân hàng
luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối
thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các
tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến
cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc
SV: Đỗ Việt Hà

7

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng.
1.2.2.3 Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫn
nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán... Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các
ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên
song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại. Khi
xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ... các ngân hàng
thương mại có thể vay lẫn nhau. Quá trình vay này là một thoả thuận tín dụng giữa
hai bên. Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội
tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người
đặc biệt. Đó là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người
cho vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàng
nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy,
hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều.
1.2.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại
sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện
cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:
1.2.3.1 Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
a. Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ
lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không
phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là
những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh
toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào
hoặc để trả cho người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức
SV: Đỗ Việt Hà

8

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

thanh toàn bằng séc. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân
hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động ( máy ATM ). Ngân hàng
thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài
khoản vãng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn
quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số tiền tiền gửi. Loại
tài khoản này luôn luôn có số tiền có.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể tiền có hoặc tiền nợ, thường được sử
dụng cho các tổ chức kinh tế. Số tiền có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số tiền
nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên
mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả
lãi. Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp ( trong đó
có Việt Nam ) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi
này ( có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn ). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ
đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng
tốt các nhu cầu của người gửi tiền.
b. Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra
sau một thời hạn nhất định. Khoản này thường gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ
kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động.
Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải
trả cũng cao hơn. Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn
có mục đích kiếm lời. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét
đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi ( mà
SV: Đỗ Việt Hà

9

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

chúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích ) với các thời hạn 3 tháng, 6
tháng, 1 năm, 2 năm... ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo
vốn cho các ngân hàng.
c. Huy động tiền gửi tiết kiệm
Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các ngân hàng thương mại.
Bao gồm các loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn. Tuy nhiên so
với tiền gửi không kỳ hạn thì số tiền của phần này ổn định hơn, ít biến động hơn nên
ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn.
-Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Người
gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6 tháng...
Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt. Đây là những
khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với lãi suất
gần như là cao nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút
được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trước thời hạn.
Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng
vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế...
- Tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài.
Loại hình này khá phổ biến ở những nước phát triển nhưng ở nước ta còn khá
mới mẻ. Người gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉ được rút ra khi đến hạn
( thời hạn tương đối dài ). Loại hình này giúp cho ngân hàng có nguồn vốn ổn định
để có thể đầu tư trung và dài hạn.
1.2.3.2 Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh
doanh đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều
SV: Đỗ Việt Hà

10

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

nguồn:
a. Vay từ các tổ chức tín dụng
Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị
trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng các
mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng
trung ương.
b. Vay từ ngân hàng trung ương
Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất
khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân
hàng trung ương. Ngân hàng trung ương cho vay tiềnới hình thức tái chiết khấu
thương phiếu. Các ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân
hàng trung ương để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân
hàng trung ương chỉ cho ngân hàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc
cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao
đây cũng là một hình thức bổ sung vốn cho ngân hàng thương mại cực kỳ quan
trọng trong những thời điểm nhất định.
1.2.3.3 Huy động qua phát hành các công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng thương
mại. Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần
phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Để vay trên thị
trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu.
Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách
hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền
xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước.
Kỳ phiếu: kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân
hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế
hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh
SV: Đỗ Việt Hà

11

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

tế...
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HOÀN KIẾM
2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển chi nhánh.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm có trụ sở tại 37 Hàng Bồ – Hà Nội. Là một
doanh nghiệp nhà nước, được hình thành trên cở sở cũ là Ngân hàng Nhà nước chi
nhánh quận Hoàn Kiếm vào thời kỳ hệ thống ngân hàng một cấp. Lúc đó Ngân hàng
chủ yếu phục vụ cho sự phát triển kinh tế quận Hoàn Kiếm, doanh thu hoạt động của
Ngân hàng lúc đó chỉ hơn 1 tỷ.
Năm 1985 thay đổi cơ chế quy mô hoạt động của ngân hàng, từ hệ thống ngân hàng
một cấp chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp cho nên vào ngày 1/7/1988 Ngân
hàng Nhà nước Hoàn Kiếm trở thành Ngân hàng Công Thương khu vực Hoàn Kiếm,
trực thuộc Ngân hàng thành phố Hà Nội.
Năm 1985 - 1986 tiền nợ của ngân hàng hơn 200 tỷ, nguồn vốn chủ yếu là các quỹ
tiết kiệm, các luồng tiền gửi của dân cư. Do đặc thù hoạt động phục vụ kinh tế quận
cho nên doanh thu không lớn, mức độ rủi ro tiềm ẩn là rất cao. Cho nên năm 1997
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm quyết định chuyển hướng, thay thế đội ngũ
khách hàng, mở rộng cơ cấu nguồn vốn, hoạt động phục vụ chủ yếu các doanh
nghiệp lớn có tình hình tài chính lành mạnh, có thị phần hàng hoá và biết sử dụng
vốn của ngân hàng một cách có hiệu quả. Nguồn vốn khoảng từ 300 tỷ đă lên 1600
tỷ.
2.1.1 Mô hình bộ máy tổ chức tại chi nhánh CT Hoàn Kiếm.

SV: Đỗ Việt Hà

12

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức NHCT Hoàn Kiếm:

SV: Đỗ Việt Hà

13

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính
Ban lãnh đạo

P.Tổ chức
hành chính

P.Tài trợ
thương
mại

P.Thông tin
điện toán

P.
khách
hàng số
1,2

P.Kiểm tra,

P.Kho quỹ

kiểm soát

P.Kế

P.Tổng

Khách

P.Giao

P.Giao

toán

hợp và

hàng cá

dịch Kim

dịch

tiếp thị

nhân

Liên

Quỹ tiết
kiệm

Quỹ tiết
kiệm

Quỹ tiết
kiệm

Cát Linh

(Nguồn phòng tổ chức hành chính )

SV: Đỗ Việt Hà

14

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

- Ban lãnh đạo: bao quát điều hành và ra các quyết định đối với mọi hoạt động của
Ngân hàng. Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, có trách nhiệm chi tiết hoá các văn bản
chính sách tiền tệ của Ngân hàng, thực hiện các văn bản đó phù hợp với thực tế.
- Phòng khách hàng số 1, số 2: trực tiếp cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài quốc
doanh vay tiền làm nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cân đối về nguồn sử dụng vốn, thực
hiện chế độ thông tin báo cáo tổng hợp, phân tích lỗ lãi của Ngân hàng.
- Phòng Tài trợ Thương Mại: thực hiện các nghiệp vụ thanh toán , dịch vụ quốc tế,
mua bán ngoại tệ.
- Phòng kế toán tài chính: Quản lý tài sản, tiền gửi, tiền vay của các đơn vị tổ chức
kinh doanh, thực hiện hạch toán không dùng tiền mặt trong hệ thống NHCT trên địa
bàn Hà Nội và trong phạm vi cả nước. Ngoài ra phòng kế toán còn có bộ phận quản
lý, theo dõi 15 quỹ tiết kiệm nằm rải rác trên địa bàn quận nhằm thu hút khách hàng
và huy động tiền gửi tiết kiệm có và không có kỳ hạn của mọi tổ chức kinh doanh,
cá nhân trong và ngoài nước.
- Phòng tổng hợp và tiếp thị
- Phòng tiền tệ – kho quỹ: thực hiện thu chi tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ của các
đơn vị , tổ chức kinh doanh và khách hàng qua Ngân hàng nhanh chóng kịp thời,
chính xác, đầy đủ.
- Phòng thông tin điện toán: Tập hợp những số liệu phát sinh trong và ngoài mạng,
xử lý và lập báo cáo hạch toán.
- Phòng tổ chức hành chính: quản lý nhân sự, lao động tiền lương, quản lý hành
chính, quản trị, đào tạo…
- Phòng nguồn vốn: thực hiện huy động vốn cả nội và ngoại tệ với hình thức chủ yếu
là gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh doanh, huy động qua bán
các giấy nợ như kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng.
SV: Đỗ Việt Hà

15

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

- Phòng kiểm tra, kiểm soát mọi nghiệp vụ Ngân hàng theo văn bản hiện hành( kiểm
soát về mọi thủ tục cho vay, kế toán,ngân quỹ,thanh toán) trong Ngân hàng.
2.2Tình hình hoat động kinh doanh của Ngân hàng Công Thương chi nhánh
Hoàn Kiếm
2.2.1 Tình hình huy động vốn.
Bảng 2. 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Hoàn Kiếm
(Đơn vị : tỷ đồng)
2010
Chỉ tiêu
Số tiền
Tổng NVHĐ
1.Tiền gửi tiết kiệm
Không kỳ hạn
Có kỳ hạn
2.Tiền gửi từ TCKT
3. Kỳ phiếu
Tiền gửi bằng VNĐ
Tiền gửi bằng ngoại tệ

2320
1360
20
1340
800
160
1750
570

2011

Tỷ
trọng Số tiền
(%)
100
2600
58.62 1700
0.86
25
57.76 1675
34.48 900
6.90
0
75.43 2100
24.57 500

Tỷ
trọng Số tiền
(%)
100
3143
65.38 1543
0.96
12
64.42 1531
34.62 1400
0
200
80.77 2633
19.23 500

2012
Tỷ
trọng
(%)
100
49.09
0.38
48.71
44.54
6.36
83.77
15.908

So sánh

So sánh

2011/2010

2012/2011

(+;-)
280
340
5
335
100
-160
350
-70

%
12,07
25,00
25,00
25,00
12,50
-100
20
-12,28

(+;-) %
543
-157
-13
-144
500
200
533
0

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm2010-2012)
Nhìn vào Bảng 1 có thể thây tình hình hoạt động về huy động vốn của Ngân
hàng diễn ra theo chiều hướng tích cực. Trong 3 năm liên tiếp 2010,2011,2012 tổng
nguồn vốn huy động liên tục tăng. Năm 2011, tổng nguồn vốn huy động tăng
12.07% so với năm 2010, năm 2012 lại tăng so với năm 2011 là 20.88%
Xem xét cơ cấu thây sự thay đổi của từng thành phần: nguồn vốn được hình
thành từ 3 nguồn cơ bản: Tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của tổ chức kinh tế
và kỳ phiếu qua 3 năm liên tiếp. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư liên tục tăng về số

SV: Đỗ Việt Hà

16

Mã SV: 09A02505

20,88
-9,24
-52,00
-8,60
55,56
100
25,38
0


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

tuyệt đối( từ 1360 tỷ đồng năm 2010 lên 1700 năm 2011 và đến năm 2012 là 1743 tỷ
đồng). Xét theo tỷ trọng thì năm 2010 nguồn tiền này chiếm tỷ trọng 58.62% so với
tổng nguồn vốn huy động, năm 2011 tăng lên là 65.38% nhưng lại giảm xuống còn
49.09% ở năm 2012.
Tiền gửi của tổ chức kinh tế ngày càng tăng: năm 2010 là 800 tỷ đồng, đến
2011 tăng lên 900 tỷ đồng và tiếp tục tăng mạnh ở năm 2012 là 1400 tỷ đồng. Năm
2011 tăng so với năm 2010 là 12.5% và có xu hướng tăng nhanh năm 2012 tăng so
với năm 2011 là 55.56%.
2.2.2 Công tác sử dụng vốn
Hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng đem lại phần lớn nguồn lợi nhuận
trong tổng lợi nhuận thu được. Hoạt động tín dụng cho đến thời điểm hiện nay là
hoạt động chủ yếu của Ngân hàng. Điều này thể hiện rõ trong bảng sau:
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn tại NHCT Hoàn Kiếm
( Đơn vị: tỷ đồng)
2010
Chỉ tiêu
Số tiền
1.Doanh số cho vay
-Quốc doanh
-Ngoài quốc doanh
2.Doanh số thu nợ
-Quốc doanh
-Ngoài quốc doanh
3. Tiền nợ
-Quốc doanh
-Ngoài quốc doanh

1763
1568
195
1583
1418
165
1670
1495
175

2011

2012

Tỷ
trọng Số tiền
(%)
100
2200
88,94 1800
11,06 400
100
1829
89,58 1772
10,42 57
100
2041
89,52 1525
10,48 518

Tỷ
trọng Số tiền
(%)
100
2243
81,82 1863
18,18 380
100
2134
96,88 1586
3,12
548
100
2150
74,72 1800
25,38 350

So sánh
Tỷ
trọng
(%)
100
83,06
16,94
100
74,32
25,68
100
83,72
16,28

So sánh

2011/20123 2012/2011
(+;-) %
(+;-) %

437
232
205
246
354
-108
371
30
343

24,79
14,08
105,13
15,54
24,96
-65,45
22,22
2,01
196,0

243
63
-20
305
-186
491
109
275
-168

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm 2010 -2012)

SV: Đỗ Việt Hà

17

Mã SV: 09A02505

1,95
3,50
-5,00
16,688
-10,50
861,4
5,34
18,03
-32,43


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Ta thấy sự tăng trưởng về tình hình tiền nợ nói chung qua 3 năm
2010,2011,2012 cụ thể như sau:
Về doanh số cho vay: Năm 2010, tổng số tiền cho vay là 1763 tỷ đồng. Năm
2011 con số này tăng lên là 2200 tỷ, tăng 24.79% so với năm 2010 và tiếp tục tiếp
tục được đẩy mạnh. Vào năm 2012 lên tới 2243 tỷ đồng tăng 1.95% so với năm
2011. Doanh số cho vay tăng và doanh số thu nợ cũng tăng trong 3 năm liên tiếp.
Năm 2011 đạt 1829 tỷ đồng tăng 15.54% so với năm 2010 và năm 2012 là 2134 tỷ
đồng tức tăng 16.68% so với năm 2011. Có thể nói doanh số thu nợ của Ngân hàng
là rất tốt.
2.2.3 Tài trợ thương mại.
Bên cạnh 2 hoạt động cơ bản là huy động vốn và cho vay, NHCT Hoàn Kiếm
cũng thực hiện thêm nhiều hoạt động kinh doanh khác để hướng tới mục tiêu thoả
mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, qua đó đem lại lợi nhuận cho NH.
Về hoạt động thanh toán quốc tế thì do đặc điểm của chi nhánh có ít doanh
nghiệp làm xuất khẩu , khách hàng chủ yếu là những đơn vị sản xuất công nghiệp ,
thường xuyên nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Vì vậy,
nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại chi nhánh chủ yếu phục vụ cho mở L/C nhập khẩu
thanh toán chuyển tiền đi, đến. Mặt khác chi nhánh thường xuyên phải khai thác
ngoại tệ của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác cùng với sự hỗ trợ của
Trung ương để đảm bảo nhu cầu thanh toán và nhập khẩu cho các đơn vị sản xuất
kinh doanh.
2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Hàng năm, chi nhánh đã góp một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của hệ
thống NHCT và NHNN. Đến nay, NHCT Hoàn Kiếm đã tự khẳng định vị trí của
mình trong hệ thống, luôn là chi nhánh có thành tích xuất sắc trong công tác kinh
doanh, cũng như vai trò của mình đối với nền kinh tế.
SV: Đỗ Việt Hà

18

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Bảng 2. 3: Kết quả kinh doanh của NHCT Hoàn Kiếm
( Đơn vị: tỷ đồng)
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm 2010 -2012)
2010
Chỉ tiêu
Số tiền
1. Tổng thu nhập
Lãi tiền gửi
Lãi tiền vay
Lãi khác
2. Tổng chi phí
Lãi tiền gửi
Lãi tiền vay
Lãi khác
3. Tổnglãi

147
20
120
7
108
20
70
18
39

2011
Tỷ
trọng
(%)
100
13,6
81,6
4,8
73,5
13,6
47,6
12,2

2012

Tỷ
Số tiền trọng
(%)
180
100
40
22,2
137
76,1
3
1,7
142
78,9
35
19,4
77
42,8
30
16,7
38

Tỷ
Số tiền trọng
(%)
225 100
55
24,4
165 73,3
5
2,2
165 73,3
45
20,0
82
36,4
38
16,9
60

So sánh
2011/2010

So sánh
2012/2011

(+;-)

%

(+;-)

33
20
17
-4
34
15
7
12
-1

22,45
100
14,2

45
15
28
2
23
10
5
8
22

31,5
75
10
66,7

%
25
37,5
20,4
66,7
16,2
28,6
6,5
26,7
57,9

Ta thấy tổng thu nhập năm 2012 tăng so với năm 2011 là 25 % tương ứng là
tăng 45 tỷ và năm 2011 so với 2010 là 22,45% tương ứng là 33 tỷ .Trong đó tăng chủ
yếu là lãi tiền vay 28 tỷ (20,4%) và lãi khác giảm 4 tỷ vào năm 2011
Tổng chi phí qua các năm cũng tăng dần từ 108 tỷ năm 2010 lên 142 tỷ năm
2011 và đến 2012 là 165 tỷ. Năm 2012 so với năm 2011 tăng 16,2% (23 tỷ) và năm
2011 so với 2010 tăng 31,5%( 34 tỷ). Tăng chủ yếu là chi lãi khác. Kết quả tổng lãi
thu được năm 2012 là 60 tỷ tăng 57,9 % (tăng 21 tỷ) và năm 2011 so với 2010 tăng
giảm 1 tỷ. Điều này chứng tỏ Ngân hàng hoạt động có hiệu quả cao vào năm 2012
mặc dù năm đó kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Một kết quả hết sức khả quan đối
với một chi nhánh, đồng thời cũng là nguồn động viên khích lệ to lớn đối với cán bộ
công nhân viên toàn Ngân hàng.
2.3 Thực trạng huy động vốn tại NHCT Hoàn Kiếm
2.3.1 Về nguồn huy động vốn
Một trong những thế mạnh của NHCT Hoàn Kiếm, đó là nguồn huy động vốn
SV: Đỗ Việt Hà

19

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

rất đa dạng. Hiện nay NHCT Hoàn Kiếm huy động vốn chủ yếu bằng các nguồn
như:
-Tiền gửi của các tổ chức kinh tế (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn)
-Tiền gửi của đân cư ( tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn)
-Phát hành các công cụ nợ
- Nguồn đi vay
- Các nguồn huy động khác
Một trong những điều đặc biệt ở NHCT Hoàn Kiếm, đó là trong cơ cấu tiền
gửi thì tiền gửi của tổ chức kinh tế có tỷ trọng khá lớn. Nó thể hiện vai trò, vị thế
của chi nhánh Hoàn Kiếm so với các đơn vị khác trên địa bàn. Khách hàng là các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của chi nhánh Hoàn Kiếm là rất lớn. Từ lâu chi
nhánh đã thấy được tầm quan trọng của lượng khách hàng này và đã có những giải
pháp hữu hiệu để thu hút. Nhưng như thế không có nghĩa là tiền gửi của dân cư
không quan trọng. Bên cạnh đó là nguồn phát hành các công cụ nợ, tiền gửi của các
tổ chức tín dụng khác... Cơ cấu trong huy động vốn của NHCT Hoàn Kiếm khá đa
dạng và phong phú, thể hiện qua bảng sau:

SV: Đỗ Việt Hà

20

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Bảng 2.4. Cơ cấu nguồn vốn huy động
Năm 2010
Tỷ
Chỉ tiêu

Số tiền

(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm 2012
Tỷ

Năm 2011
Tỷ

trọng

Số tiền

(%)

trọng

Số tiền

(%)

trọng
(%)

1.Tiền gửi của các
tổ chức kinh tế

800

34,28

900

34,46

1400

44,54

2.Tiền gửi của
dân cư

1068

46

922

35,46

1218

38,75

3.Phát hành các
công cụ nợ

160

6,9

0

0

200

6,36

4.Nguồn đi vay

266

11,46

766

29,46

311

9,9

5.Nguồn vốn khác

26

1,36

12

0,62

14

0,45

Tổng

2320
100
2600
100
3143
(Nguồn:Báo cáo tài chính qua 3 năm)

100

Ta thấy qua các năm tiền gửi của tổ chức kinh tế có xu hướng tăng dần và tăng khá
nhanh vào các năm 2011 và năm 2012. Năm 2010, tiền gửi của các tổ chức kinh tế
chỉ chiếm 34,28% tổng nguồn vốn nhưng đến năm 2011 chiếm đến 34,46% . Đây
là cố gắng rất lớn của chi nhánh. Bước vào năm 2011, năm đầu của kế hoạch 5
năm (2011- 2015), nhận thức được những thời cơ và thách thức khi mở cửa, hội
nhập kinh tế với nước ngoài. Ngân hàng đã cùng doanh nghiệp suy nghĩ, tháo gỡ
những khó khăn, đưa ra các loại hình dịch vụ mới, đáp ứng một cách tốt nhất cho
doanh nghiệp về thanh toán, bảo lãnh... Chính vì vậy trong con mắt của các tổ
chức kinh tế, Ngân hàng là một người bạn đáng tin cậy, có thể chia sẻ, giúp đỡ
doanh nghiệp trong kinh doanh. Không thụ động ngồi chờ khách hàng tìm đến với
mình, Ngân hàng luôn chủ động tìm kiếm các khách hàng mới. Có rất nhiều các
khách hàng lớn như: Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Điện Lực Việt
SV: Đỗ Việt Hà

21

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

Nam, Công ty Đầu tư Phát triển nhà Hà Nội, Công ty Phát triển hạ tầng... với số
tiền tiền gửi ở Ngân hàng lên tới hàng trăm tỷ đồng. Ngoài ra phần lớn khách hàng
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ cá thể.
Tiền gửi của khu vực dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kỳ
hạn. Nguồn tiền gửi của dân cư qua các năm vẫn tăng song có xu hướng giảm dần
về tỷ trọng. Nếu như năm 2010, số tiền tiền gửi là 1068 tỷ và chiếm tỷ trong là 46%
thì các con số tương ứng trong năm 2011 là 922 tỷ và 35,46 %. Đây là do năm 2011,
chi nhánh ngoài huy động vốn từ dân cư đã đẩy mạnh thu hút từ nhiều nguồn khác
và đạt được nhiều thắng lợi. Đến năm 2012, nguồn vốn huy động lại tăng kéo theotỷ
trọng lại cũng tăng lên. Điều này cho thấy đi đôi với việc tăng tổng nguồn vốn thì đã
cải thiện việc huy động tiền gửi từ dân cư.
Về phát hành các công cụ nợ. Thực ra việc phát hành này cũng là huy động từ
khu vực dân cư. Ngân hàng phát hành các kỳ phiếu, trái phiếu theo định hướng
chung của NHCT Việt Nam. Đây là khu vực mà có tốc độ tăng ngoạn mục nhất.
Năm 2010, việc phát hành các công cụ nợ của Ngân hàng chỉ thu được 160 tỷ đồng.
Một con số khá lớn. Nhưng đến năm 2011 thì chi nhánh không phát hành công cụ nợ
ra thị trường.Phải đến năm 2012 chi nhánh mới áp dụng lại hình thức huy động vốn
này và cũng đại kết quả cáo khi huy động được 200 tỷ. Ngoài ra nguồn vốn đi vay
của chi nhánh cũng chiếm một tỷ trọng tương đối, vào các năm 2010 và 2011 chiếm
lần lượt là 11,46% và 29,46% tổng nguồn vốn. Song đến năm 2012 nguồn vay này
chỉ chiếm không đáng kể trong tổng nguồn vốn. Đây là do trong năm, Ngân hàng có
nhiều hợp đồng tín dụng và nguồn vốn từ các đơn vị khác trong hệ thống do không
có đầu ra nên được điều chuyển về.
Nguồn vốn khác của Ngân hàng lại rất khiêm tốn, trong năm 2010 và năm
2011 chỉ chiếm 1,36 % và 0,62% tiếp tục giảm đến năm 2012 chỉ còn 0,45% tổng

SV: Đỗ Việt Hà

22

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

nguồn vốn.
2.3.2 Về kỳ hạn huy động vốn
Bảng 2.5. Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn
(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm 2010
Chỉ tiêu

Năm 2011

Tỷ
Số tiền

trọng

Tỷ
Số tiền

(%)
1.Vốn không
kỳ hạn
2.Vốn
ngắn hạn
3.Vốn trung
và dài hạn
Tổng

Năm 2012

trọng

Tỷ
Số tiền

(%)

trọng
(%)

200

0,86

422

16,23

512

16,3

960

41,38

900

34,62

1976

62,86

1160

57,76

1278

49,15

655

20,84

3143

100

2320

100
2600
100
(Nguồn:Báo cáo tài chính qua 3 năm)

Nguồn huy động không kỳ hạn của Ngân hàng qua các năm đều tăng. Tỷ
trọng trong tổng nguồn vốn ngày càng được tăng cường một cách khá đều đặn.
Trong cơ cấu của nguồn tiền gửi không kỳ hạn này thì chủ yếu là tiền gửi của các tổ
chức kinh tế, chiếm khoảng 95%. Nguồn tiền gửi của khu vực dân cư rất ít. Nó phản
ánh đặc điểm của nguồn tiền gửi không kỳ hạn. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn chủ
yếu được các tổ chức kinh tế sử dụng với mục đích phục vụ cho việc thanh toán.
Còn đối với dân cư, mục đích chủ yếu là để lấy lãi, nên họ gửi vào các khoản mục
có kỳ hạn.
Trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng tính theo thời gian, thì nguồn
vốn ngắn hạn luôn rất lớn, chiếm khoảng 40 – 70%tổng nguốn vốn. Nguồn vốn ngắn
hạn này huy động từ dân cư, doanh nghiệp và được các ngân hàng khác điều chuyển

SV: Đỗ Việt Hà

23

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

đến. Ngày nay các doanh nghiệp cũng có xu hướng gửi tiền vào các khoản mục
ngắn hạn: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng... thay vào chỉ gửi vào tiền gửi không kỳ hạn
như trước kia. Các doanh nghiệp đã tính toán kỹ lưỡng chu kỳ kinh doanh của mình,
từ đó tìm ra giải pháp tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận.
Khoản tiền huy động từ nguồn trung và dài hạn là quan trọng đối với bất cứ
Ngân hàng nào. Đây là nguồn chủ yếu để Ngân hàng tiến hành cho vay trung và dài
hạn. Lãi suất cho vay trung và dài hạn rất cao, từ đó Ngân hàng kiếm được nhiều lợi
nhuận. Lấy nguồn huy động trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn là một
cách để giảm bớt rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Nguồn vốn trung và dài hạn
của Ngân hàng chiếm tỷ trọng khá cao so với các ngân hàng khác trong cùng địa bàn
nhưng ngày càng giảm dần qua các năm. Năm 2011 nguồn này còn bị giảm sút so
với năm 2010 và có giảm tiếp trong năm 2012. Tuy nhiên so với các khoản cho vay
trung và dài hạn thì không tương xứng. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh
ngày càng tăng và đến năm 2012 đạt mức cao hơn so với cho vay ngắn hạn. Ngân
hàng đã áp dụng việc chuyển hoán kỳ hạn nguồn. Đây là một con dao hai lưỡi và
Ngân hàng phải hết sức quan tâm tới an toàn tín dụng.
2.3.3 Về chi phí huy động vốn
Chi phí huy động bao gồm ngoài phần lãi phải trả còn có những khoản khác
như: lương nhân viên, trang bị máy đếm tiền, máy soi tiền, tiền thuê trụ sở, các chi
phí hành chính khác... Trong đó phần lãi phải trả là bộ phận chủ yếu của chi phí huy
động. NHCT Hoàn Kiếm huy động vốn theo khung lãi suất do Tổng giám đốc
NHCT Việt Nam quy định trong từng thời kỳ nhưng không được vượt quá mức lãi
suất trần do NHNN quy định. Khác với các Ngân hàng cổ phần khác, chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài, lãi suất luôn được điều chỉnh theo kiểu phá giá. Lãi suất huy
động của chi nhánh không cao hơn song vẫn thu hút được đông đảo khách hàng. Chi
nhánh luôn nghiên cứu tìm ra các biện pháp để giảm các chi phí khác trong chi phí
huy động. Mục tiêu đặt ra là phải làm sao để tốc độ tăng của lợi nhuận phải lớn hơn
SV: Đỗ Việt Hà

24

Mã SV: 09A02505


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài chính

tốc độ tăng cuả chi phí. Và Ngân hàng đã thực hiện một cách xuất sắc mục tiêu trên.
Kết quả là, năm 2010 lợi nhuận hạch toán là 23 tỷ đồng và đến năm 2012 là 42,2 tỷ
đồng. Ngân hàng xác định thế mạnh trong cạnh tranh sẽ là ở khâu dịch vụ. Từ đó
Ngân hàng nâng cao chất lượng các dịch vụ, hấp dẫn, lôi cuốn đuợc nhiều khách
hàng mới đồng thời luôn quan tâm, giữ chân các khách hàng truyền thống.
2.3.4 Các hình thức huy động vốn tại NHCT Hoàn Kiếm
2.3.4.1 Huy động vốn từ các khoản tiền gửi
a. Tiền gửi thanh toán
Đứng ở cấp độ một chi nhánh, có thể nói NHCT Hoàn Kiếm là một chi nhánh
đứng hàng đầu trong việc quan hệ với các khách hàng lớn. Đây không phải là ngẫu
nhiên mà là kết quả của một chiến lược huy động vốn lâu dài, trong đó rất coi trọng
đến các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Các khách hàng lớn là những tổng công ty,
các tổ chức kinh tế có tình hình tài chính lành mạnh, quy mô làm ăn lớn. Có thể kể
ra như: Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Điện lực Việt Nam, các tổng
công ty 90, 91, công ty đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội, Điện lực Hà Nội... Ngoài ra
số lượng khách hàng là các công ty vừa và nhỏ rất nhiều: Công ty thương mại và
dịch vụ Thái Tiềnơng, HTX bốc xếp Đồng Xuân, Công ty Quyết Thắng CCB, Công
ty TNHH Liên Thao... Đây là những tổ chức kinh tế đóng góp phần lớn nguồn tiền
gửi không kỳ hạn cho Ngân hàng. Ta xem bảng sau:

SV: Đỗ Việt Hà

25

Mã SV: 09A02505


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×