Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục tới sự tham gia lao động của cá nhân ở Việt Nam

0

Trờng đại học kinh tế quốc dân
----------------

Võ THANH ĐồNG
NGHIÊN CứU ảNH HƯởNG CủA GIáO DụC
TớI Sự THAM GIA LAO ĐộNG CủA Cá NHÂN ở VIệT
NAM

Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN

ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. LÊ QUANG CảNH

Hà Nội - 2013


MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU.................................5
1.1. Giáo dục và đo lường giáo dục..............................................................................5
1.1.1 Quan niệm về giáo dục...........................................................................................5
1.1.2 Bản chất của giáo dục.............................................................................................6
1.1.3 Đo lường giáo dục..................................................................................................7
1.2 Sự tham gia lao động...............................................................................................8
1.2.1. Tham gia lực lượng lao động.................................................................................8
1.2.2. Cung lao động.......................................................................................................9
1.3 Tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân...........................12
1.3.1 Đo lường giáo dục................................................................................................12
1.3.2 Đo lường tham gia lực lượng lao động.................................................................16
1.3.3 Đo lường cung lao động.......................................................................................18
1.3.4. Giáo dục tác động tới sự tham gia lực lượng lao động........................................19
1.3.5 Giáo dục tác động tới cung lao động....................................................................20
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC VÀ SỰ THAM GIA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.........22
2.1 Những chuyển biến trong giáo dục của nguồn nhân lực....................................22
2.1.1 Nghiên cứu theo bằng cấp cao nhất......................................................................22
2.1.2. Những chuyển biến về chất lượng giáo dục........................................................25
2.2 Sự tham gia lao động của cá nhân........................................................................27
2.2.1 Sự tham gia lực lượng lao động............................................................................27
2.2.2 Cung lao lao động cá nhân...................................................................................33
2.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và sự tham gia lao động..........................................36
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH, KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ ĐỀ XUẤT......................40
3.1 Mô hình và số liệu..................................................................................................40


3.1.1. Số liệu sử dụng....................................................................................................40
3.2. Kết quả ước lượng................................................................................................43
3.1.1. Giáo dục tác động sự tham gia lực lượng lao động.............................................43
3.1.2. Giáo dục tác động cung lao động........................................................................47
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.................................................................50
4.1. Kết quả thực nghiệm chính.................................................................................50
4.2. Một số đề xuất từ nghiên cứu..............................................................................51
KẾT LUẬN..................................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................57
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



GD:
CTT:
IRT:
TNKQ:
LLLĐ:
VHLSS:
TFP:

Giáo dục
Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển
Lý thuyết hiện đại
Trắc nghiệm khách quan
Lực lượng lao động
Khảo sát mức sống hộ gia đình
Năng suất tổng hợp


DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ
Hình 1.0: Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động của
cá nhân..........................................................................................................3
Hình 1.1: Cung lao động theo trường phái kinh tế học cổ điển...................................18
Hình 1.2: Cung lao động của Keynes..........................................................................18
Hình 1.3: Cung lao động của Tân cổ điển...................................................................19
BẢNG
Bảng 2.1: Giáo dục của người dân thông qua bằng cấp cao nhất, 2006-2010.............23
Bảng 2.2: Dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động chia theo thành thị nông
thôn, giới tính, 2006-2010...........................................................................29
Bảng 2.3: Tỷ lệ (%) làm việc nhận tiền lương và không làm việc của cá nhân 2010
....................................................................................................................31
Bảng 2.4 : Tỷ lệ (%) làm việc nhận tiền lương và không làm việc của cá nhân theo
vùng, 2010..................................................................................................32
Bảng 2.5: Số giờ làm việc trung bình 1 người 1 tuần của dân số từ 15 tuổi trở lên
làm công việc chiếm nhiều thời gian nhất, 2006-2010................................34
Bảng 2.6: Thời gian làm việc trung bình (giờ/ngày) của cá nhân theo bằng cấp cao
nhất, 2010...................................................................................................38
Bảng 3.1: Ảnh hưởng biên của giáo dục đến sự tham gia lực lượng lao động của
cá nhân.......................................................................................................44
Bảng 3.2: Tác động của giáo dục tác động đến cung lao động cá nhân......................47
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:

Mối quan hệ giữa số năm học và thời gian làm việc trung bình của cá nhân
................................................................................................................39


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, nền giáo dục phát triển một cách mạnh mẽ. Số lượng
trường Đại học cao đẳng được mở ra ngày càng nhiều, chuyên ngành đào tạo ngày
càng được mở rộng và đa dạng. Không những vậy, hoạt động đào tạo trung cấp, cao
đẳng, trung cấp nghề, cao đẳng nghề…cũ1ng phát triển mạnh mẽ không ngừng.
Điều này đã cung cấp cho thị trường lao động Việt Nam lực lượng lao động đông
đảo có tay nghề cao, chất lượng lao động ngày một nâng cao.
Về mặt lý thuyết, giáo dục có tác động tích cực tới sự tham gia lao động và
cung lao động của các cá nhân. Giáo dục không những tác động đến lượng cung lao
động mà còn tác động tới chất lượng lao động của cá nhân. Các cá nhân được giáo
dục có chuyên môn và kỹ năng làm việc cao sẽ có thu nhập cao, và khi thu nhập cao
thì sẽ làm việc ít đi (đường cung lao động hình chữ S)
Về mặt thực tế, trong bối cảnh của Việt Nam liệu mối quan hệ này như thế
nào? Giáo dục có tác động tới sự tham gia lao động của cá nhân hay không và tác
động như thế nào? Câu trả lời có được sẽ là những dẫn chứng quan trọng cho việc
đề xuất các chính sách liên quan tới giáo dục để khuyến khích sự tham gia lao động
của cá nhân trong bối cảnh Việt Nam. Do vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu
ảnh hưởng của giáo dục tới sự tham gia lao động của cá nhân ở Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn này là nghiên cứu xây dựng mô hình
đo lường tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân bao gồm
quyết định làm việc và cung lao động của các cá nhân. Trên cơ sở đó, luận văn
nghiên cứu thực nghiệm tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động ở Việt Nam
và có những đề xuất phát huy vai trò của giáo dục trong quyết định sự tham gia lao
động của cá nhân.


2
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn đi vào tìm hiểu và trả lời
các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:
 Vai trò của giáo dục trong quyết định tham gia lao động của cá nhân trên
khía cạnh lý thuyết là gì?
 Giáo dục tác đông như thế nào tới quyết định tham gia lực lượng lao động
của cá nhân?
 Giáo dục tác động như thế nào tới cung lao động của cá nhân?
 Những giải pháp nào nâng cao vai trò của giáo dục quyết định tới sự tham
gia lao động của các nhân ở Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích kinh tế thông thường được sử dụng để phân tích tình
hình giáo dục thông qua bằng cấp cao nhất đạt được hoặc số năm học của cá nhân
(đại diện cho y biến giáo dục) của cá nhân. Các phương pháp này còn sử dụng để
phân tích thực trạng tham gia lực lượng lao động và cung lao động cá nhân trong
bối cảnh của Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn nhằm đo
lường tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động. Cụ thể trong luận văn sử
dụng hai mô hình chính là mô hình probit và mô hình hồi quy đa nhân tố. Mô hình
ước lượng Probit đo lường tác động của giáo dục tới xác suất tham gia lực lượng lao
động của cá nhân. Xác suất tham gia lao động của cá nhân đưuọc đo lường bằng
cách tính ảnh hưởng biên của giáo dục và các yếu tố tác động tới quyết định làm
việc của cá nhân.
Mô hình hồi quy đa nhân tố được sử dụng để xác định đo lường sự tác động
của giáo dục tới cung lao động/ thời gian làm việc) của cá nhân. Trong mô hình này,
biến phụ thuộc sử dụng là cung lao động của cá nhân được đại diện bằng số giờ làm
việc trong ngày.

4. Khung nghiên cứu của đề tài
Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục tới sự tham gia lao động được
đề cấp dưới hai góc độ: xác suất để một cá nhân có đi làm hay không, hay sự tham


3
gia lực lượng lao động và cung lao động của cá nhân. Luận văn này sẽ sử dụng mô
hình ước lượng, trong đó sự tham gia lực lượng lao động chịu tác động của giáo
dục, các yếu tố thuộc đặc điểm của cá nhân, đặc điểm của gia đình, đặc điểm thị
trường lao động và các yếu tố khác. Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự
tham gia lao động của cá nhân có thể được mô tả trong hình vẽ dưới đây.
Hình 1.0: Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia
lao động của cá nhân

Giáo dục của cá
nhân

Đặc điểm cá nhân

Sự tham gia lao
động

Biến kiểm soát
khác

Đặc điểm thị
trường lao động

Đặc điểm gia đình

5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
5. 1. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu sự tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động
của cá nhân Việt Nam sử dụng số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010.
Như vậy, mẫu nghiên cứu sẽ bao gồm các cá nhân trong độ tuổi lao động theo quy
định của Việt Nam, với nam từ 16 đến 60 và nữ từ 16 đến 55 tuổi.

5.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính bao là trình độ học vấn và giáo dục nói chung
của cá nhân, sự tham gia lao động và sự tác động của giáo dục tới tới sự tham gia
lao động. Trong đó, sự tham gia lao động được nghiên cứu ở hai cấp độ, sự tham gia
lực lượng lao động và cung lao động.

6. Kết cấu của luận văn


4
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và khung nghiên cứu.
Trong chương này tác giả nghiên cứu về giáo dục, sự tham gia lao động của cá
nhân và mối liên hệ giữa giáo dục và sự tham gia lao động cá nhân xét trên mặt lý thuyết
Chương 2: Giáo dục và sự tham gia lao động ở Việt Nam
Tác giả nghiên cứu về những chuyển biến trong giáo dục của Việt Nam
thông qua hai tiêu chí nghiên cứu bằng cấp cao nhất và nghiên cứu số năm học để từ
đó có cái nhìn đánh giá một cách tổng quan nhất về thực trạng giáo dục của Việt
Nam. Trong chương này tác giả cũng nghiên cứu về sự tham gia lao động của cá
nhân thông qua số lượng lao động tham gia vào lực lượng lao động ở từng độ tuổi
và số giờ làm việc của một cá nhân trong tuần.
Chương 3: Mô hình, kết quả ước lượng và đề xuất
Tác giả sử dụng hai mô hình là Probit và hồi quy đa nhân tố để phân tích ảnh
hưởng của giáo dục đến sự tham gia lực lượng lao động của cá nhân. Từ đó đánh
giá và đưa ra một số gợi ý chính sách.


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU
1.1. Giáo dục và đo lường giáo dục
1.1.1 Quan niệm về giáo dục
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục trong lý thuyết và thực tiễn
nghiên cứu. Có quan niệm cho rằng “giáo dục là tất cả các dạng học tập của con
người. Ở đâu có sự hoạt động và giao lưu nhằm truyền đạt và lĩnh hội những giá trị
và kinh nghiệm xã hội thì ở đó có giáo dục”. Theo một nghĩa hẹp hơn giáo dục là
một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và
lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người. Nơi tổ chức giáo dục một cách
có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ là nhà trường. Ở đây, việc tổ chức quá trình giáo
dục chủ yếu do những người có kinh nghiệm, chuyên môn đảm nhiệm đó là những
thầy giáo, những nhà giáo dục.
Về cơ bản các giáo trình/tài liệu nghiên cứu về giáo dục học ở Việt Nam đều
trình bày “Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là
sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”.
Quan niệm này nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh
đến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối
cùng của việc đó.
Dewey (1916) cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn mục tiêu
cuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ. Theo nghiên cứu này, cá nhân con người
không bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết, và cùng với sự chết thì những
kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại
xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua
được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục
là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Hơn nữa, Dewey (1916)
cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính
trong quá trình truyền dạy ấy.


6
Tuy nhiên, cả hai cách định nghĩa hoặc hiểu như trên về giáo dục vẫn chú
trọng đến khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn. Còn con người thì sao?
Dù rằng so với hơn 7,2 tỉ người trên thế giới, thì sự xuất hiện hay biến mất của
một cá thể người dường như chằng là vấn đề gì đáng quan tâm, nhưng mỗi cá nhân
vẫn là độc nhất vô nhị và họ vẫn là một giá trị không thể thay thế, vẫn có quyền và
cần được hạnh phúc. Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một từ
gốc Latin ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn
("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gì
thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn.
Quan niệm thứ ba có tính nhân bản cao hơn. Trong quan niệm thứ ba này, sự
hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục
(thế hệ trước) có nghĩa vụ phải dẫn hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả
những gì có thể để làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn.

1.1.2 Bản chất của giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục mang
một số đặc điểm thể hiên bản chất.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội. Là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát
triển trong xã hội loài người, nó phản ánh những mối quan hệ, những dạng hoạt
động khác nhau của con người.
Giáo dục xuất hiện cùng sự xuất hiện xã hội loài người . Người lớn dạy cho
trẻ em những gì họ đã tích lũy, ngược lại, trẻ em học ở người lớn những điều đó.
Lúc đầu công việc này được thực hiện tự phát, sau đó được tổ chức một cách tự
giác, ta gọi đó là hiện tượng giáo dục.
Dấu hiện bản chất của hiện tượng giáo dục được thể hiện ở “Sự truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử”. Chủ thể của sự truyền đạt là thế hệ đi trước;
chủ thể của sự lĩnh hội là thế hệ đi sau; nội dung của truyền đạt là kinh nghiệm xã
hội- lịch sử.
Giáo dục mang tính kinh nghiệm xã hội. Là một hệ thống những tri thức, hệ
thống phương thức, cách thức tiến hành hành động, hệ thống thái độ trong việc đánh


7
giá cảm xúc, giá trị đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trình
lịch sử.
Giáo dục đối với cá nhân. Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hộilịch sử mà mỗi cá nhân có thể tái tạo ra năng lực người cho bản thân, nhờ đó có sự
phát triển tâm lý, ý thức và phát triển nhân cách.
Giáo dục và xã hội. Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội này mà thế hệ đi sau có thể
bảo tồn và phát triển nền văn hóa. Như vậy, một XH muốn tồn tại và phát triển thì
XH ấy phải thực hiện chức năng GD. Đây chính là một tính quy luật của sự phát
triển, tiến bộ XH.

1.1.3 Đo lường giáo dục
Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người nhằm mục đích
truyền đạt lại những kinh nghiệm lịch sử, hoàn thiện bản thân. Giáo dục phát triển
giúp cho xã hội phát triển mạnh, đẩy mạnh công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế,
mỗi cá nhân được hoàn thiện hơn. Vì vậy, giáo dục là vấn đề được xã hội, nhà nước
và cá nhân quan tâm và luôn mong muốn giáo dục ngày một phát triển. Tuy nhiên,
để đánh giá được giáo dục, để ngày hoàn thiện hơn về giáo dục thì phải đo lường
được nó. Vì vậy, đo lường và đánh giá giáo dục được ra đời.
Đo lường giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích
số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá
(thí sinh).

Đo lường là gán các con số vào các cá thể sự vật theo một hệ thống quy tắc
nào đó để biểu diễn đặc tính của sự vật đó. Còn đánh giá là đưa ra phán quyết về
mức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật đó. Như vậy, đo lường chỉ để thu được
các con số chứ chưa phán xét về sự vật gắn với con số đó ở mức độ giá trị hoặc chất
lượng nào; còn đánh giá là phán xét về mức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật,
tức là nhận định sự vật là lớn hay bé, cao hay thấp, tốt hay xấu …ở mức độ nào.
Quan hệ giữa đo lường và đánh giá là đo lường nhằm cung cấp số liệu để đánh giá,
kết quả đo lường là căn cứ để đánh giá.


8
Thao tác đo lường trong giáo dục thường là tiến hành các bài kiểm tra trên các
thí sinh bằng trắc nghiệm khách quan (lựa chọn trả lời) hoặc tự luận (bài viết đủ
dài) rồi phân tích kết quả của các bài kiểm tra để ước lượng rút ra các con số bằng
đặc trưng cho các câu hỏi và năng lực của thí sinh. Trong lý thuyết và thực tiễn
nghiên cứu, giáo dục của cá nhân thường được đo bằng nhiều thước đo khác nhau,
trong đó phổ biến hơn cả là một số chỉ số sau đây:


Bằng cấp đạt được cao nhất của mỗi cá nhân;



Số năm học trung bình;
Nội dung cụ thể của các thước đo giáo dục được tìm hiểu rõ trong những

phần sau.

1.2 Sự tham gia lao động
1.2.1. Tham gia lực lượng lao động
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng “lực lượng lao động là dân số
trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp”. Theo quan
điểm của tổng cục thống kê Việt Nam thì “lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số
hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm
(đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước
thời điểm quan sát)”.
Như vậy theo những quan điểm trên thì lực lượng lao động bao gồm cả
những người có việc làm và những người thất nghiệp.
Những người đang có việc làm là những người làm việc trong khoảng thời
gian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả công hoặc
tạm thời nghỉ việc do việc ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặc
ngừng việc tạm thời do thời tiết xấu hay trục trặc dây truyền thiết bị…
Những người thất nghiệp bao gồm những người trong khoảng thời gian xác
định của cuộc điều tra không có việc làm. Nó cũng bao gồm cả những người trước
đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không có thỏa
thuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên, hoặc họ
tạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi mà


9
cơ hội kiếm việc làm rất hạn hẹp. Khối thất nghiệp cũng bao gồm những người
không có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cực tìm kiếm việc
làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ.

1.2.2. Cung lao động
1.2.2.1 Quan điểm về cung lao động
Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động,
những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường
đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác. Nguồn cung này có thể từ
những người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức…Nó được
bổ sung thường xuyên từ đội ngũ những người đến độ tuổi lao động và những người
trên độ tuổi lao động đang làm việc. Cung về lao động phụ thuộc vào quy mô, cơ
cấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa, cơ câu
ngành nghề, sức khỏe…phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách phát
triển nguồn nhân lực của nước đó.
Cũng giống như các yếu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng có
tính hai mặt đó là số lượng và chất lượng của cung lao động. Cung lao động về số
lượng bao gồm dân số đủ 15 tuổi trở lên và có việc làm, những người ngoài độ tuổi
lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Về
mặt chất lượng, cung lao động được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề, sức
khỏe và ý thức kỷ luật của người lao động.

1.2.2.2 Các nhân tố tác động đến cung lao động
Dân số
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Sự biến động của dân số là
kết quả của quá trình nhân học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô,
cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động


10
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nói chung được hiểu là tỷ số phần trăm
giữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động với tổng số dân trong độ tuổi
lao động. Công thức:
Tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động

Số người trong độ tuổi thuộc LLLĐ
=
Tổng số dân trong độ tuổi lao động

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động càng lớn thì cung lao động càng cao.
Giáo dục và trình độ lao động
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm
nâng cao kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời
Giáo dục phổ thông (giáo dục cơ bản) nhằm cung cấp những kiến thức cơ
bản để phát triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đại học vừa giúp
người học có kiến thức đồng thời giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn.
Với mỗi trình độ đào tạo nhất định, người đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhận
những công việc gì. Yêu cầu kỹ năng cũng như yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp
phải như thế nào.
Vai trò của giáo dục đối với nguồn cung lao động được phân tích qua các nội
dung sau đây:
 Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tích lũy vốn con người đặc biệt là tri
thức và sẽ giúp con người sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ do đó thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
 Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng
làm việc với năng suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Vai trò
của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “tỷ suất lợi nhuận
cho giáo dục”. Về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dục cũng giống như lợi
nhuận đầu tư vào bất kỳ dự án nào khác. Đó là tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận từ đầu
tư ở một mức độ giáo dục nhất định với tổng các chi phí khác.
 Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để


11
người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức
khỏe, dinh dưỡng. Chẳng hạn tỷ lệ tử vong của trẻ em giảm xuống, tỷ lệ dinh dưỡng
trẻ em tăng lên, cùng học vấn của cha mẹ biết cách sử dụng những loại thức ăn giàu
dinh dưỡng…Với ý nghĩa trên giáo dục giúp tăng cường chất lượng của nguồn cung
lao động.
Sức khỏe lao động
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội. Sức
khỏe có tác động đến chất lượng của lao động cả hiện tại và tương lai. Người lao động
có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng
cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc.
Sức khỏe là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số nói
chung và chất lượng lao động nói riêng, nó là một trong những chiến lược phát triển
con người ở mỗi quốc gia trên thế giới. Khi nói tới sức khỏe bao gồm 2 khía cạnh:
sức khỏe tinh thần và thể lực con người. Chúng ta thường nói “có sức khỏe là có tất
cả” bởi sức khỏe giúp con người làm việc tốt và chủ động tham gia vào các hoạt
động đời sống kinh tế xã hội, cộng đồng. Vì vậy, muốn phát triển đất nước, trước
hết phải quan tâm đến yếu tố này, lấy con người làm trung tâm. Do đó tầm quan
trọng của sức khỏe là rất lớn do đó phải tập trung về vấn đề này ngay từ đầu.
Yếu tố trách nhiệm và tác phong công việc
Về ý thức trách nhiệm đó là thể hiện mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, với
công việc phải làm. Ý thức trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷ
lại, phải chủ động trong công việc được giao.
Tác phong công việc đó là cách ứng xử, cách làm việc, cách giao tiếp trong
công nghiệp. Đó là sự thể hiện của một cá nhân hay tập thể tới công việc được giao,
nó biểu hiện tính trách nhiệm với công việc. Yếu tố trách nhiệm và tác phong công
việc tác động đến chất lượng cung lao động và là một trong những yếu tố quan
trọng tác động đến hiệu quả công việc.

1.3 Tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân


12
1.3.1 Đo lường giáo dục
Đo lường giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân
tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được
đánh giá (thí sinh).
Việc học và thi trên thế giới đã diễn ra hàng nghìn năm trước đây, nhưng
khoa học về đo lường trong giáo dục thật sự có thể xem như bắt đầu cách đây hơn
một thế kỷ. Và đến thời điểm hiện nay, có hai lý thuyết được áp dụng trong khoa
học đo lường giáo dục là lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (CTT) và lý thuyết trắc
nghiệm hiện đại (IRT).
Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (Classical Test Theory, CTT)
Phát triển từ khoảng đầu thế kỉ XX cho đến thập niên 1970, lý thuyết trắc
nghiệm Cổ điển (CTT) đạt được nhiều thành tựu, tạo cơ sở khoa học để thiết kế các
phép đo tương đối chính xác. Nội dung cơ bản của lý thuyết này là nghiên cứu định
lượng tỉ mỉ các câu hỏi hoặc đề trắc nghiệm dựa vào các tham số đặc trưng như độ
khó của câu hỏi; độ dễ phân biệt của câu hỏi; độ tin cậy của đề trắc nghiệm; độ giá
trị của đề trắc nghiệm. Qua đó đánh giá một đề trắc nghiệm bằng việc phân tích câu
hỏi trắc nghiệm; tính độ tín cậy của đề trắc nghiệm; xem xét giá trị của đề trắc
nghiệm. Mặt khác, lý thuyết cổ điển cũng đưa ra các loại điểm như điểm thô; điểm
tiêu chuẩn tuyệt đối; các loại điểm chuẩn tương đối để đưa ra đánh giá.
Tuy nhiên lí thuyết đó còn bị nhiều hạn chế. CTT không tách biệt được các
đặc trưng của thí sinh độc lập với các đặc trưng của đề trắc nghiệm, đặc trưng này
chỉ có thể giải thích trong mối quan hệ với đặc trưng kia.
Một đặc trưng quan trọng mà ta quan tâm là năng lực của thí sinh. Trong
khuôn khổ CTT, năng lực được diễn tả bởi điểm của thí sinh mà một đề trắc nghiệm
cụ thể đo được. Khi đề trắc nghiệm “khó”, thí sinh sẽ thể hiện năng lực thấp; khi đề
trắc nghiệm “dễ”, thí sinh sẽ thể hiện năng lực cao. Nhưng đề trắc nghiệm thế nào là
“khó” hoặc “dễ”? Độ khó của một câu hỏi được định nghĩa là “tỉ số thí sinh làm
đúng câu hỏi trên nhóm thí sinh tham gia”, tức là độ khó câu hỏi tuỳ thuộc năng lực
của các thí sinh được đo. Thật quá vòng vo! Độ phân biệt của câu hỉ cũng như độ


13
tin cậy và độ giá trị của đề trắc nghiệm cũng được xác định phụ thuộc vào một
nhóm thí sinh cụ thể được đo. Các đặc trưng của câu hỏi và đề trắc nghiệm thay đổi
khi tình trạng thí sinh thay đổi, và các đặc trưng của thí sinh thay đổi khi tình trạng
đề trắc nghiệm thay đổi. Kết quả là rất khó so sánh các thí sinh khi họ làm các đề
trắc nghiệm khác nhau cũng như rất khó so sánh các câu hỏi khi chúng được trả lời
bởi các nhóm thí sinh khác nhau. Cuối cùng có thể nói: về nguyên tắc, không thể
thực hiện các so sánh đó. Dù các chuyên gia đo lường cố gắng tìm cách xử lí khó
khăn đã nêu như thế nào nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề từ bản chất.
Trước hết chúng ta hãy xem xét hậu quả thực tiễn của việc đặc trưng câu hỏi
phụ thuộc vào nhóm thí sinh được đưa vào để xác định chúng. Sự phụ thuộc đó hạn
chế việc ứng dụng các đề trắc nghiệm cho các nhóm thí sinh khác với nhóm mà đã
dựa vào đó để thu các đặc trưng câu hỏi. Hạn chế đó ảnh hưởng nhiều đến việc xây
dựng ngân hàng câu hỏi, công cụ quan trọng để thiết kế đề trắc nghiệm. Thật vậy,
việc mở rộng một ngân hàng câu hỏi sẽ gặp khó khăn nếu các đặc trưng của nhóm
câu hỏi bổ sung thu được nhờ một nhóm thí sinh khác với nhóm thí sinh đã được
dựa vào để xác định các đặc trưng của ngân hàng câu hỏi cũ. Bây giờ hãy xét đến
việc năng lực xác định được của thí sinh phụ thuộc vào đề trắc nghiệm. Rõ ràng khi
ấy rất khó so sánh điểm biểu diễn năng lực của các thí sinh làm các đề trắc nghiệm
khác nhau: các điểm đó được đặt trên các thang khác nhau và không có một mối
quan hệ hàm số nào giữa các thang điểm. Thậm chí khi các nhóm thí sinh được
cho làm các đề trắc nghiệm tương đương vấn đề vẫn tồn tại, vì khi các nhóm thí
sinh có năng lực khác nhau (tức là đề trắc nghiệm là khó hơn đối với một nhóm thí
sinh so với nhóm thí sinh kia), thì các điểm thu được của họ từ các đề trắc nghiệm
đó có sai số khác nhau.
Một hạn chế khác của CTT nằm ở định nghĩa của độ tin cậy. Theo CTT, độ tin
cậy là “tương quan giữa các điểm của hai đề trắc nghiệm tương đương”. Trong thực
tế không thể có các đề trắc nghiệm thoả mãn tiêu chí tương đương. Liên quan với
độ tin cậy là sai số tiêu chuẩn của phép đo năng lực thí sinh: CTT quan niệm các sai
số tiêu chuẩn ấy là như nhau, trong khi thực tế độ chính xác của phép đo năng lực là


14
khác nhau đối với các thí sinh có năng lực khác nhau.
Thêm một hạn chế nữa của CTT là lí thuyết này xem xét việc ứng đáp ở mức
độ đề trắc nghiệm chứ không phải ở mức độ câu hỏi trắc nghiệm. Định nghĩa khái
niệm điểm thực trong trắc nghiệm cổ điển không lưu ý tới việc thí sinh ứng đáp một
câu hỏi như thế nào. Do đó không có cơ sở để xác định xem một thí sinh nào đó ứng
đáp tốt ra sao đối với một câu hỏi đặt ra cho anh ta. Cụ thể hơn, CTT không cho
phép dự báo về một thí sinh hoặc một nhóm thí sinh nào ứng đáp một CH đã cho ra
sao. Câu hỏi “xác suất để một thí sinh ứng đáp đúng một câu hỏi xác định là bao
nhiêu?” là rất quan trọng trong nhiều ứng dụng trắc nghiệm, thì không trả lời được
trong khuôn khổ CTT.
Từ những giới hạn đã nêu trên đây, có thể thấy CTT không cho phép giải
quyết tốt một số vấn đề trong thực tiễn trắc nghiệm – như thiết kế đề trắc nghiệm,
xác định các câu hỏi gây thiên lệch, trắc nghiệm thích ứng, so bằng các điểm trắc
nghiệm.
Lý thuyết hiện đại (Item Response Theory, IRT)
IRT xây dựng các mô hình toán để xử lý dữ liệu dựa trên việc nghiên cứu mọi
cặp tương tác nguyên tố “thí sinh – câu hỏi” (TS - CH) khi triển khai một trắc
nghiệm khách quan. Mỗi TS đứng trước một câu hỏi sẽ ứng đáp như thế nào, điều
đó phụ thuộc vào năng lực tiềm ẩn của thí sinh và các đặc trưng của câu hỏi.
Hiện nay có 3 mô hình toán phổ biến nhất trong IRT: mô hình 1 tham số (mô
hình Rasch) chỉ xét đến độ khó của câu hỏi, mô hình 2 tham số có xét đến độ phân
biệt của câu hỏi, và mô hình 3 tham số xét thêm mức độ đoán mò của thí sinh khi
trả lời câu hỏi.
So với lý thuyết trắc nghiệm cổ điển, Lý thuyết trắc nghiệm hiện đại với IRT
có những ưu việt quan trọng.
Trong lý thuyết trắc nghiệm cổ điển cổ điển độ khó, độ phân biệt của các câu
hỏi tính được sẽ phụ thuộc vào mẫu thí sinh được chọn để thử nghiệm, và năng lực
xác định được của thí sinh phụ thuộc vào đề trắc nghiệm mà thí sinh làm. Với IRT,
các tham số đặc trưng của câu hỏi (liên quan đến độ khó, độ phân biệt, mức độ đoán


15
mò) không phụ thuộc mẫu thử để định cỡ câu hỏi (sample-free), và năng lực đo
được của thí sinh không phụ thuộc vào bài trắc nghiệm cụ thể (item-free) được lấy
từ ngân hàng câu hỏi (NHCH) đã được định cỡ. Như vậy, theo IRT, mỗi câu hỏi có
các thuộc tính đặc trưng cho nó, và mỗi thí sinh ở một trình độ nào đó có một năng
lực tiềm ẩn xác định, các thuộc tính và đặc trưng này không phụ thuộc vào phép đo,
hoặc nói cách khác, chúng là các bất biến (invariance). Cũng tương tự như trong
phép đo độ dài: mỗi cái thước dùng để đo có kích thước và kiểu khắc độ xác định,
mỗi vật để đo có chiều dài xác định, phép đo là sự so sánh cái thước với vật được đo
để biết được chiều dài vốn có của vật được đo, các phép đo khác nhau không được
làm thay đổi các thuộc tính vốn có của cái thước cũng như độ dài của vật được đo.
Thành tựu căn bản nói trên của IRT cũng đem lại số ưu điểm quan trọng cho
trắc nghiệm hiện đại. IRT cho phép tính các hàm thông tin của từng câu hỏi và của
cả đề trắc nghiệm và sai số chuẩn của phép đo theo các mức năng lực tiềm ẩn chứ
không phải một sai số chuẩn trung bình chung cho cả phép đo như trắc nghiệm cổ
điển. Từ đó có thể thiết kế một đề trắc nghiệm cho phép đo chính xác khoảng năng
lực nào mà ta mong muốn.
Hơn nữa, IRT cho phép thiết kế các đề trắc nghiệm với mức độ tương đương
rất cao để đảm bảo các đề trắc nghiệm khác nhau có thể cho cùng một kết quả như
nhau khi đánh giá năng lực của một thí sinh nào đó.
Các thành tựu quan trọng đó của IRT đã nâng độ chính xác của phép đo lường
trong tâm lý và giáo dục lên một tầm cao mới về chất so với các lý thuyết đo lường
cổ điển. Từ thành tựu tổng quát đó của IRT, người ta có thể đưa ra các quy trình để
xây dựng NHCH (item banking), phân tích các kết quả TNKQ để tu chỉnh NHCH,
chủ động thiết kế các đề trắc nghiệm (ĐTN) theo các mục tiêu mong muốn.
Trong nghiên cứu giáo dục hiện đại
Trong thực tiến nghiên cứu, giáo dục đưuọc đo bằng nhiều thước đo hay các
biến đại diện khác nhau. Nếu xét giáo dục chung của địa phương hay của quốc gia
thì giáo dục có thể đưuọc đo bằng:
- Tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn. Chỉ tiêu này đã đưuọc sử dụng rộng rãi


16
trong việc tính toán chỉ số giáo dục và kể cả là đã từng được sử dụng trong tính toản
chỉ số phát triển con người trước đây.
- Tỷ lệ học sinh nhập học trong độ tuổi. Chỉ tiêu này đưuọc đo bằng tỷ số giữa
số trẻ em trong độ tuổi đi học (đến trường) với tổng số trẻ em trong độ tuổi. Cũng
tương tự tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn, tỷ lệ học sinh nhập học trong độ tuổi
cũng đã từng được sử dụng trong tính toán chỉ số phát triển con người.
Ở giác độ cá nhân, giáo dục của cá nhân được đo bằng một số chỉ tiêu, trong
đó hai chỉ tiêu quan trọng đó là:
- Bằng cấp cao nhất mà cá nhân nhận được. Chỉ tiêu này sẽ xác định cấp học
cao nhất mà mỗi cá nhân thu được. Tuy nhiên, cách đo lường giáo dục này không
thể phản ánh chính xác giáo dục của cá nhân. Chẳng hạn, có nhiều cá nhân đã học
hết lớp 11 hoặc 12 nhưng không thi đưuọc bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông thì
lại chỉ đưuọc xếp vào nhóm có bằng cấp cao nhất là Trung học cơ sở, nhưng thực
chất các cá nhân này có giáo dục cao hơn nhiều so với bằng cáp mà họ giữ.
- Số năm học của cá nhân. Đây là một chỉ tiêu phản ánh chính xác hơn giáo
dục của mỗi cá nhân. Chỉ tiêu này được đo bằng số năm học thực tế mà mỗi các
nhân đến trường. Đây là chỉ tiêu quan trọng và phản ánh tốt về thực tế giáo dục của
mỗi cá nhân và chỉ tiêu này hiện đang được sử dụng để tính số năm học trung bình
của dân số trong tính toán chỉ số giáo dục, một bộ phận cấu thành của chỉ số phát
triển con người.

1.3.2 Đo lường tham gia lực lượng lao động
Đo lường tham gia lực lượng lao động được thể hiện qua tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động. Tỷ lệ này được xác định bởi các công thức sau:
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô) là chỉ tiêu tương
đối, biểu hiện bằng số phần trăm những người hoạt động kinh tế (lực lượng lao
động - LLLĐ) chiếm trong tổng dân số, tỷ lệ này bị ảnh hưởng mạnh bởi cấu trúc
tuổi của dân số. Tỷ lệ này đưuọc tính theo công thức sau:
Tỷ lệ tham gia lực lượng

=

Số người thuộc LLLĐ x 100


17
Tổng dân số

lao động thô

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung) là trường
hợp đặc biệt của “Tỷ lệ tham gia LLLĐ thô” khi chỉ tính những người trong độ
tuổi có khả năng lao động. Ví dụ, luật Lao động quy định giới hạn tuổi tối thiểu là
15 tuổi, thì
Tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động chung

=

Dân số 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ x 100
Dân số 15 tuổi trở lên

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động
trong độ tuổi lao động)
Tỷ lệ tham gia LLLĐ trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi lao
động) là số phần trăm những người trong độ tuổi lao động tham gia lao động chiếm
trong tổng dân số trong độ tuổi lao động. Luật Lao động hiện hành của Việt Nam
quy Định "tuổi lao động" bao gồm các độ tuổi từ 15 đến hết 59 tuổi đối với nam và
từ 15 đến hết 54 tuổi đối với nữ (theo khái niệm "tuổi tròn"). Số còn lại là "ngoài
tuổi lao động".
Tỷ lệ tham gia lực lượng

Số người trong độ tuổi thuộc LLLĐ x 100
Tổng dân số trong độ tuổi lao động

=
lao động trong độ tuổi
lao đọng
Tỷ lệ tham gia LLLĐ (tỷ lệ hoạt động kinh tế) đặc trưng theo giới tính

Cả ba số đo về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế (tỷ lệ hoạt động thô, tỷ lệ hoạt
động chung và tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi lao động) thường tính tách riêng cho
nam và nữ. Khi đó, các tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ tham gia LLLĐ (tỷ lệ hoạt động
kinh tế) đặc trưng theo giới tính.

1.3.3 Đo lường cung lao động
Theo kinh tế học cổ điển: Tiền công thực tế càng cao thì lượng cung lao
Tiền
công
động càng
tăng.
Đường cung lao động vì thế là một đường dốc lên.
thực tế

Lượng cung
lao động


18

Hình 1.1: Cung lao động theo trường phái kinh tế học cổ điển

Theo kinh tế học của Keynes: Trong thời gian ngắn hạn, người lao động
ít điều kiện tìm được việc làm và do đó ít điều kiện mặc cả tiền công. Do đó,
trong ngắn hạn, lượng lao động cân bằng là lượng do nhà sản xuất quy định.
Người lao động phải chấp nhận lượng đó bất kể mức tiền công ra sao. Nói cách
khác, trong ngắn hạn, lượng cung lao động không phản ứng với mức tiền công
thực tế, nên đường cung hoàn toàn không co giãn. Trong dài hạn, đường cung sẽ
dốc lên.

Tiền công
thực tế

Lượng
cung lao
động
Hình 1.2: Cung lao động của Keynes

Theo kinh tế học tân cổ điển: Đường cung lao động là một đường uốn
ngược (hình chữ S). Số giờ trong một ngày là không đổi, nếu số giờ lao động nhiều
thì số giờ nghỉ ngơi là ít. Khi thu nhập ở mức thấp, người ta phải lao động và hy
sinh nghỉ ngơi. Vì thế, khi tiền công thực tế ở một khoảng nhất định, đường cung
dốc lên. Tuy nhiên khi thu nhập cao hơn, người lao động lại muốn nghỉ ngơi nhiều
hơn, lượng cung lao động (đo bằng số giờ) lại giảm đi và kết quả có một đường


19
cong uốn ngược
Tiền công
thực tế

Lượng
cung lao
động
Hình 1.3: Cung lao động của Tân cổ điển

Trong thực tế nghiên cứu về kinh tế lao động, cung lao động thể hiện thời gian
làm việc của cá nhân trong mỗi điều kiện nhất định. Đo lượng thời gian làm việc
của cá nhân có thể đưuọc đo bằng số tháng làm việc trong năm (ví dụ như công
nhân trong các doanh nghiệp dầu khí, giáo dục,…) hoặc đo bằng số ngày làm việc
trong tuần hay tháng, hoặc số giờ làm việc theo ngày (ví dụ các công việc trả lương
theo giờ).

1.3.4. Giáo dục tác động tới sự tham gia lực lượng lao động
Sự tham gia lực lượng lao động của một cá nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố khác nhau. Trong đó có một số yếu tố tác động đó, giáo dục là một chỉ tiêu quan
trọng. Đây là yếu tố quan trọng tác động đến sự tham gia vào lực lượng lao động
của một cá nhân. Mỗi cá nhân có trình độ giáo dục khác nhau dẫn đến yêu cầu đối
với công việc là khác nhau liên quan đến tính chất công việc, tiền lương, thời gian
làm việc…Vì vậy, có thể nhận thấy giáo dục ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực
lượng lao động của cá nhân.
Đặc điểm của cá nhân cũng ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực lượng lao
động của một cá nhân. Cùng một trình độ giáo dục như nhau, nhưng việc có tham
gia vào lực lượng lao động hay không còn phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi cá nhân
như người đó có yêu thích lao động hay lười biếng hoặc thể trạng sức khỏe của từng


20
người, hay sở thích của mỗi cá nhân… Bên cạnh đó, đặc điểm của hộ gia đình cùng
với giáo dục của cá nhân có sự ảnh hưởng tới sự tham gia lao động. Mỗi một gia
đình có một phong cách sống và truyền thống khác nhau. Vì vậy, mặc dù một cá
nhân có trình độ giáo dục, có sự yêu thích đối với một ngành nghề nhưng do truyền
thống gia đình hoặc phong cách sống của gia đình dẫn đến sự lựa chọn khác của cá
nhân đó.
Trong các nghiên cứu trước đây về giáo dục và sự tham gia lao động, các yếu
tố trên đều tác động đến xác suất tham gia cung lao động của cá nhân. Để định
lượng được giáo dục và các yếu tố còn lại tác động đến cung lao động như thế nào,
cá nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau chăng hạn như mô hình ước
lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường, mô hình logit, hoặc mô hình
probit.
Kết quả thực nghiệm thì cũng phân tán, có kết quả nghiên cứu cho thấy mối
quan hệ thuận giữa giáo dục và sự tham gia lao động. Điều này có nghĩa là giáo dục
càng cao, các cá nhân có xác suất tham gia lực lượng lao động lớn hơn trong điều
kiện các yếu tố khác không thay đổi và ngược lại. Trong thực nghiệm cũng có
trường hợp giáo dục không tác động gì tới quyết định làm việc của cá nhân. Và
trong nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm ra các tường hợp giáo dục có tác động tiêu
cực tới xác xuất tham gia lực lượng lao động của cá nhân. Điều này có nghĩa là giáo
dục càng cao thì xác xuất tham gia vào lực lượng lao động càng nhỏ.

1.3.5 Giáo dục tác động tới cung lao động
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với sự phát
triển của kinh tế - xã hội. Ngay cả khi khoa học công nghệ phát triển đến trình độ
cao, chi phối mọi lĩnh vực đời sống thì cũng không thể thay thế được vai trò của
nguồn lực lao động, nhân tố của sự sáng tạo và sử dụng công nghệ. Lao động chính
là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Do
vậy, có thể nhận thấy lao động là yếu tố quan trọng để phát triển xã hội loài người.
Cũng giống như sự tham lực lượng lao động, thì cung lao động cũng bị chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố: giáo dục, đặc điểm cá nhân, đặc điểm gia đình và thị trường


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×