Tải bản đầy đủ

Chat ket dinh cho be tong

Chất kết dính cho bê tông đầm lăn và làm phụ gia cao cấp
cho xi măng Portland hỗn hợp
Để hạ thấp giá thành và rút ngắn thời gian thi công đê đập các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, người ta
đã bắt đầu sử dụng giải pháp bê tông đầm lăn tại các vị trí với khối lượng cho phép. Giải pháp này
không những tiết kiệm được một khối lượng khá lớn xi măng portland toả nhiệt ít mà còn đẩy nhanh
tiến độ thi công.Tuy nhiên việc sử dụng tro bay nhiệt điện hay đá bazan Mu rùa Bà Rịa làm phụ gia
hỗn hợp cho chất kết dính có mác ổn định để thi công bê tông đầm lăn không phải là dễ dàng thực
hiện. Vì vậy nó đang còn là vấn đề tranh cãi, bởi chất lượng của tro bay nhiệt điện và phụ gia bazan
Mu rùa đều không ổn định, nhất là hàm lượng than chưa cháy hết của tro, độ hoạt tính hút vôi cũng
như hàm lượng kiềm (K2O + Na2O) của nó và của đá bazan đều không phải là hằng số. Đó là lý do tại
sao trong công nghệ sản xuất xi măng portland hỗn hợp người ta phải kiểm tra chất lượng của phụ
gia và của clinker từng ca, thậm chí cả từng giờ theo phương pháp để thay đổi tỷ lệ pha trộn của
chúng.
Chất kết dính cho bê tông đầm lăn của các công trình hầu như vĩnh cửu như thuỷ điện Sơn La…phải
có mác ổn định. Một trong các sản phẩm đó là chất Romans –belit được sản xuất theo công nghệ
mới.
Do chất lượng ổn định nên bột mịn chất kết dính Romans-belit (Ro-belit) hoặc clinker của nó còn
được dùng làm phụ gia cao cấp cho sản xuất xi măng portland hỗn hợp.
Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, chất kết dính Ro-belit sản xuất theo công nghệ cũ tuỳ thuộc vào trị số
modun thủy lực (MH=1,1 và 1,7) chỉ có thể đạt mác 10-20 N/mm 2, ở đây:
MH = (CaO + MgO)/(SiO2+ Al2O3 + Fe2O3).

Nhưng sản xuất theo công nghệ mới cường độ của nó có thể đạt tới 25-30N/mm 2. Ở các tỉnh Quảng
Trị, Thừa Thiên - Huế có một nguồn nguyên liệu – đá vôi sét (mergel) rất tiện lợi cho sản xuất loại chất
kết dính này…Nguồn nguyên liệu này được phân bổ rất lớn tại các vùng Long Thọ, Văn Xá, Đồng
Lâm, Phong Sơn, Phong Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế và dọc bờ Nam sông Hiếu ở Cam Lộ,
Quảng Trị. Tổng trữ lượng của nó đến 1,3 tỷ tấn. Hiện nay các nhà máy xi măng Long Thọ, Văn Xá
(Luksvaxi) đã và đang bóc loại bỏ các vỉa đá vôi sét nghèo canxi (CaO<46%) nhằm tuyển chọn các
vỉa có CaO = 47-51% để khai thác cho sản xuất. Trong quá trình tuyển chọn, thâm chí các nhà máy xi
măng này đã phải bóc xúc loại đá nghèo canxi lên ô tô rồi mang đi đổ thành bãi đá thải trên núi theo
quy định của tỉnh Thừa Thiên - Huế về bảo vệ môi trường. Thật là lãng phí vô cùng, vì chính đây là
nguồn nguyên liệu sản xuất chất kết dính Ro-belit dùng cho bê tông đầm lăn và làm phụ gia cao cấp
cho xi măng portland hỗn hợp.
- Công nghệ mới sản xuất clinker chất kết dính Ro-belit:
Trước tiên chúng ta cần thống nhất rằng, thành phần khoảng chủ yếu của ckinker Romans là khoáng
belit được hoạt hoá từ β – C 2S lên các pha đồng hình α’-C2S và α – C2S và các khoáng chảy dạng
Cn(A,F) ở đây n<2 nếu trị số của modun alumin (MA) bằng hoặc nhỏ hơn 0,64.
Tuỳ thuộc vào vị trí số modun kiềm tính của nguyên liệu hoặc hệ số bảo hoà vôi (KH) mà clinker Robelit còn có thể có một tỷ lệ nhỏ các khoáng vollastonit (CS), oxit canxi tự do (f.CaO) và MgO hoặc
khoáng montishelit (CMS). Nếu MA>0,64 thì thành phần khoáng clinker Ro-belit ngoài C 2S ở dạng α’-,
α –β và –C2S còn có các khoáng chảy là C3A và C4 AF
nếu phối liệu bột sống được nung ở nhiệt độ 1300-1350 oC.
Chúng ta khảo sát một số mẫu đá vôi sét nghèo canxi mà mỏ đá vôi Luksvaxi đã loại bỏ ra để xem
khả năng sử dụng để sản xuất chất kết dính Ro-belit theo công nghệ mới.
Các số liệu ở Bảng 1 dưới đây cho thấy rằng: thành phần hoá của các mẫu đá vôi sét tải ra từ mỏ đá
của nhà máy xi măng Văn Xá (Luksvaxi) khá nghèo CaO, kể cả mẫu trung bình M5, trong đó mẫu M2
là mẫu nghèo canxi nhất. Mẫu M1 có hàm lượng CaO khá hơn nhưng cũng chỉ có 42,56%. Nhưng tất
cả 4 mẫu đều thoả mãn cho yêu cầu kỹ thuật sản xuất chất kết dính Ro-belit vì modun thuỷ lực (MH)
đều lớn hơn 1. Tuy nhiên trị số modun MA của cả 5 mẫu đều.

1


Bảng 1.
TT

Tên vật tư và chi phí

1

Đá vôi sét nghèo CaO
(42±3%)
Quặng Laterit (3% theo đá


vôi)
Thạch cao vụn (1% theo đá
vôi)
Than cám 5 Quảng Ninh
Gạch Samốt A (kg)
Bi đạn và phụ tùng (kg)
Điện năng (kwh)
Khấu hao bổ sung (VNĐ)
Tiền lương
Quản lý phí (VNĐ)
Tổng:

2
3
4
5
6
7
8
9
10

Định mức cho
1T
1T
clinker
CKD
1,2T
0.15
(15%)
0.036T
0

Đơn giá
VNĐ/kg

Tiền cho
1T CKD

12000

Tiền cho
1T
clinker
14400

60000

2160

0

1800

0.012T

0.02

400000

4800

6000

0.2T
0.5T
0.5
45
20000
30000
10000

0
0
0.5
30
10000
15000
5000

400000
15000
15000
1000

80000
7500
7500
45000
20000
30000
10000
221360

0
0
7500
30000
10000
15000
15000
77300

lớn hơn 2. Vì vậy nếu đem bột sống của các mẫu đá này nung ở nhiệt độ 1250 – 1280 oC thì
ngoài khoáng belit (C2S) và vollastonit (CS) chắc chắn sẽ có khoáng CA, CF và một tỷ lệ nhỏ
f.CaO. Để hạn chế tối đa các khoáng CS và f.CaO, nhiệt độ được chọn cho sản xuất clinker
Ro-belit từ nguyên liệu trên phải là 1300 – 1350oC.
Nhưng tăng nhiệt độ nung chưa đủ, chúng tôi đưa vào liệu sống 1-1,5% thạch cao vụn của bãi
thạch cao Đông Hà, Quảng Trị để hoạt hoá khoáng belit va giảm tỷ lệ f.CaO. Như vậy công
nghệ sản xuất clinker và chất kết dính Ro-belit có thể tóm tắt như sau:
1. Khảo sát thăm dò tỷ mỷ chất lượng và trữ lượng các vỉa đá vôi sét theo chiều rộng, chiều sâu
để lập phương án khai thác phối hợp nhằm đồng nhất sơ bộ tại mỏ về chất lượng, để dành các vỉa đá
có hàm lượng CaO ≥ 47% cho dự án đầu tư sản xuất xi măng portland thông thường (OPC). Trường
hợp đã có thăm dò tỷ mỷ như ở các nhà máy xi măng Long Thọ, Văn Xá…thì thông qua giám đốc nhà
máy hoặc chủ mỏ để trực tiếp phối hợp khai thác hoặc xin mua loại đá vôi sét nghèo canxi (CaO <
47%) cấp cho nhà máy sản xuất chất kết dính Ro-belit.
2. Sử dụng dây chuyền thiết bị xi măng lò đứng đã hết khấu hao hoặc đầu tư xây lắp mới dây
chuyền lò quay mini công suất 35-50vạn tấn/năm (tính theo xi măng portland) để sản xuất clinker và
chất kết dính Ro-belit. Trong trường hợp sử dụng dây chuyền xi măng lò đứng đã hết khấu hao thì
nên có đầu tư bổ sung cho hệ thống bảo vệ môi trường sản xuất và tăng khả năng kiểm tra chất
lượng sản phẩm và điều khiển vận hành.
3. Đá vôi sét chất lượng phù hợp được khai thác đưa về máy đập búa hoặc đập hàm hoặc đập
xung lực năng suất phù hợp rồi đánh thành 2 đống (trường hợp dùng dây chuyền lò quay mini) hoặc
sử dụng băng tải cao su và gàu nâng đưa lên đổ vào 3-4 silô chứa (đôii với dây chuyền lò đứng). Các
nguyên liệu điều chỉnh và phụ hoạt hoá khoáng belit cũng phải qua máy đập hàm năng suất phù hợp
rồi đưa lên chứa tương ứng tỷ lệ sử dụng. Cần định lượng dành cho cân các loại phụ gia này phải
đảm bảo mức độ chính xác cao (≥ 0,5%). Cân định lượng dành cho cân đá vôi sét phải là cân có mức
độ chính xác đến ± 1%.
Nguyên liệu chính và các nguyên liệu điều chỉnh (quặng Laterit, vụn thạch cao hoặc thạch cao thải
thừ khuôn đúc rót sứ) sau khi cân xong được băng tải tổng hợp chuyển đến cấp cho máy nghiền liệu
sống - phối liệu. Bột liệu sống cho dây chuyền lò đứng thường là liệu đen vì phải nghiền chung với
một tỷ lệ than cám 4b hoặc cám 5 tính theo nhiệt năng nung luyện clinker (ở nhiệt độ 1300 ± 20 oC).

2


4. Thành phần liệu sống phối liệu (liệu trắng) gồm 3 thành phần:
- Đá vôi sét (CaO = 42 ± 3%) 95-96%, quặng Laterit 2,5-3% và 1-1,5% thạch cao vụn hoặc thạch cao
phế thải từ khuôn mẫu.
- Hoặc 95-96% đá vôi sét trên với 2,5-3% đá bazan đen và 1-1,5% thạch cao vụn. Độ mịn của liệu
sống phải đạt 15 ± 1% trên sàng 0,09mm. Độ ẩm của liệu sống không vượt qua 1,5%.
- Quá trình đồng nhất đá vôi sét và các phụ gia điều chỉnh nhằm ổn định các chỉ tiêu kỹ thuật chế tạo
clinker như hệ số bảo hoà vôi (KH) và modun silic (Ms), modun nhôm (MA). Tuỳ thuộc vào chất lượng
của đá vôi sét sau khi đồng nhất, cần cố gắng giữ vững các chỉ tiêu kỹ thuật chế tạo clinker như sau:
KH ≥ 0,67; Ms ≥ 1,5; MA = 1,5 – 2,1.
- Bột sống phối liệu được chứa vào 2-3 silô để có điều kiện đồng nhất (đối với dây chuyền xi măng lò
đứng) hoặc 1 silô có sức chứa để vận hành lò trong 3-5 ngày đêm trong trường hợp dây chuyền sản
xuất là lò quay mini khô.
5. Nhiên liệu để đốt lò là loại than cám 4b hoặc cám 5 Quảng Ninh. Nhiệt năng và hàm tro của các
loại than này là 4800-5500Kcal/kg và hàm tro là 22-24%.
Độ ẩm của viên liệu đen cấp cho lò đứng là 11-13%, kích thước viên liệu là 5-20mm. Liệu sống cấp
cho lò quay khô mini là liệu trắng, ẩm <1,5%. Mức tiêu tốn nhiệt năng tương ứng với nhiệt độ nung
clinker Ro-belit. Đối với lò quay khô mini là 650 -680 Kcal/kg clinker, đối với lò đứng là 800-850Kcal/kg
clinker.
6. Chỉ tiêu chất lượng clinker Ro-belit ra lò là:
- Trọng lượng thể tích (dung trọng) của một lít clinker: 1100 – 1300kg;
- Hàm lượng canxi tự do (f.CaO)≤ 3%;
- Màu sắc clinker: đen, xám đen, nâu đen;
- Tỷ lệ clinker lọt sàng 3mm không vượt qua 5 -7%.
7. Thành phần khoáng của clinker Ro-belit và công thức tính toán:
C3O = 4,07.CaO – 7,60. SiO2 – 6,72 Al2O3 – 1,43.Fe2O3 – 2,85 SO3 (%) (1)
và C3S = 3,8.(3KH-2) SiO2 (%) (2).
Từ 2 công thức trên ta suy ra rằng: clinker Ro-belit có chứa khoáng C 3S chỉ khi nào hệ số bảo hoà vôi
(KH) hoặc hàm lượng CaO (%) thoả mãn các biểu thức sau:
Hoặc KH > 3,2 hay KH > 0,667 Hoặc CaO > (7,60. SiO 2 + 6,72. Al2O3 + 1,43. Fe2O3 + 2,85.SO3) /4,07.
Trường hợp KH ≤ 0,667 hoặc CaO ≤ 7,60. SiO 2 + 6,72. Al2O3 + 1,43.Fe2O3 + 2,85. SO3/4,07 thì clinker
trên không có khoáng alit.
C2S = (1 – KH). 8,60. SiO2 hoặc C2S = 2,867. SiO2 (3)
C3A = 2,65.(Al2O3 – 0,64.Fe2O3) = 2,65 2,65.Al2O3 – 1,692.Fe2O3 (4)
C4AF = 3,037. Fe2O3 (5).
Tuy nhiên, các khoáng chảy C3A và C4AF chỉ có mặt trong các trường hợp modun M A > 0,64. Trường
hợp MA= 0,64 thì các khoáng chảy của clinker Ro-belit là C 2A và C2F. Nhưng trường hợp này hiếm khi
gặp. Ngược lại, nếu MA < 0,64 thì các khoáng chảy của clinker này sẽ là CA và CF hoặc dung dịch
rắn của chúng. Ngoài ra nếu nhiệt độ nung bột sống phối liệu thấp hơn 1300 oC thì clinker Ro-belit sẽ
có thêm các khoáng vollastonit (Cs) và f.CaO. Dĩ nhiên clinker Ro-belit được chế tạo trong tất cả các
trường hợp trên vẫn có một tỷ lệ nhỏ MgO ở thể tự do, vì một phần của MgO sẽ tham gia vào các
khoáng khác.
Công thức tính các khoáng CA và CF sẽ như sau:
CA = 1,549 CaO và CF = 1,35. Fe2O3 (6).
Ở đây 1,549 và 1,35 là tỷ lệ tạo khoáng CA và CF của 1% Al 2O3 và 1% của Fe2O3 tương ứng của
clinker trên.

3


Cần lưu ý rằng, việc đưa vào phối liệu bột sống 1–1,5% thạch cao vụn hoặc thạch cao phế thải từ
khuôn mẫu đúc rót gốm sứ không nhằm mục đích khoáng hoá mà nhằm mục đích hoạt hoá kháng
belit từ dạng ít hoạt tính β–C2S lên các dạng đồng hình có hoạt tính cao hơn như α’– C2S và α–C2S.
8. Độ mịn, tỷ lệ thạch cao và chất lượng cơ lý tính của chất kết dính Ro-belit:
- Độ mịn của chất kết dính (CKD) Ro-belit không bé hơn 2500Blaine hay bằng 13-15 % trên sàng
0,08mm.
- Tỷ lệ thạch cao của CKD loại này không lớn hơn (~ 2%) vì tổng các khoáng chảy dạng CA – C 3A của
clinker Ro-belit không lớn (thường nhỏ hơn 12%) mà một phần của chúng để làm nhiệm vụ kích thích
hoạt tính của các khoáng C2S, CS và CnFm.
- Thời gian đông kết của CKD loại này tương đối chậm: bắt đầu không sớm hơn 3 giờ và kết thúc
không vượt qua 6 giờ.
- Cường độ nén 7 ngày (R7) của CKD Ro-belit đóng rắn trong điều kiện tiêu chuẩn không ít hơn
1N/mm2 và R28 không ít hơn 20 – 25N/mm2.
9. Phạm vi sử dụng của clinker và CKD Ro-belit:
Do CKD có tính cơ lý hoá như trên nên phạm vi sử dụng của nó như sau:
- Dùng làm vữa xây trát trong xây dựng;
- Dùng đúc đổ bê tông mác M.10 và M.15 cho sân trường, đường làng, gõ xóm…
- Dùng để phối với cát vàng, mạt đá các loại để sản xuất gạch blốc không nung, ngói xi măng, đúc
các loại gạch trang trí, thông gió…
Clinker Ro-belit dùng làm phụ gia cao cấp cho sản xuất xi măng portland hỗn hợp (PCB) các loại mác:
Đối với PCB -30 có thể pha với clinker PC-50 đến 60-70%;
Đối với PCB – 40 có thể pha tới 40 – 45%;
Đối với PCB -50 có thể pha tới 20%.
10.Ưu việt của phụ gia và CKD Ro-belit so với các loại phụ gia khoáng khác:
Trừ xỉ lò cao loại I là loại phụ gia duy nhất có thể pha tới 70% với clinker xi măng portland mác cao và
có sự kích thích bằng sunfat để sản xuất loại xi măng portland-xỉ chịu nhiệt và bền môi trường axit,
còn tất cả các loại phụ gia khoáng khác đều thua kém phụ gia cao cấp bằng clinker và CKD Ro-belit.
Ưu việt của chủng loại phụ gia này được tóm tắt bằng những đặc tính kỹ thuật sau đây:
- Độ hoạt tính của phụ gia Ro-belit: mức độ hoạt tính của phụ gia loại này trong điều kiện tiêu chuẩn
đã đạt 20-25N/mm2 mà không cần giải pháp kích thích nào. Chính nhờ mức độ hoạt tính thuỷ lực này
đã cho phép pha tới 70% đối với xi măng PCB -30 với clinker hoặc xi măng gốc có mác PC-50.
- Phụ gia hoặc CKD Ro-belit làm tăng độ bền sunfat và hạ thấp độ toả nhiệt của xi măng PCB: do có
trị số modun thuỷ lực thấp (M H = 1,3 – 1,7) và hệ số bão hoà vôi nhỏ (K H = 0,55 – 0,80), hàm lượng
các khoáng C3S và C3A không có hoặc rất ít nên clinker và CKD loại này khi pha trộn với clinker hoặc
xi măng portland PC-50 với tỷ lệ phù hợp thì xi măng hỗn hợp (PCB) của chúng sẽ biến thành xi
măng portland bền sunfat loại vừa hoặc loại cao, hoặc trở thành chủng loại xi măng ít toả nhiệt. Do đó
xi măng portalnd hỗn hợp với phụ gia Ro-belit có thể sử dụng để thay thế xi măng portland bền sunfat
và xi măng ít toả nhiệt, tức là cho khả năng sử dụng để thi công các công trình tiếp xúc với môi
trường nước có nồng độ sunfat (SO42-, Mg2+) cao và dùng để đúc đổ bê tông khối lớn
- Tổng hàm lượng kiềm K2O + Na2O (R2O) của clinker và CKD Ro-belit rất thấp (<0,7%), thậm chí thấp
hơn hàm lượng kiềm của clinker portland, vì trong phối liệu sản xuất CKSD loại này sử dụng rất ít các
phụ gia điều chỉnh và than cám 5 Quảng Ninh (xem bảng sau) là những nguyên liệu có hàm lượng
kiềm lớn hơn đá vôi. Như vậy ngoài đá vôi ra, phụ gia cao cấp bằng clinker hoặc CKD Ro-belit có
hàm lượng kiểm R2O nhỏ nhất so với các loại phụ gia khoáng khác và nhỏ hơn cả clinker PC -50.
Trong lúc đó hàm lượng R2O của clinker PC-50 có nhà máy tới 1%, các phụ gia như tro xỉ nhiệt điện,
trepel tạp Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Định, tro núi lửa Quảng Trị có hàm lượng R 2O tới 2%, đá
bazan mu rùa Bà Rịa – Vũng Tàu có R 2O tới 3%, còn đá bazan Tây Nghệ An, Nông Cống Thanh Hoá,
Vĩnh Linh Quảng Trị, Sơn Tịnh Quảng Ngãi có hàm lượng R2O tới 5 -6%...

4


Những tác hại của kiềm R 2O trong xi măng và bê tông đã được mô tả trong các tài liệu. Vì vậy việc
chọn lựa có thể loại phụ gia khoáng ít kiềm để pha vào xi măng và CKD cho bê tông đầm lăn của các
công trình lớn như đê đập thuỷ điện, thuỷ lợi, đê ngăn mặn…là rất cần thiết.
Với những ưu việt trên, tôi cho rằng việc đầu tư sản xuất và tiêu thụ chủng loại phụ gia CKD Ro-belit
không những có hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo chất lượng lâu dài cho các công trình xây dựng.
11. Ước tính giá thành và hiệu quả kinh tế đầu tư sản xuất, tiêu thụ chất kết dính Ro-belit
11.1. Giá thành trước thuế và hiệu quả kinh tế tổ chức sản xuất CKD Ro-belit trên dây chuyền
lò đứng công suất 8,5 vạn T/năm đã hết khấu hao.
Như vậy giá thành trước thuế 1 tấn clinker làm phụ gia cho xi măng PCB là 221.360 đ/T; còn giá thành
trước thuế 1 tấn CKD Ro-belit bao gồm 83% clinker, 2% thạch cao và 15% đá vôi sét nghèo canxi
(CaO <42%) là 261.029 đ/T.
Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đến 40% clinker Ro-belit làm phụ gia cho sản xuất xi măng PCB –
40 so với sử dụng 15% đá bazan làm phụ gia cho sản xuất xi măng PCB-40 cùng loại clinker được
ước tính cho trường hợp này như sau:
- Giá clinker PC-50 là 450.000đ/T;
- Giá phụ gia bằng clinker Ro-belit là: 221.360đ/T;
- Giá phụ gia bằng đá bazan đã qua đập nhỏ là: 60.000đ/T (chưa tính phí vận tải).
- Tỷ lệ pha clinker Ro-belit trong sản xuất PCB – 40 là 40%.
- Tỷ lệ pha đá bazan trong sản xuất xi măng PCB cùng mác là 15%.
Vậy hiệu quả kinh tế sử dụng phụ gia bằng clinker Ro-belit là (40-50)* 450.000-(40-15)*221.360 =
56.360đ/T.
11.2. Giá thành trước thuế và ước tính hiệu quả kinh tế của đầu tư nhà máy mới sản xuất
clinker CKD Ro-belit bằng công nghệ lò quay:
- Công nghệ và quy mô đầu tư: công nghệ sản xuất là công nghệ lò quay mini khô, thiết bị của Trung
Quốc. Quy mô đầu tư là 50vạn tấn phụ gia cao cấp/năm hay 35 vạn tấn/năm tính theo sản lượng xi
măng PC – 50.

- Định mức vật tư và chi phí sản xuất được thống kê trong bảng dưới đây.
TT

Tên vật tư và chi phí

1

Đá vôi sét nghèo CaO
(42±3%)
Quặng Laterit (3% theo đá
vôi)
Thạch cao vụn (1% theo đá
vôi)
Than cám 5 Quảng Ninh
Gạch Samốt A (kg)
Bi đạn và phụ tùng (kg)
Điện năng (kwh)
Khấu hao bổ sung (VNĐ)
Tiền lương
Quản lý phí (VNĐ)
Tổng:

2
3
4
5
6
7
8
9
10

Định mức cho
1T
1T
clinker
CKD
1,2T
0.15
(15%)
0.036T
0

Đơn giá
VNĐ/kg

Tiền cho
1T CKD

12000

Tiền cho
1T
clinker
14400

60000

2160

0

1800

0.012T

0.02

400000

4800

6000

0.2T
0.5T
0.5
45
20000
30000
10000

0
0
0.5
30
10000
15000
5000

400000
15000
15000
1000

80000
7500
7500
45000
20000
30000
10000
221360

0
0
7500
30000
10000
15000
15000
77300

* Ở đây tổng vốn khấu hao của nhà máy là 30 triệu USD hay 480tỷ VNĐ , trong đó vốn khấu hao cho
50vạn tấn clinker làm phụ gia cao cấp là 20 triệu USD hay 320tỷ VNĐ. Thời gian khấu hao chung cho
cả vốn thiết bị và vốn xây lắp là 15 năm.

5


Như vậy giá thành trước thuế của 1 tấn phụ gia cao cấp (clinker Ro-belit) là 234.127 VNĐ và giá
thành trước thuế của 1 tấn CKD mác 25 là: 0,83* 211.127 + 88.634 = 263.870 VNĐ/T.
- Hiệu quả kinh tế của sử dụng phụ gia cao cấp nói trên (tỷ lệ pha 40%) cho 1 tấn xi măng PCB-40 với
phụ gia đá bazan (tỷ lệ pha ≤ 15%) là:
(0,81* 450.000 + 0,15 * 60.000) – (0,56 * 450.000 + 0,40* 211.127) = 37.049 đ/T
Ở đây 0,81 và 0,15 là tỷ lệ pha clinker PC-50 (81%) và tỷ lệ pha phụ gia bằng đá bazan hoặc đá vôi
đen trong sản xuất xi măng PCB-40 và 0,56 và 0,490 là tỷ lệ pha clinker PC-50 (56%) và tỷ lệ pha
phụ gia cao cấp bằng clinker Ro-belit (40%) trong sản xuất xi măng portland hỗn hợp mác nói trên.
Ngoài ra, hiệu quả kinh tế còn được bổ sung do giảm điện năng nghiền xi măng PCB-40 với phụ gia
cao cấp bằng clinker Ro-belit giòn, dễ nghiền so với clinker PC-50 với đá bazan. Chất lượng clinker
Ro-belit cũng được ổn định hơn chất lượng đá bazan và các loại phụ gia khác mà lại độ ẩm nhỏ
(<3%) nên không phải phơi sấy.
Như vậy có thể kết luận rằng, việc ước tính giá thành trước thuế của việc đầu tư bổ sung các dây
chuyền xi măng lò đứng công suất 8,5vạn tấn/năm đã hết khấu hao hay đầu tư mới một dãy chuyền lò
quay mini khô công suất 35 vạn T/năm (tính theo xi măng PC-50) để sản xuất phụ gia cao cấp bằng
clinker Ro-belit công suất 50 vạn T/năm, chất lượng ổn định tại các tỉnh Trị Thiên, nơi có nguồn đá vôi
sét dồi dào để cấp cho các nhà máy xi măng lớn như Sông Gianh, Quảng Bình, Văn Xá, Thừa Thiên Huế và trạm nghiền clinker Hải Vân, Đà Nẵng là có hiệu quả kinh tế, tăng sản lượng và chất lượng xi
măng portland hỗn hợp, tiết kiệm tài nguyên và những tiện lợi khác.
Clinker Ro-belit cũng được nghiền hỗn hợp với các loại phụ gia khoáng ít kiềm (đá vôi sét nghiền
canxi, tro núi lửa, tro xỉ nhiệt điện…) để chế tạo thành CKD mác ổn định 10,15…dùng cho bê tông
đầm lăn các đê đập thủy điện, thủy lợi…đảm bảo kỹ thuật thi công và chất lượng lâu dài của công
trình.

PGS.TS. Hoàng Văn Phong
(Nguồn: Tạp chí VLXD Đương đại, số 1/2007)

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×