Tải bản đầy đủ

Vận dụng lực axit,lực oxy hóa, lực khử của dãy axit hnx ; hnxom để sử dụng dạy học hóa học ở bậc trung học phổ thông

Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

VẬN DỤNG LỰC AXIT,LỰC OXY HÓA, LỰC KHỬ
CỦA DÃY AXIT HnX ; HnXOm ĐỂ SỬ DỤNG DẠY HỌC
HÓA HỌC Ở BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
*********
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1/. Khách quan :
Trong chương trình trung học phổ thông,hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên có
vai trò rất quan trọng . Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thông kiến thức phổ
thông cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và
khả năng trực quan nhanh nhạy .Vì vậy giáo viên bộ môn hóa học cần hình thành ở các
em một kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em
phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động ,hình thành cho các em những
phẩm chất cần thiết như cần thận,tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học.
Trong thời đại nền khoa học-kỹ thuật phát triển như hiện nay, để đáp ứng yêu cầu về
con người và nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững thì việc nâng

cao chất lượng giảng dạy và chất lượng học ở các cấp bậc phổ thông là vấn đề bức thiết.
Nghị quyết Trung ương lần thứ 2 ( khóa VIII) đã khẳng định “giáo dục-đào tạo nước ta còn
nhiều yếu kém, bất cập về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lượng và hiệu quả…, trình độ
kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học…của đa số HS còn yếu…”.Để
nâng cao hiệu quả của công việc dạy – học thì đổi mới phương pháp dạy – học là một trong
những yếu tố quan trọng nhằm tăng cường tính tích cực tìm tòi sáng tạo ở HS. Việc đổi mới
nội dung và phương pháp dạy học đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Trung ương
Đảng khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục –đào tạo phải bằng đổi mới mạnh mẽ
các phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo ở người học…phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng
khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên…kiên quyết cải tiến chương trình và nhất là phương
1

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
pháp dạy và học trong nhà trường thì trong một số năm tới đây chúng ta mới khắc phục
được những lệch lạc trong giáo dục đào tạo hiện nay…và từng bước nâng cao chất lượng
đào tạo…”
Để áp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, hiện nay có rất nhiều biện pháp
được các nhà nghiên cứu đã và đang quan tâm. Muốn vậy, việc nghiên cứu kỹ lưỡng kiến
thức ở các bài dạy của giáo viên để tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa các bài học có ý nghĩa
hết sức quan trọng nhằm giúp học sinh thấy được sợi chỉ hồng xuyên suốt trong các phần
học. Đó là tiền đề kích thích tư duy, tìm tòi, sáng tạo ở học sinh.
2/. Chủ quan
Tuy đổi mới phương pháp dạy học đã được áp dụng từ lâu, nhưng thực tế có rất nhiều
bài học, giáo viên còn khai thác sơ lược kiến thức cũ; kiến thức mới được xây dựng chưa có
cơ sở vững chắc, chủ yếu mang tính chấp nhận như một tiên đề nên đa số học sinh vẫn bị
động trong quá trình học tập và tiếp cận trí thức mới.
Nguyên tắc thiết kế chương trình ngành học phổ thông là chương trình đồng tâm nên
việc khai thác kiến thức cũ để phát triển bài dạy là vấn đề hết sức quan trọng. Tuy nhiên,
trong chương trình và sách giáo khoa, các chất cùng loại được phân bố rải rác ở các lớp.
Điều đó làm cho học sinh có học lực trung bình gặp khó khăn trong việc nhớ lại các kiến
thức cũ và dẫn tới những hạn chế khi giáo viên sử dụng phương pháp mới. Để nâng cao
hiệu quả dạy học, việc hệ thống hóa kiến thức đã được học ở từng phần , từng loại chất là


vấn đề quan trọng nhằm kích thích phương pháp tư duy tổng hợp cho học sinh.
Với suy nghĩ như vậy, tôi luôn tìm tòi những cơ sở lý thuyết để sắp xếp có quy luật về
một số tính chất ở các chất và áp dụng vào bài giảng, với hy vọng học sinh có được hệ
thống kiến thức lôgíc hơn trong quá trình học và xây dựng bài mới. Tôi chọn đề tài “Sắp
xếp có hệ thống về lực axit, lực khử, lực oxi hóa của dãy axit H nX và HnXOm” tuy vậy
các yếu tố gây ảnh hưởng đến tính oxy hóa của oxy anion khá phức tạp và các tài liệu đề
cập để giải thích những trường hợp không theo qui luật, chủ yếu lấy từ kết quả thực
nghiệm, vì vậy với khả năng có hạn của mình tôi xin được giới hạn đề tài trong các nội
dung sau.
II/.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
1)
Thuận lợi:
Trường THPT Long Khánh đang được xây dựng theo mô hình trường
trọng điểm chất lượng cao nên đầu vào của học sinh đang được nâng lên,
- Cơ sở vật chất được cải thiện đáp ứng nhu cầu về phòng học, phương tiện dạy học
trong nhà trường.
Đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy ; học sinh chăm
ngoan tinh thần hiếu học.
Nội dung chương trình hóa học THPT đề cập nhiều đến lực axit- bazơ,
lực oxy hóa –khử của dãy axit không có oxy và axit có oxy
2)
Khó khăn:
2

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
- Số học sinh thực sự có năng khiếu đam mê môn học ít
- Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên theo hướng chuyên sâu còn nhiều hạn chế.
- Một số trường chưa chú trọng tiết thực hành ,chưa minh họa các kiến thức đã học
nhằm giúp học sinh khắc sâu nội dung bài học
- Các kiến thức về axit- bazơ ở cấp II học sơ lược qua loa ,chỉ thừa nhận là chủ yếu .
Ở cấp III chương trình lớp 11 quá nặng : HKI học vô cơ- HKII học hữu cơ , nhiều em chưa
nắm vững tính axit, tính bazơ , tính khử tính oxy hóa…
3)
Số liệu thống kê:
Từ năm học 2006 - 2007 trở về trước, kết quả cuối năm ở các lớp tôi
dạy (lớp 10,11) đạt diểm trung bình ≥ 5,0 chỉ đạt :
*70 % ≤ điểm TB ≤ 85%
*Loại giỏi ≥ 8,0 đạt từ 610% ( chỉ khoảng 2 3em/50)
* Loại kém < 3,5 từ 2 4% (khoảng 12 em/ 50) nhất là ở khối 11 nghĩa là
vẫn phải có vài em phải thi lại tùy từng lớp
Từ năm học 2007 – 2008 đến nay , sau khi áp dụng phương pháp mới
và giảng dạy theo đề tài tôi thấy chất lượng có tiến bộ rõ rệt ,cụ thể như sau :
*80% ≤ điểm TB ≤ 100%
*Loại giỏi ≥ 8,0 đạt 12,5% ≥ 25% (khoảng 510 em/ 40
* Loại kém < 3,5 rất thấp hầu như không có học sinh thi lại ở lớp 10 & 11
III/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
1) Cơ sở lý luận:
Chương trình giảng dạy hóa học vô cơ và hữu cơ là nội dung quan
trọng trong sách giáo khoa bậc THPT và giáo trình đào tạo chuyên ngành hóa học
của các trường Đại học. Những nội dung đó đã được các nhà giáo dục, nhà khoa
học có uy tín biên soạn và phổ biến rộng rãi dùng cho giáo viên giảng dạy trong
nhà trường.
Đối với chương trình hóa học vô cơ tính axit- bazơ ,tính oxy hóa –khử
là phẩn rất quan trọng cần thiêt đòi hỏi tất cả các học sinh phải nắm được ở chương
trình phổ thông và là kiến thức tiền đề để các em giải đuợc các đề thi vào đại học
2) Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Trong chương trình trung học phổ thông khi xét tính axit, tính khử, tính oxy
hóa chỉ được xét trong dung môi nước nên trong đề tài này tôi cũng xin được đề cập
trong phạm vi trên.
- Sắp xếp có quy luật lực axit trong dãy H nX và HnXOm ( với X là phi kim ).
Dựa trên cơ sở thuyết Bronsted.
- Sắp xếp có quy luật lực khử của dãy HnX.

- Xét lực oxy hóa của oxianion XOm trong môi trường axit.

- Các cơ sở lý thuyết dùng để giải thích tính quy luật trên.
3

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
*Mục đích nghiên cứu: Nhằm tạo cơ sở để vận dụng tính qui luật kích thích
khả năng suy luận, tư duy của học sinh trong các bài học axit H nX và HnXOm trong chương
trình THPT.

4

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
3) Phương pháp nghiên cứu :
- Đọc sách, tài liệu phục vụ trực tiếp cho đề tài; từ đó, sắp xếp các thông tin
tìm ra hệ thống lôgíc cần thiết.
- Trao đổi với các bạn đồng nghiệp để xác định độ chính xác của quy luật và cơ
sở giải thích quy luật đó.
-Tìm thêm tài liệu có liên quan trên mạng Internet

PHẦN NỘI DUNG
I/. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ AXIT :
Có 03 thuyết axit – bazơ được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay:
1). Thuyết axit – bazơ của Areniyt ( Arhenius):
Định nghĩa: Axit là những chất khi hòa tan trong nước thì phân ly cho cation H+
Ví dụ : HCl  H+ + Cl 
Thuyết của Areniyt là thuyết axit – bazơ sớm nhất. Nó giải thích được nhiều tính chất
và phản ứng của các axit trong dung dịch nước. Tuy nhiên, thuyết này có nhiều hạn chế bởi
chỉ áp dụng đúng cho dung môi là nước, không áp dụng được cho tất cả các dung môi, đồng
thời chưa thấy được vai trò quyết định của dung môi trong sự phân ly axit. Mặt khác, thuyết
Areniyt không không giải thích được các phản ứng tạo ra muối giống như phản ứng trung
hòa mà trong đó không có H+ hoặc OH  tham gia.
Ví dụ: NH 3(k) + HCl (k)  NH4Cl(rắn)
2). Thuyết proton về axit – bazơ : Do nhà hóa học Đan Mạch Bronsted , nhà
hóa học Anh Lawry và nhà hóa học Thụy Điển Bjerrum xây dựng. Hiện nay, thuyết
này được sử dụng rộng rãi nhất.
Định nghĩa: axit là những chất có khả năng cho proton.
Theo thuyết proton thì sự điện ly axit trong dung dịch không phải là quá trình đơn giản
mà là kết quả tương tác hóa học giữa chất tan với dung môi. Đối với dung dịch nước có
tương tác như sau:
HCl  H 2 O ↔ H 3 O   Cl 

Trong dung môi không phải nước cũng có thể xảy ra hiện tượng tương tự:
RNH 2  R1COOH  RNH 3  R1COO 
NH 3( k )  HCl ( k )  NH 4 Cl (rắn)

3). Thuyết axit – bazơ của Liuyt (Lewis)
Axit là những chất có khả năng nhận cặp electron không phân chia
Ví dụ: H+ + NH 3  NH4+
5

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
Thuyết Liuyt thường được áp dụng trong hóa học hữu cơ và chưa nói rõ vai trò của
dung môi ( xét theo quan điểm thuyết proton)

6

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
II/. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰC AXIT
Độ mạnh của axit ( nghĩa là khả năng nhường proton) tùy thuộc vào dung môi và độ
bền của liên kết. Chương trình THPT chỉ xét dung môi nước nên độ mạnh của axit chỉ còn
phụ thuộc vào độ bền của liên kết ( đo bằng năng lượng liên kết E (KJ/mol). Năng lượng
liên kết càng nhỏ chất đó càng dễ tách proton, tính axit càng mạnh và ngược lại.
Để giải thích và so sánh độ bền các liên kết ta cần xem xét các đại lượng như độ phân
cực của liên kết, độ dài liên kết.
1). Độ phân cực của liên kết cộng hóa trị
- Mối liên kết cộng hóa trị được hình thành do dự xen phủ lên nhau của các mây điện
tử liên kết. Tuy nhiên các mây điện tử liên kết không phải luôn luôn được phân bố đều giữa
các nguyên tử mà mây điện tử có thể bị lệch về một nguyên tử nào đó làm cho sự phân bố
điện tích không đều và mối liên kết trở thành có cực.
- Trong trường hợp hai nguyên tử tham gia liên kết có độ âm điện hoàn toàn bằng
nhau, khi đó mây điện tử được phân bố đều giữa hai nguyên tử và ta có liên kết cộng hóa trị
thuần túy.
- Nếu hai nguyên tử tham gia liên kết có độ âm điện khác nhau, mây điện tử liên kết sẽ
bị hút về phí nguyên tử có độ âm điện lớn hơn. Do đó, sự phân bố điện tích trở nên không
đều giữa hai nguyên tử. Nguyên tử có độ âm điện lớn hơn có trội điện tích âm, còn nguyên
tử kia có trội điện tích dương. Đây là mối liên kết có cực. Sự khác nhau về độ âm điện giữa
hai nguyên tố càng lớn, độ phân cực của phân tử càng mạnh.
Ví dụ: PH3 H2S HCl……
Độ âm điện các nguyên tố tăng từ P,S, Cl tương ứng với sự tăng hiệu độ âm điện trong
liên kết H – X nên độ phân cực tăng dần từ PH3  HCl
- Một đặc trưng quan trọng của liên kết hóa học có ảnh hưởng nhiều đến tính chất của
một chất là khả năng biến dạng của mây điện tử liên kết. Khả năng biền dạng này được d0o
bằng độ bị phân cực của liên kết dưới tác dụng của một điện trường ngoài. Độ bị phân cực
của liên kết tăng theo chiều giảm mật độ mây điện tử liên kết ( tức theo chiều tăng kích
thước nguyên tử và giảm độ âm điện).
Ví dụ: Trong dãy hợp chất: HCl – HBr – HI độ bị phân cực của các mối liên kết tăng.
- Quá trình tách proton của axit trong dung dịch nước được coi là kết quả tương tác của
chất tan và dung môi. Tương tác này khá phức tạp nhưng có thể nêu ra một quy luật chung
đối với nhiều trường hợp:
+ Nếu liên kết H – X trong phân tử axit phân cực càng mạnh thì khả năng tách proton
càng mạnh;
+ Nếu độ bị phân cực của liên kết H – X tăng thì khả năng tách pronton tăng .
Vậy trong dung môi nước liên kết trong phân tử Axit càng phân cực hoặc càng bị phân
cực thì càng kém bền và dễ t1ci prton ( H+ ).
7

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
2). Độ dài liên kết (d)
- Độ dài liên kết là khoản cách giữa hai hạt nhân của nguyên tử liên kết với nhau. Độ
dài liên kết (d) được coi bằng tổng các bán kính cộng hóa trị (r)
d A-B = rA + rB
+ Obitan của eletron không có giới hạn rõ rệt. Vì vậy bán kính cộng hóa trị tính bằng
nửa độ dài liên kết dA-A của một liên kết đồng hạch A – A.
+ Đơn vị đo độ dài liên kết là A0.
- Khi các nguyên tử tham gia liên kết như nhau thì thường liên kết càng bền khi độ dài
liên kết càng nhỏ. Độ dài liên kết giữa hai nguyên tử giảm xuống khi độ bội của liên kết
tăng lên ; nghĩa là độ dài của liên kết tỷ lệ nghịch với năng lượng liên kết.
- Trong dãy axit nếu độ dài liên kết của hiđro với nguyên tố trung tâm càng lớn thì
năng lượng liên kết càng nhỏ, khả năng tách proton tăng.
II/. CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐÁNH GIÁ LỰC AXIT
Ngoài độ điện ly α , người ta thường biểu thị độ mạnh của axit bằng các đại lượng như
hằng số axit Ka, pKa và độ pH.
1). Độ pH
- Độ pH được định nghĩa bằng công thức pH = - lg[H+]
- Thang pH : Là trục số biểu diễn mối liên hệ giữa nồng độ ion H+ và giá trị pH.
Môi
trường

Trung
tính

Axit

[

100101102103104105106

p

0 1 2

10-7

Bazơ
10-810-910-1010-1110-1210-1310-14

H+]
3 4

5

6

7

8

9

10 11 12

13 14

H
Lực axit tăng

- Đo độ pH:
+ Máy đo pH
+ Dùng chỉ thị màu hoặc giấy đo pH
pH

5

Quỳ tím

Hồng

7

8

10
Tím

14
Xanh

8

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
Giấy đo pH khi thử với dung dịch sẽ đổi màu và sẽ xác định được pH nhờ so màu với
một bảng màu chuẩn đã in sẵn.
2) Hằng số axit Ka và pKa
- Hằng số axit Ka = hằng số điện ly = hằng số cân bằng của sự điện ly của axit yếu.
HA ↔ H+ + A- hay

HA + H2O ↔ H3O+ + A-

Do axit yếu, nồng độ các ion tương đối nhỏ nên có thể bỏ qua lực tương tác tĩnh điện
giữa chúng để có nồng độ mol/lit coi như bằng hoạt độ.
Ka =

[ H ].[a  ]
[ HA]

Với [H+], [A-],[HA] lần lượt là nồng độ mol/lit của ion H +, A- va HA ở trạng thái cân
bằng
pKa = - lgKa
Axit càng mạnh, Ka càng lớn, pKa càng nhỏ
III/. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH KHỬ VÀ TÍNH OXY HÓA
CỦA ANION Xn- VÀ XOmnn
Đây là một vấn đề phức tạp có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính khử và tính oxy hóa
trong dãy HnX và HnXOm. Qua tham khảo nhiều tài liệu và đóng góp ý kiến của đồng
nghiệp tôi đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng sau:
- Số oxy hóa của nguyên tố trung tâm
- Độ bền phân tử
- Thế ion
- Nồng độ
- Điều kiện phản ứng
Tuy nhiên để so sánh lực khử, lực oxy hóa một cách chính xác thì phải dựa vào đại
lượng thế điện cực, các cơ sở lý thuyết chỉ cho phép giải thích định tính, vẫn xuất hiện một
số trường hợp ngoại lệ khi dùng cùng một yếu tố ảnh hưởng để xét.
1) . Số oxy hóa
* Định nghĩa: Số oxy hóa của nguyên tố một số đại số được gán cho nguyên tử của
nguyên tố đó trong phân tử của hợp chất với giả thiết rằng các liên kết trong phân tử đều là
liên kết ion.
+ Số oxy hóa cao nhất của một nguyên tố = số thứ tự của nhóm
+ Số oxy hóa thấp nhất của một nguyên tố = số thứ tự của nhóm trừ 8 ( đối với
các nguyên tố phi kim)
Ví dụ: Nguyên tố N thuộc nhóm VA. Số oxi hóa cao nhất mà N có thể đạt được trong
hợp chất là + 5. Số oxy hóa thấp nhất: 5 – 8 = -3 (NH3 hoặc NH 4 )
9

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
- Trong phản ứng oxy hóa khử nếu H nA và HnXOm có sự thay đổi số oxy hóa ở anion
thì:
+ Nếu oxy hóa của nguyên tố trung tâm đạt giá trị cao nhất thì axit chỉ có thể
đóng vai trò chất oxihóa ( nhận electron)
+ Nếu oxy hóa của nguyên tố trung tâm đạt giá trị thấp nhất thì axit chỉ có thể
đóng vai trò chất khử ( nhường electron)
+ Nếu số oxy hóa của nguyên tố trung tâm đạt giá trị trung gian thì axit có thể
đóng vai trò chất oxy hóa hay khử tùy thuộc vào chất tương tác với nó và môi trường.
2). Thế ion ( mật độ điện tích ion)
Thế ion =

dientichion n
=
bankinhion r

Ion có thế ion càng lớn sẽ tạo ra trường lực càng mạnh, khả năng nhận electron của
nguyên tố trung tâm càng lớn, lực oxy hóa của oxy anion càng mạnh.
3). Độ bền phân tử:
Phụ thuộc nhiều yếu tố như trạng thái lai hóa, góc liên kết, độ bội của liên kết.
a). Lai hóa: Khái niệm lai hóa được Pauling (1931) đưa ra nhằm mục
đích giải thích cấu trúc hình học của phân tử.
- Khái niệm: Sự lai hóa obitan nguyên tử (AO) là sự tổ hợp (‘trộn lẫn”) một số obitan
trong một nguyên tử để được từng ấy obitan lai hóa giống nhau nhưng định hướng khác
nhau trong không gian .
Các obitan lai hóa hoàn toàn tương đương khi tham gia liên kết với các nguyên tử
khác. Số obitan lai hóa thu được bằng số AO tham gia lai hóa.
- Điều kiện để lai hóa bền:
+ Các AO tham gia tổ hợp có năng lượng xấp xỉ nhau
+ Mật độ mây điện tử khá lớn
+ Mức độ xen phủ của obitan khi liên kết phải đủ lớn
- Trong một chu kỳ khi đi từ trái sáng phải, hiệu năng lượng giữa các Obitan s và
Obitan p tăng lên nên sự lai hóa các obitan nguyên tử (AO) giảm
- Trong nhóm A từ trên xuống dưới theo chiều tăng của Z ,kích thước nguyên tử tăng,
sự lai hóa của obitan nguyên tử giảm.
- Liên kết được tạo bởi các obitan lai háo bền vững hơn so với các liên kết được tạo ra
do nhóm obitan thuần túy không lai hóa.
Pauling đưa ra những số liệu về độ bền vững tương đối của các liên kết tạo ra bởi các
obitan khác nhau.
Loại obitan

s

p

sp

sp2

sp3
10

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
Độ bền vững tương đối
của liên kết

1,0

1,73

1,93
2

1,99
1

2,0

b)Góc liên kết
- Góc liên kết là góc tạo bởi hai nửa đường thẳng xuất phát từ hạt nhân của một nguyên
tử nào đó và đi qua hạt nhân của hai nguyên tử khác liên kết trực tiếp với nguyên tử trên.
- Phân tử bền khi Góc liên kết tương đương với góc của trạng thái lai hóa nguyên tố
trung tâm, không chịu ảnh hưởng bởi sức căng góc Baye.
c).Độ bội liên kết:
- Khi phân tử thể hiện tính oxy hóa hay tính khử, cấu trúc phân tử càng kém bền thì
tính oxihóa hoặc tính khử càng mạnh.
Ví dụ: HClO kém bền hơn HClO2 vì độ bội trong phân tử HClO 2 lớn hơn trong phân tử
HClO.
4). Nồng độ:
- Nồng độ ảnh hưởng đến tính oxy hóa hoặc khử được thấy rõ qua phương trình Nec:
RT

[OXH ]

o
E= E  nF In [ Kh]

5).Đại lượng đánh giá lực khử, lực oxy hóa.
- Thế điện cực chuẩn
+ Thế điện cực chuẩn càng dương thì dạng oxy hóa càng mạnh và dạng khử của
nó càng yếu.
+ Thế điện cực chuẩn càng âm thì dạng khử càng mạnh và dạng oxy hóa của nó
càng yếu.
Ví dụ : 2HClO + 2H+ + 2e ↔ Cl2 + H2O
2HIO + 2H+ + 2e ↔ I2 + H2O

0
E HClO
/ C12  1,63
0
E HIO
/ I 2  1,45

HClO có tính oxy hóa mạnh hơn HIO
- Thế điện cực (phương trình Nec) ở 250C:
E đc  E 0 

0,059 [OXH ]
lg
n
[ Kh]

IV/. XÉT SỰ BIẾN THIÊN LỰC AXIT, LỰC KHỬ VÀ LỰC OXY HÓA CỦA AXIT
HnX VÀ HnXOm
A/.BIẾN THIÊN LỰC AXIT
1). Axit không có oxy ( axit hyđric): HnX

11

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
a).Trong chu kỳ: Lực axit tăng từ trái qua phải trong bảng hệ thống tuần hoàn: vì trong
cùng một chu kỳ từ trái qua phải, số lớp electrong của X không đổi, điện tích hạt nhân tăng,
số electron lớp ngoài cùng tăng nên lực hút giữa hạt nhân với electron lớp ngoài cùng tăng
( độ âm điện tăng), vì vậy khả năng hút electron về phía mình của nguyên tử X tăng,
mật độ electrong quanh hiđro giảm mạnh, liên kết H – X trở nên phân cực hơn. Kết quả
cation H+ dễ tách ra, tính axit tăng dần.
Trong dung dịch nước, các hiđrua từ nhóm IIIA  VA không phải là axit hoặc axit rất
yếu nhưng từ nhóm VIA và VIIA thì lực axit tăng lên.
Ví dụ: PH3 không có tính axit;

H2S có tính axit yếu với K1 = 6.10-8

HCl là axit mạnh phân ly hoàn toàn
b). Trong nhóm A
- Dọc theo nhóm từ trên xuống dưới lực axit tăng.
Vì: số lớp electron tăng nên bán kính phi kim X tăng nhanh, độ dài liên kết HX tăng
nên khả năng biến dạng mây điện tử liên kết tăng ( độ bị phân cực của liên kết HX tăng), vì
vậy độ bền liên kết HX giảm dần. Kết quả cation H+ dễ tách hơn, lực axit tăng.
Ví dụ: Nhóm VIIA : HF << HCl < HBr < HI
Nhóm VIA: H2O < H2S < H2Se < H2Te
Trong dãy trên tính axit của HF tương đối yếu vì ngoài phản ứng điện ly thông thường
HF + H2O ↔ H3O+ + F-

K = 1.10-4

Còn có phản ứng tạo ion HF2 từ F- và HF :
F- + HF ↔

HF2

Như vậy hầu như hai phân tử HF mới phân ly cho một ion H + . Mặt khác do giữa các
phân tử HF có mối liên kết hiđro mà mối liên kết này chỉ bị phá vỡ phần nhỏ khi hòa tan
HF vào nước nên sự điện ly của halogenua này đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều năng lượng. Tất
cả những điều này làm cho HF điện ly kém thua các HX khác.
Thực tế cho thấy trong dung dịch nước các axit HCl, HBr, HI đều là những axit mạnh.
Lực axit của chúng và các axit mạnh khác trong nước như nhau, điều đó là do lực bazơ của
nước mạnh nên nước có hiệu ứng san bằng lực axit của các axit mạnh. Khi dùng dung môi
kém bazơ hơn nước như axit axetic khan thì sẽ thấy trật tự lực axit đúng như dự đoán.
Ví dụ: Hằng số điện ly của HCl, HBr trong axit axetic khan ở 200C
HBr

Ka = 4.10-7

;

HCl

Ka = 1,4.10-9

Từ số liệu trên cho thấy các axit mạnh trong nước đã trở thành axit yếu trong axit
axetic khan, nhưng chúng yếu đi không như nhau.
- Bảng biến thiên lực axit trong dung dịch nước

( bảng B.I ) (trang 11)

12

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012

Độ âm điện tăng,lực axit tăng

Nhóm
Chu kỳ
2

Độ IVA
dài
liên kết
tăng, CH4
lực
axit pKa=50
tăng

3

SiH4

4
5

VA

VIA

VIIA

NH3

H2O

HF

pKa=33

pKa=14

pKa=3,
18

PH3

H2S

HCl

pKa=27

pKa=7

pKa=-7

AsH3

H2Se

HBr

pKa=4

pKa=-9

H2Te

HI

pKa=3

pKa=11

2) Axit chứa oxy: HnXOm hay ( HO)nXO m-n
- Lực axit tùy thuộc vào độ phân cực của liên kết – O – H, liên kết -OH phân cực càng
mạnh, khả năng tách proton của axit (HO)nXO m-n càng tăng, tính axit càng mạnh.
- Biến thiên lực axit
+ Tỷ lệ thuận với độ âm điện của nguyên tố X
+ Tỷ lệ nghịch với bán kính nguyên tử X
13

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
+ Tỷ lệ thuận với hiệu m-n
a).Các axit có cùng m-n:
Khi độ âm của nguyên tố X tăng thì liên kết –OH càng phân cực, trong dung dịch nước
khả năng tách proton của axit càng dễ. Kết quả lực axit tăng.
- Nếu m-n=0 : Phân tử axit chỉ gồm các liên kết H-O-X.
Như vậy trong liên kết H-O và liên kết O-X nguyên tử oxy luôn hút electron về phía
mình ( vì độ âm điện của oxy lớn hơn độ âm điện của nguyên tử H và của nguyên tử X ).
Các liên kết trên trở nên phân cực, trong đó nguyên tử oxy đóng vai trò cực âm( O δ-).Khi độ
âm điện của X tăng thì độ phân cực của liên kết O-X giảm, mật độ điện tích âm ở oxi giảm
nên khả năng hút electron liên kết trong nhóm –OH của oxi tăng, liên kết-OH trở nên phân
cực hơn. Kết quả axit dễ tách proton hơn nên lực axit tăng. Nhìn chung các axit thuộc dãy
này đều là axit yếu.
Ví dụ: Lực axit giảm theo trật tự:
HOCl > HOBr > HOI
- Nếu m-n ≠ 0: Phân tử axit gồm các liên kết H-O-X=O.Các nguyên tử oxi không liên
kết với hiđro mà chỉ liên kết với nguyên tố trung tâm (X) sẽ hút electron liên về phía mình,
làm cho liên kết giữa nguyên tử X với oxi (X=O) trở nên phân cực trong đó nguyên tử X
đóng vai trò cực dương (Xδ+ ). Khi bán kính nguyên tử X nhỏ và độ âm điện lớn thì khả
năng hút electron từ nhóm –OH của Xδ+ tăng nên phân cực của liên kết –OH tăng. Kết quả
axit dễ tách proton hơn, lực axit tăng.
Ví dụ: Lực axit giảm theo trật tự:
+ (HO)2SO2 > (HO)2SeO2
+ (HO)3PO > (HO)3AsO
b).Các axit có m-n khác nhau:
Lực axit tăng theo hiệu m-n : Vì khi hiệu m-n tăng thì khả năng hút electron liên kết
của các nguyên tử oxi ở liên kết X = O tăng, nên mật độ điện tich dương ở nguyên tố trung
tâm (X) tăng. Vì vậy khả năng hút electron từ nhóm-OH của X δ+ tăng dẫn đến độ phân cực
của liên kết –OH tăng, khả năng tách pronton tăng, lực axit tăng.
Ví dụ: Lực axit tăng theo trật tự:
HOCl HONO < HONO2
(HO)2SO<(HO)2SO2
Bảng biến đổi lực axit của một số axiaxit (HO)nXO m-n trong nước theo giá trị (m-n)
( Bảng B.II)

m-n = 0

m-n = 1

m-n = 2

m-n = 3
14

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
axit yếu

axit yếu và trung bình

axit mạnh

axit rất mạnh

pKa = 7÷11

pKa= 2 ÷ 4

pKa < 1

pKa < 0

Axit

PKa

(HO)3B

9,22

(HO) 4Si

9,7

(HO)3As

9,3

Axit

PKa

(HO)NO

3,3

(HO) 3AsO

3,5

(HO)2SO

Axit

PKa

(HO)NO2

-1,4

1,87

(HO)2SO2

-2

(HO)2SeO

2,62

(HO)2SeO2 -3

(HO)6Te

8,8

(HO)2TeO

3,5

(HO)Cl

7,5

(HO)ClO

1,94

(HO)Br

8,68

(HO)I

10,63

(HO)ClO2

-1

Axit

PKa

(HO)ClO3 -10

(HO)BrO)2 0,7

B/. BIẾN THIÊN TÍNH KHỬ TRONG DÃY HnX
-Trong các phản ứng oxy hóa khử xảy ra với H nX, tâm phản ứng ở trong phân tử H nX
được xác định ở cation H+ hoặc Xn- tùy thuộc vào chất tương tác. Phần này chỉ xét tính khử
của axit HnX nên tâm phản ứng ở anion Xn-. Trong anion Xn- nguyên tử của nguyên tố X có
số oxy hóa thấp nhất, vì vậy khi tham gia phản ứng oxy hóa – khử X n- chỉ có khả năng đưa
về số oxy hóa cao hơn bằng cách nhường electron đóng vai trò chất khử.
-Tính khử của Xn- phụ thuộc vào độ bền của phân tử HnX và lực hút giữa hạt nhân với
electron ngoài cùng của nguyên tố X.
-Biến thiên lực khử ( tính khử ):
+ Tỷ lệ thuận với bán kính nguyên tử của X
+Tỷ lệ nghịch với độ âm điện của X
1). Trong nhóm A
Từ trên xuống dưới trong một nhóm A lực khử X n- tăng: Vì bán kính nguyên tử X tăng,
lực hút giữa hạt nhân với electron lớp ngoài cùng giảm ( độ âm điện giảm ). Mặt khác độ
dài liên kết H-X tăng, khả năng biến dạng mây điện tử liên kết tăng. Vì vậy khả năng tách
electron lớp ngoài cùng Xn- tăng, độ bền phân tử HnX giảm. Kết quả lực khử tăng.
Ví dụ: Xét dãy HX.

Dãy HX

HF

HCl

HBr

HI

Độ dài liên kết H-X(A0 )

0,92

1,27

1,41

1,60

Năng lượng liên kết (KJ/mol)

565

431

364

297
15

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
HF chỉ phân hủy rõ rệt ở trên 5300 0C. Ở 10000C HCl phân hủy 0,014%, HBr phân hủy
0,5%, HI phân hủy 33%.
+HF hoàn toàn không thể hiện tính khử, HCl chỉ thể hiện tính khử khi tác dụng với
chất oxy hóa mạnh còn HBr và nhất là HI có tính khử mạnh.
+6

+4

2HBr + H2SO4đ  Br2 + SO2 + H2O
8HI + H2SO4đ

 4I2 + H2S-2 + 4H2O

Rõ ràng trong hai phản ửng trên, B r- chỉ khử S+6 (H2SO4) về S+4 (SO2) còn I- khử được
về số oxy hóa thấp hơn trong hợp chất H2S.
+Khi để lâu các dung dịch HCl, HBr, HI trong không khí thì HBr bị oxy hóa chậm HI
bị oxy hóa nhanh hơn, còn HCl chỉ phản ứng khi ở pha khí đun nóng có mặt xúc tác CuCl2
2 HBr + ½ O2 Br2 + H2O

( đk thường oxh chậm)

6HI + O2  2H[I(I)2] + 2H2O (đ0 thường, trong bóng tối)
4HIđđ + O2 ↔ 2I2 ↓ + 2H2O

( ás,xt Cu)

4HCl + O2 ↔ 2H2O + Cl2

∆H0 = -117 KJ

Ví dụ 2: Xét dãy H2X
Dãy H2X

H2O < H2S < H2SE < H2Te

Elk H-X (KJ/mol) 463 347

276

238

Lực khử tăng
H2O rất bền, H2S bền, H2Se tương đối bền phân hủy ở trên 3000C, H2Te kém bền phân
hủy dần ở nhiệt độ thường.
H2S, H2Se, H2Te đều là chất khử mạnh, do độ bền phân tử giảm
as

H2Sbhòa + O2

2S

H2Seđđ + O2 (KK) →
H2Sebhòa + S →

+ H2 O
H2O + Se

H2S + Se

(đk thường )
(đk thường )

2H2Te + 3O2 → 2H2O + 2TeO2 ( cháy trong KK )
2). Trong chu kỳ:
Từ đầu đến cuối trong cùng một chu kỳ tính khử của X n- giảm: Vì các nguyên tố trong
mộ chu kì có cùng số lớp electron, từ trái qua phải điện tích hạt nhân tăng nên lực hút giữa
hạt nhân với electron ngoài cùng tăng ( độ âm điện tăng). Kết quả khả năng nhường
electron của anion Xn- giảm → lực khử giảm.
Ví dụ: Xét các hiđrua phi kim của các nguyên tố chu kì 3.
SiH4 > PH3 > H2S > HCl
16

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
Lực khử giảm

SiH4 + 2O2  SiO2 + 2H2O tự bốc cháy trong O2 ∆ H= -1288KJ
PH3 + 2O2  H3PO4
as

H2S + O2

2S

+ H2 O

phản ứng chậm

HCl + O2  không phản ứng trong điều kiện không có xúc tác.
Ví dụ 2: Xét các hiđrua phi kim của các nguyên tố chu kì 2.
CH4 > NH3 > H2O > HF
Lực khử giảm dần
CH4 dễ dàng cháy trong O2 không khí; NH3 cháy trong O2 nguyên chất ; H2O không tác
dụng với O2 ; HF không phản ứng với O2.
t0

CH4 + O2KK

CO2 + 2H2O + 210,9 Kcal

4NH3 + 3O2

2N2 + 6H2O
t0

Bảng biến thiên lực khử trong chu kì và trong nhóm A
Độ âm điện tăng, lực khử giảm

(Bảng B.III)
Nhóm
Chu kỳ Bán
Năng lượng
lkết
kính
(KJ/mol) nguyên
tử
tăng, 2
độ
bền
3
phân
tử giảm
lực
4
khử
tăng

IVA

CH4
SiH4

VA

VIA

VIIA

NH3

H2O

HF

380

463

565

PH3

H2S

HCl

323

347

341

AsH3

H2Se

HBr

281

276

364

H2Te

HI

238

297
17

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012

C/. XÉT TÍNH OXY HÓA CỦA AXIT HnXOm
-Các oxy anion XOmn được tạo từ những nguyên tử oxi với nguyên tử của các nguyên
tố khác ( nguyên tử trung tâm ) hình thành các tổ hợp nguyên tử mang một hoặc nhiều điện
tích âm. Trong đó, tính chất nguyên tử trung tâm quy định tính chất của oxy anion . Nguyên
tử trung tâm luôn có số oxy hóa dương, nghĩa là chúng nhường electron khi hình thành liên
kết trong oxy anion .Vì thế tính chất đặc trưng của oxy anion là nhận thêm electron ( nghĩa
là thể hiện tính oxihóa )
Ví dụ: SO42  Cu  4 H   SO2  Cu 2  2 H 2 O
t0

4 NO3  C  4 H 

4NO2 + CO2 + 2H2O

Tuy nhiên nhiều nguyên tố trung tâm có nhiều mức oxy hóa . Với những oxy anion mà
nguyên tử trung tâm có mức oxy hóa trung gian thì chúng vừa thể hiện tính oxy hóa vừa
thể hiện tính khử.
Ví dụ: SO32  O2
4SO32 (t0)

2SO42
3SO42  S 2 

-Các yếu tố ảnh hưởng đến lực oxihóa của oxianion XOmn
+Tỷ lệ thuận với thế ion
+Tỷ lệ nghịch với độ bền phân tử
+Tỷ lệ thuận với độ âm điện của nguyên tố trung tâm X
+Phụ thuộc vào nồng độ và điều kiện phản ứng
Năm học 2010 – 2011 là năm học tiếp tục thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo
dục. Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo để học sinh noi theo.
Xây dựng trường học thân thiện và học sinh tích cực. Đổi mới phương pháp dạy học, nâng
cao chất lượng giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin.
Hiện nay, tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đang được quan tâm. Thực
hiện tích hợp trong dạy học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho việc góp phần hình thành, phát
triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.

18

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
Về bản chất, mỗi môn học là một lĩnh vực tri thức khoa học có tính liên ngành, bao
gồm một hệ thống những kiến thức cơ bản và cần thiết được kết hợp lại trên cơ sở nhiều
ngành khoa học và kỹ thuật hiện đại, người ta gọi đây là một hệ thống tri thức khoa học tích
hợp ( kết hợp lại với nhau, hòa nhập vào nhau, lồng ghép vào nhau).
Dạy học tích hợp được hình thành trên cơ sở của những quan niệm tích cực về quá
trình học tập và quá trình dạy học, thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục sẽ góp phần
phát triển tư duy tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề và làm cho việc học tập trở nên có ý
nghĩa hơn với học sinh so với việc học tập và thực hiện các mặt giáo dục một cách riêng rẽ.
Các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội vốn không tồn tại một cách rời rạc, đơn lẻ, chúng là
những thể tổng hợp hoàn chỉnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Các ngành khoa học đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho việc truyền thụ kiến thức của
giáo viên và sự tiếp nhận kiến thức của học sinh một cách tự giác. Cũng chính do đặc điểm
đó mà giáo dục bảo vệ môi trường được đưa vào nội dung giáo dục phổ thông chủ yếu bằng
con đường tích hợp, tức là liên kết, lồng ghép với các môn học có sẵn trong chương trình
giáo dục phổ thông một cách hợp lý, nhưng chủ yếu là môn Địa lý.
Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng các
nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất, bảo vệ môi trường hiện nay là một
trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu, ở nước ta bảo vệ môi trường cũng là vấn đề
được quan tâm sâu sắc.
Nhằm định hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ. Bộ giáo dục và đào tạo xây
dựng và đưa vào giảng dạy tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, trong
đó có môn Địa lý.
Đó là lý do vì sao tôi chọn đề tài: Một số phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong giảng dạy Địa lý 7.
I.2: Mục đích nghiên cứu:
- Khi giảng dạy tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào bộ môn Địa lý giúp học sinh
hiểu và nắm vững nội dung học tập hơn.

19

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
- Học sinh hiểu được mối quan hệ qua lại giữa các động lực môi trườngvà các nhân
tố khác của chất lượng cuộc sống và những quyết định hợp lý.
- có những hiểu biết về những hành vi thuộc về lĩnh vực môi trường , nhằm cải thiện
chất lượng cuộc sống của bàn than mình và gia đình, rộng hơn nữa là cộng đồng, quốc gia,
quốc tế và thế giới.
- Hình thành cho học sinh niềm tin dựa trên cơ sở khoa học về khả năng của con
người nói chung và của chính bản thân mình nói riêng trong việc điều khiển quá trình tái
sản xuất con người.
- Hình thành cho học sinh ý thức tự giác, tự nguyện đề ra cho mình những quyết định
đúng đắn, có ý thức trách nhiệm, có thái độ và hành động hợp lý về môi trường.
- Tránh sự trùng lặp, chồng chéo giữa các môn học. Do đó, tích hợp sẽ giúp cho việc
tiết kiệm được thời gian học tập và tránh sự nhàm chán trong học tập của học sinh.
- Giúp học sinh phát triển tư duy, năng lực hành động, năng lực vận dụng kiến thức
kỹ năng vào thực tế một cách có hiệu quả trên cơ sở hiểu bản chất của vấn đề.
- Làm cho nội dung học tập sinh động, hấp dẫn hơn.
- Giúp học sinh nhận thức thế giới một cách tổng thể và toàn diện hơn.
I.3: Thời gian và địa điểm.
- Thời gian: Áp dụng trong năm học 2009 – 2010. từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010.
- Địa điểm: học sinh khối lớp 7 tai trường THCS Nguyễn Công Trứ
I.4: Đóng góp mới về mặt lý luận và về mặt thực tiễn.
I.4.1: Cơ sở lí luận:
- Tích hợp trong dạy học Địa lý là sự vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng của
các phân môn của Địa lý tự nhiên và Địa lý kinh tế xã hội vào việc nghiên cứu tổng hợp về
Địa lý các châu lục, một khu vực một quốc gia. Mặt khác tích hợp cũng còn là việc sử dụng
các kiến thức, kỹ năng của các môn học khác có liên quan như nhau như: Lịch Sử, Sinh
Học … vào dạy học Địa lý, giúp học sinh hiểu và nắm vững các nội dung học tập nhằm
nâng cao chất lượng dạy học .

20

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh


Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay

Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012
- Làm cho học sinh thông hiểu và biết đánh giá đúng đắn tình hình môi trường hiện
nay ở nước ta và trên thế giới, nhận thức rõ ràng mối quan hệ giữa môi trường với phát
triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng của môi trường đối với chất lượng cuộc sống xã hội, gia
đình hiện tại và tương lai.
I.4.2: Cơ sở thực tiễn.
Trong thực tế giảng dạy, giáo viên chỉ chú trọng việc cung cấp những kiến thức mới,
những phần trọng tâm của bài học chứ chưa chú trọng lồng ghép những kiến thức phải tích
hợp, bởi vì những kiến thức phải tích hợp chỉ là một đơn vị nhỏ trong một bài học.
Giáo viên coi một Đơn vị kiến thức cần phải giảng dạy tích hợp là nằm trong bộ môn khác
sẽ giảng dạy nhưng môn Đ

21

Nguyễn Thị Thiện

Trường THPT Long Khánh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×