Tải bản đầy đủ

2018 tóm tắt luận văn cao hoc

LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Phạm Đình Sắc và PGS.TS. Nguyễn Văn Quảng, là những người Thầy đã
trực tiếp hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành bản luận văn
này. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi cũng nhận được giúp đỡ và chỉ bảo tận tình
của Quý Thầy, Cô trong Bộ môn Động vật học – Động vật không xương sống,
Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ và
giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên bản luận văn này khó tránh khỏi
những hạn chế, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè để có thể
tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và nghiên cứu về sau
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng
Học viên

Trần Thị Hằng

năm 2018



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn ..........................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn .........................................................................1
3. Nội dung nghiên cứu của Luận văn ........................................................................1
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn ....................................................2
4.1.

Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................2

4.2.

Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................2

CHƯƠNG 1................................................................................................................ 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................................... 3
1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về bọ cạp trên thế giới ..........................................3
1.2. Lịch sử nghiên cứu bọ cạp ở Việt Nam ............................................................... 4
1.3. Nghiên cứu bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ................ 5
1.4. Đặc điểm hình thái bọ cạp:................................................................................... 5
CHƯƠNG 2................................................................................................................ 6
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 6
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................................6
2.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................8
CHƯƠNG 3.............................................................................................................. 10
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN................................................................................. 10
3.1. Thành phần loài bọ cạp tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng ......................10
3.1.1. Danh sách các loài bọ cạp ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu ................... 10
3.1.2. Tỉ lệ phần trăm giống, loài ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu .................. 11
3.2. Mô tả đặc điểm hình thái của hai loài mới cho khoa học ..................................11
3.2.1. Loài Vietbocap aurantiacus sp. n. ................................................................. 11
3.2.2. Loài Vietbocap quinquemilia sp. n. ............................................................... 15
3.2.3. Thảo luận:........................................................................................................ 18


3.3. Đặc trưng phân bố của bọ cạp ............................................................................20
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 22
KIẾN NGHỊ ............................................................................................................. 23


TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 24
CÁC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN ......................... 27
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 28


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Danh sách loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm của giống và loài
Bảng 3: Kích thước phần bụng sau (mm) của loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
Bảng 4: Kích thước chân kìm (mm) của loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
Bảng 5: Kích thước (mm) của của mẫu cá thể cái đực và cá thể cái của loài
Vietbocap quinquemilia sp.
Bảng 6: Phân bố của loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu


DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1 : Hình thái bên ngoài của bọ cạp
Hình 2: Bản đồ vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Hình 3: Bọ cạp phát quang dưới ánh sáng đèn UV
Hình 4: Loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
Hình 5: Đặc điểm chân xúc giác và chân kìm loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
Hình 6: Loài Vietbocap quinquemilia sp. n.
Hình 7: Chân kìm và chân xúc giác của loài Vietbocap quinquemilia sp. n.
Hình 8: Tác giả thu mẫu tại động Thiên Đường
Hình 9: Loài Lychas mucronatus (Fabricius, 1798),
Hình 10: Loài Liocheles australasiae
Hình 11: Loài Vietbocap thienduongensis Lourenco & Pham, 2012
Hình 12: Loài Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn
Trên thế giới, bọ cạp đã ghi nhận được trên 2000 loài. Bọ cạp có giá trị cao
trong kinh tế, y dược học và góp phần cân bằng sinh học [14, 40].
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu vực có địa hình đặc trưng bởi hệ
thống núi đá vôi và có nhiều hệ thống hang động. Bọ cạp là động vật rất đặc trưng
cho sinh cảnh núi đá vôi cũng như hang động, trong khi các nghiên cứu về bọ cạp ở
khu vực này còn ít và rải rác. Đến nay, mới chỉ có một vài khảo sát bước đầu thực
hiện, kết quả đã ghi nhận được 2 loài mới cho khoa học. Chính vì vậy việc điều tra,
khảo sát về bọ cạp làm cơ sở để bảo vệ, khai thác và sử dụng chúng một cách hợp lý
ở khu vực này là rất quan trọng. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu
thành phần loài, phân bố của bộ bọ cạp (Scorpiones) ở Vườn quốc gia Phong
Nha – Kẻ Bàng”
2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Nhằm có được những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ hơn về tính đa dạng thành
phần loài, đặc điểm phân bố của bọ cạp ở khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng chúng phục
vụ đời sống con người.
3. Nội dung nghiên cứu của Luận văn
- Xác định thành phần loài bọ cạp ở khu vực nghiên cứu, loài mới cho khu
vực nghiên cứu và loài mới cho khoa học;
- Mô tả đặc điểm loài mới cho khoa học (nếu có);
- Tìm hiểu đặc trưng phân bố của bọ cạp ở khu vực nghiên cứu theo sinh
cảnh (rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây
bụi, hang động) và theo mùa (mùa mưa và mùa khô).

1


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu các loài thuộc bộ bọ cạp (Scorpiones), lớp hình nhện

(Arachnida), phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành chân khớp
(Arthropoda).
4.2.

Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ

Bàng, tỉnh Quảng Bình (bao gồm cả vùng lõi và khu vực mở rộng).

2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về bọ cạp trên thế giới
Nói đến lịch sử nghiên cứu bọ cạp không thể không nói đến sự đóng góp của
các thầy thuốc phương Đông. Từ xa xưa trong khi người phương Tây còn đang nhìn
bọ cạp với ánh mắt đầy ác cảm, thậm chí căm thù và tìm cách tiêu diệt chúng thì
người phương Đông, đặc biệt là người Trung Hoa, Việt Nam đã có cách nhìn hoàn
toàn khác về chúng. Với quan điểm dĩ độc trị độc" các thầy thuốc phương Đông đã
đầu tư nghiên cứu về chúng và sử dụng để chữa bệnh cho con người [1, 3].
Một số nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về hình thái, sinh thái, sinh học
của các loài bọ cạp như: Ab Delkrim (1977) nghiên cứu về hình thái, sinh thái của
các loài bọ cạp ở Tunisie; Mahsberg (1994) nghiên cứu về sinh học, sinh thái học
của bọ cạp Emperor; Venkatanarasimhaiah, Rajasekarasetty (1964) nghiên cứu sâu
về tế bào của một số loài bọ cạp ở Ấn Độ, đặc biệt chú ý tới số lượng nhiễm sắc thể
của các loài này; Sasirababu và các đồng sự (1988) nghiên cứu về hoạt động ngày
đêm của bọ cạp Hetecometrus flavipes trong các chế độ chiếu sáng khác nhau; Fred
(1991) nghiên cứu về ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm
tới tỷ lệ sống sót cũng như hoạt động trao đổi chất của bọ cạp Centruroides henzi;
Stahuke (1971) nghiên cứu về sinh học của bọ cạp Centruroides marka và C.
sculpturatus. Ngoài ra các đặc điểm hình thái, sinh học của bọ cạp còn được đề cập
đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác của Pháp[36].
Một lĩnh vực cũng thu hút khá nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ
những năm 60,70 của thế kỷ 20 là nọc độc của bọ cạp và ảnh hưởng của nó tới sức
khỏe con người.
Nói đến bọ cạp không thể không nói đến sự đóng góp của các nhà nghiên
cứu Nga. Đó là Gijiaropva, Pravdina (1984), Maricovxkii (1954), Taluwdin (1970)
với các nghiên cứu về sinh học của bọ cạp Buthus eupeus ở Azerbaidzan; Orlov và
các đồng sự (1968, 1971, 1985), Kamenxkaia (1982), Xutanov (1963, 1972),

3


Barcazan (1959), Varlamov (1940), Ovtrinnhicov (1980) với các nghiên cứu về nọc
độc bọ cạp, cơ chế tác động của nó, phương pháp điều trị, …
Cho đến năm 2011, thế giới đã công bố 2.068 loài thuộc 65 họ bọ cạp
(Zhang, 2011)[40].
1.2. Lịch sử nghiên cứu bọ cạp ở Việt Nam
Nghiên cứu về bọ cạp ở các nước Đông Dương được thực hiện bởi các nhà
khoa học người Pháp, chỉ mới được bắt đầu từ thế kỉ 20.[34]
Các nghiên cứu về bọ cạp ở Việt Nam còn rất ít và rải rác. Lê Xuân Huệ và
cộng sự (1998) đã ghi nhận có 8 loài thuộc 3 giống 2 họ bọ cạp phân bố ở khu vực
phía Nam Việt Nam [9].
Những năm sau đó, Lourenco & Phạm (2010, 2012, 2013, 2014a, 2014b,
2015a, 2015b) đã công bố 1 giống, 1 phân giống và 7 loài bọ cạp mới cho khoa học.
Như vậy, cho đến nay, Việt Nam mới ghi nhận được 31 loài bọ cạp (Pham, Tran &
Lourenco, 2017) [27, 29-32].
Nghiên cứu về hình thái, sinh học, sinh thái và nhân nuôi của bọ cạp Việt
Nam, kết quả cho thấy Bọ cạp đen loài H. spinnifer và bọ cạp nâu loài Lychas
mucronatus trong quá trình sống đều trải qua 5 lần lột xác. Chiều dài cơ thể của bọ
cạp trưởng thành nuôi trong phòng thí nghiệm nhỏ hơn ngoài tự nhiên. [11]
Nọc của bọ cạp Việt Nam đã được chú ý nghiên cứu. Lê Xuân Huệ và cộng
sự phân tích thành phần, tính chất, độ độc của nọc bọ cạp ở Việt Nam. Kết quả cho
thấy nọc bọ cạp có thể khai thác quanh năm 2 lần/ tháng. Bọ cạp nâu có thể khai
thác từ 0,13-0,28 mg nọc khô/ lần/ con, bọ cạp đen từ 1,38-2,56 mg nọc khô/ lần/
con[8, 10].
Gần đây, nghiên cứu của Phạm Đình Sắc và cộng sự (2017) về thành phần và
phân bố của các loài bọ cạp tại Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra các số liệu thống kê
chi tiết về số lượng loài, đặc tính sinh sống cũng như vị trí sinh sống của các loài bọ
cạp [27, 29-32].

4


1.3. Nghiên cứu bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Cho đến nay, nghiên cứu về bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng còn rất ít và rải rác. Chỉ có vài nghiên cứu về bọ cạp trong hang động tại
khu vực này, kết quả đã công bố 1 giống và 2 loài mới cho khoa học (Vietbocap
thienduongensis Lourenco & Phạm, 2012 và Vietbocap canhi Lourenco & Phạm,
2010). Chưa có khảo sát nào về bọ cạp ở sinh cảnh rừng ở khu vực Vườn Quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng[28, 31].
Hai loài bọ cạp hang động, Vietbocap thienduongensis Lourenco & Phạm và
Vietbocap canhi Lourenco & Phạm được xác định đang ở tình trạng bị đe dọa, có
nguy cơ biến mất nếu không được bảo tồn (Lourenco & Phạm, 2012)[28].
1.4. Đặc điểm hình thái bọ cạp:
Cơ thể bọ cạp chia ra 2 phần: phần đầu ngực và phần bụng (Hình 1). Phần
đầu ngực bao gồm mặt lưng, mặt bụng, các mắt, chân kìm, miệng (môi trên và môi
dưới), các chân bò và chân xúc giác. Phần bụng chia ra 2 phần là phần bụng trước
và phần bụng sau (còn gọi là đuôi); phần bụng bao gồm bộ phận sinh dục, đôi tấm
lược, các lỗ thở (phổi sách), hậu môn và kim độc.

Hình 1 : Hình thái bên ngoài của bọ cạp
(theo Encyclopædia Britannica)
a: mặt lưng; b: mặt bụng

5


CHƯƠNG 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm (2016 - 2017). Thu theo 2 đợt:
- Đợt 1: từ 10 – 25 tháng 9 năm 2016 (mùa mưa)
- Đợt 2: từ 5 – 20 tháng 4 năm 2017 (mùa khô)
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

Hình 2: Bản đồ vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng [15]
Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng có tọa độ từ 17°21’12’’ tới 17°44’51’’
vĩ bắc và từ 105°46’33’’ tới 106°23’19’’ kinh đông, nằm trong địa bàn các xã Tân
Trạch, Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch và Sơn Trạch thuộc huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.[15]
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có tổng diện tích là 343.391 ha, trong
đó vùng lõi là 123.336 ha và vùng đệm là 220.055 ha.[15]
Đặc điểm khí hậu

6


Khí hậu ở Vườn Quốc gia này mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nóng và ẩm. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-25 °C, với nhiệt độ cao nhât là 41
°C vào mùa hè và mức thấp nhất có thể xuống 6 °C vào mùa đông.
Đặc điểm địa hình – địa chất – thổ nhưỡng
Phong Nha - Kẻ Bàng hiện tại là kết quả tổng hợp của 4 giai đoạn phát triển
lớn trong lịch sử phát triển vỏ Trái đất trong vùng:
1) Giai đoạn Devon (410 - 355 triệu năm)
2) Giai đoạn Devon muộn - Carbon sớm (370 - 320 triệu năm)
3) Giai đoạn Carbon – Permi (355 - 250 triệu năm)
4) Giai đoạn Mesozoi (250 - 65 triệu năm)
Địa hình hiện nay của vùng Phong Nha - Kẻ Bàng là hệ quả của chuyển động
kiến tạo Cenozoi và các quá trình địa chất ngoại sinh như xói mòn và quá trình
Karst do hoạt động của nước diễn ra trong suốt 65 triệu năm trở lại đây thể hiện qua
sự phân bậc địa hình.
Địa hình khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá
vôi chiếm hầu hết diện tích, nhìn tổng quát trong khu vực có 3 dạng địa hình tiêu
biểu: Địa hình phi Karst, địa hình chuyển tiếp, địa hình Karst
Về thổ nhưỡng, khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có nhiều hoại
đất hình thành từ các nguồn đá mẹ khác nhau. Đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng trên
núi đá vôi, đất Feralit vàng trên đá mácma axít, đất Feralit vàng nhạt và đất phù sa
bồi tụ ven sông.
Đa dạng sinh học
Chính do đặc điểm khí hậu, địa chất, địa hình - địa mạo như vậy cho nên Vườn
Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có đa dạng sinh học rất cao, có thể nói là cao nhất
của Việt Nam.
3.1. Về khu hệ thực vật:

7


Với 96,2% rừng kín thường xanh che phủ cho Vườn, trong đó rừng nguyên
sinh chiếm 92,2%. Đây là một tỷ lệ lớn nhất trong các khu rừng đặc dụng của nước
ta. Đặc biệt ở đây có loài Bách xanh núi đá là loài đặc hữu phân bố trên núi đá vôi
có độ cao lớn 700 - 1000m. Tại cây số 37 Đường 20 Quyết Thắng về phía Nam có
một cánh rừng Bách xanh này với diện tích hơn 2.400 ha với những cây cao 2030m. Loài Bách xanh này là loài có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới nhưng ở
Phong Nha - Kẻ Bàng lại phong phú với nhiều cây có tuổi trên 500 năm[14]
3.2. Về khu hệ động vật:
Do đặc điểm nằm chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc nước ta và các đặc
điểm khác, khu hệ động vật Phong Nha - Kẻ Bàng cũng rất phong phú, nó đại diện
cho khu hệ Bắc Trường Sơn và gồm đủ các loại: thú, chim, cá, dơi, bò sát - ếch
nhái, côn trùng với 813 loài động vật có xương sống. Trong đó có 76 loài động vật
được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và 35 loài được liệt kê trong IUCN [15].
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp kế thừa
Thu thập, phân tích, xử lý các mẫu vật, số liệu, dẫn liệu điều tra và các thông
tin khoa học đã có từ trước liên quan đến các đối tượng nghiên cứu tại địa bàn
nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp điều tra, thu thập mẫu ngoài thực địa
- Phương pháp thu mẫu:
Thu mẫu bọ cạp chủ yếu bằng phương pháp quan sát và thu bắt bằng panh.
Bọ cạp hoạt động vào ban đêm nên chủ yếu thu mẫu vào ban đêm. Ban đêm, bọ cạp
thường phát quang, nên sử dụng đèn UV để phát hiện và thu bắt bọ cạp. Ngoài ra,
có thể kết hợp thu bọ cạp bằng bẫy hố và rây lá rác[17].

8


Hình 3: Bọ cạp phát quang dưới ánh sáng đèn UV
(Ảnh: Trần Thị Hằng)

- Nghiên cứu phân bố:
+ Nghiên cứu được tiến hành ở 5 sinh cảnh điển hình tại khu vực, bao gồm:
rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây bụi,
hang động
+ Điều tra thu thập mẫu vật theo mùa: mùa mưa và mùa khô
2.2.3. Phương pháp xử lí mẫu và định loại trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật được bảo quản trong cồn 75%.
Định loại dựa theo các tài liệu chuyên ngành của Pocock (1941), Couzijn
(1981), Lourenco và cs (2011, 2013, 2014),… và được giám định bởi PGS Phạm
Đình Sắc và GS Wilson Lourenco.

9


CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài bọ cạp tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng
3.1.1. Danh sách các loài bọ cạp ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích, định loại mẫu vật thu được, chúng tôi đã ghi nhận được 6
loài thuộc 3 giống, 3 họ bọ cạp tại khu vực nghiên cứu (bảng 1).
Trong 6 loài ghi nhận được, bao gồm 2 loài mới cho khoa học (Vietbocap
aurantiacus sp.n., Vietbocap quinquemilia sp.n.) và 1 loài mới cho khu vực nghiên
cứu (Liocheles australasiae).
Bảng 1: Danh sách loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu
Phân bố ở Việt Nam

TT Tên loài
I. Họ Hormuridae, Laurie, 1896

1

Liocheles australasiae (Fabricius, 1775)

- Đồng Nai: Vĩnh Cửu
- Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng (ghi nhận mới cho khu
vực nghiên cứu)

II. Họ Buthidae, C. L. Koch, 1837
2

Lychas mucronatus (Fabricius, 1798)

- Phân bố rộng

III. Họ Pseudochactidae, Gromov, 1998
3
4
5

6

- Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng, động Tiên Sơn
Vietbocap thienduongensis Lourenco & - Quảng Bình: VQG Phong Nha
Pham, 2012
Kẻ Bàng, động Thiên Đường
Vietbocap aurantiacus sp. n. Lourenco, - Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng, động Thiên Đường
Trần & Phạm, 2018
(loài mới cho khoa học).
Vietbocap quinquemilia sp. n. Lourenco, - Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng, động Thiên Đường
Trần & Phạm, 2018
(loài mới cho khoa học).
Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010

10


3.1.2. Tỉ lệ phần trăm giống, loài ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu
Từ dẫn liệu thu được ta thấy số lượng thành phần loài bọ cạp ở khu vực
nghiên cứu còn tương đối ít. Trong đó, họ Pseudochactidae có số lượng loài chiếm
ưu thế nhất với 4 loài (chiếm 66.6% tổng số loài); họ Hormuridae và Buthidae đều
có 1 loài (chiếm 16.7% tổng số loài)
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm của giống và loài
STT Họ

Giống

Loài

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ

1

Hormuridae

1

33.3

1

16.7

2

Buthidae

1

33.3

1

16.7

3

Pseudochactidae

1

33.3

4

66.6

Tổng số

3

100

6

100

3.2. Mô tả đặc điểm hình thái của hai loài mới cho khoa học
3.2.1. Loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
Mẫu vật:
Mẫu bọ cạp cái (holotype), 2 mẫu bọ cạp cái (paratypes). Mẫu vật được thu ở
giữa hang động Thiên Đường (17°31’10.3” Bắc -106°13’22.9”Đông), thuộc Vườn
Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình; cách cửa vào khoảng 3000m.
Màu sắc:
Cơ thể của loài có màu vàng da cam, đậm hơn các loài khác trong cùng
giống; chân kìm, gai đuôi, và gờ ở phần bụng sau có màu đỏ sậm.
Danh pháp:
Loài này được đặt theo một tính từ Latin liên quan đến màu da cam của loài
mới này.

11


Hình 4: Loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
A: mặt lung, B: mặt bụng
(Ảnh: Lourenco, Trần & Phạm, 2018)
Đặc điểm hình thái
Phần đầu ngực:
Mặt lưng: Giáp đầu ngực có hình thang cân. Giữa giáp có 1 rãnh dọc chia giáp
thành 2 phần đều nhau. Bọ cạp không có mắt.
Mặt bụng: Bề mặt bụng nhẵn, không có cấu trúc hạt, chỉ phân bố một số lông tơ.
Phần bụng trước:
Mặt lưng: mỗi đốt mặt lưng có 2 dải chạy ngang. Từ đốt 1 đến đốt 5 có một gờ nổi
mờ chạy dọc giữa lưng. Đến đốt 6 gờ này chỉ chạy tới 1/3 đốt thì dừng lại.
Mặt bụng: mặt bụng bọ cạp nhẵn, không có gờ hay các hạt nhỏ. Mỗi đốt mặt bụng
có 2 dải màu chạỵ ngang: dải màu nhạt phía trên, dải màu đậm phía dưới.
Phần bụng sau:
Khác với phần bụng trước, các đốt đuôi của phần bụng sau không có các hạt
nhỏ trên bề mặt. Bề mặt bụng sau nhẵn, có lông tơ trải đều. Trên các đốt đuôi có

12


nhiều gờ răng cưa, số lượng các gờ răng cưa ở các đốt của đuôi bọ cạp không giống
nhau. Đốt Telson có nhiều lông dài, mọc thành cụm.

Hình 5: Đặc điểm chân xúc giác và chân kìm loài Vietbocap aurantiacus sp. n.
(A: Đốt chuyển chân xúc giác. B: Các đốt IV–V và đốt telson phần bụng sau.
C: Chân kìm. D–F: dãy hạt và lông. D: Đốt gốc chân xúc giác)
(Ảnh: Lourenco)
Các phần phụ:
Đôi chân kìm: Chân kìm mập, chắc và khỏe.
Đôi chân xúc giác: Đốt chuyển chân xúc giác cong, mặt trong có hệ thống hạt tạo
thành đường gờ nổi. Các đốt IV-V của chân xúc giác có các chấm nhỏ chạy thành
các hang dọc và có một số lông cứng. Đốt gốc chân xúc giác có nhiều lông cứng.
Các đôi chân bò: Trên các đốt của các đôi chân bò đều có các lông dài và lông tơ
mềm và mỏng, tuy nhiên số lượng của chúng không giống nhau trên các đốt.
Đôi nắp sinh dục: Hai nắp sinh dục của bọ cạp có hình bầu dục. Các nắp sinh dục
che kín 2 lỗ sinh dục của bọ cạp.

13


Đôi tấm lược: đôi tấm lược được gắn trên 2 cạnh bên của tấm cơ sở. Tấm này có
như hình chiếc lược.
Kích thước:
Tổng chiều dài: 35,8 mm; đầu ngực dài: 4,5mm; đầu ngực chiều rộng:
2,7mm. Chiều dài phần bụng trước: 8,4 mm.
Bảng 3: Kích thước phần bụng sau (mm) của loài Vietbocap
aurantiacus sp. n.

Đốt bụng

Độ sâu

Chiều dài

Chiều rộng

I

1,9

2,2

II

2,2

1,9

III

2,5

1,8

IV

3,2

1,7

V

6,3

1,6

1,4

Telson

6,8
2,2

1,9

Kim độc

Bảng 4: Kích thước chân kìm (mm) của loài Vietbocap aurantiacus
sp. n.

Dài

Rộng

Đốt đùi

6,0

1,3

Đốt gối

5,5

1,6

Kìm

10,6

1,7

Đốt chuyển

6,3

14

Độ sâu

1,6


3.2.2. Loài Vietbocap quinquemilia sp. n.
Mẫu vật:
Mẫu đực holotype và 2 mẫu cái paratype. Mẫu vật được thu ở giữa hang
động Thiên Đường (17°31’10.3” Bắc -106°13’22.9”Đông), thuộc Vườn Quốc Gia
Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình; cách cửa vào khoảng 5000m.
Màu sắc:
Các cá thể thuộc loài này có màu vàng rất nhạt, gần như màu trắng, màu sắc
nhạt hơn các loài trong cùng giống. Các răng trên chân kìm, kim nọc và các hạt trên
chân kìm màu nâu đỏ.
Danh pháp:
Tên loài này được đặt theo danh từ Latin, liên quan đến khoảng cách từ cửa
động đến vị trí bắt gặp 5000m, trong tiếng Latin là qinquemilia.
Đặc điểm hình thái học:
Đặc điểm hình thái tương tự loài Vietbocap aurantiacus nhưng khác ở một
số điểm: Chân kìm có nhiều vuốt, với 4 vuốt trên đốt 2 và 7 vuốt trên đốt 3. Trên
đốt chuyển chân xúc giác có 6 gai nhọn. Đốt telson của chân xúc giác có rất nhiều
lông cứng, phần gốc của đốt telson có mấu màu đỏ thẫm.

15


Hình 6: Loài Vietbocap quinquemilia sp. n.
A: mặt lung, B: mặt bụng
(Ảnh: Lourenco, Trần, Trần & Pham, 2018)

Hình 7: Chân kìm và chân xúc giác của loài Vietbocap quinquemilia sp. n.
(A: Chân kìm. B: Đốt chuyển chân xúc giác. C–D. Đốt V và đốt telson của phần
bụng sau)
(Ảnh: Lourenco)
Kích thước:

16


Bảng 5: Kích thước (mm) của của mẫu cá thể cái đực và cá thể cái của
loài Vietbocap quinquemilia sp. n.

Con đực

Con cái

Tổng chiều dài

25,4

20,2

Đầu ngực dài

3,2

2,5

Đầu ngực rộng trước

2,0

1,8

Đầu ngực rộng sau

3,3

2,7

Chiều dài bụng trước

7,4

6,1

1,2

1,0

1,6

1,2

1,4

1,2

1,4

1,0

1,6

1,3

1,3

0,9

2,1

1,6

1,2

0,8

Chiều dài đốt bụng
sau I
Chiều rộng đốt bụng
sau I
Chiều dài đốt bụng
sau II
Chiều rộng đốt bụng
sau II
Chiều dài đốt bụng
sau III
Chiều rộng đốt bụng
sau III
Chiều dài đốt bụng
sau IV
Chiều rộng đốt bụng
sau IV

17


Chiều dài đốt bụng

4,2

3,2

1,2

0,8

Đốt telson

4,3

3,3

Kim độc

1,4

1,1

4,1

2,9

1,0

0,8

4,0

3,1

1,1

0,9

Chiều dài kìm

7,5

5,7

Chiều rộng kìm

1,2

1,0

4,4

3,4

sau V
Chiều rộng đốt bụng
sau V

Chiều dài đốt đùi
Chân kìm
Chiều rộng đốt đùi
Chân kìm
Chiều dài đốt gối
Chân kìm
Chiều rộng đốt gối
Chân kìm

Chiều dài đốt chuyển
chân kìm

3.2.3. Thảo luận:
Năm 2010, Wilson Lourenco và Phạm Đình Sắc đã công bố giống bọ cạp
mới cho khoa học (tên khoa học là Vietbocap, còn gọi là bọ cạp Việt Nam), dựa
trên mẫu vật thu được tại động Tiên Sơn, tên khoa học của loài là Vietbocap canhi.
Năm 2012, khảo sát đã phát hiện được loài bọ cạp thứ hai thuộc giống
Vietbocap tại động Thiên Đường, loài Vietbocap thienduongensis. Loài bọ cạp thiên
đường được phát hiện tại vị trí cách cửa động 300 m.

18


Khảo sát tiếp theo trong năm 2016 và 2017, tại động Thiên Đường, chúng tôi
tiếp tục thu thập được một số mẫu bọ cạp thuộc giống Vietbocap. Thêm vào đó,
không chỉ những hang động khác nhau, mà tại các vị trí trong cùng hang động các
quần thể bọ cạp hoàn toàn cô lập với nhau, thuộc về những phần riêng biệt trong hệ
thống hang động.
Chúng tôi phân tích mẫu vật thu được ở vị trí cách cửa động Thiên Đường
3000m, tức là cách vị trí của loài Vietbocap thienduongensis 2700m, thấy có sự
khác biệt ở một số đặc điểm hình thái.
Mặc dù Vietbocap thienduongensis và Vietbocap aurantiacus sp.n. là hai loài
gần gũi về địa lý được tìm thấy trong cùng một hang động, tuy nhiên, loài
Vietbocap aurantiacus có những điểm khác biệt bởi một số đặc điểm như: (i) kích
thước lớn hơn (35,8 mm trong khi loài Vietbocap thienduongensis chỉ có kích thước
23,9 mm) và các đặc điểm hình thái khác biệt (nhìn kích thước và tỉ lệ trong phần
mô tả), (ii) màu sẫm hơn, vàng cam đậm hơn, (iii) mép trước của đầu ngực không
sụp xuống, (iv) chiều dài mảnh bụng lớn hơn chiều rộng, (v) đốt sau bụng và chân
kìm sờ có gờ và hạt, (vi) Đốt bụng V có vùng tam giác màu trắng phồng lên, (vii) có
bờ răng cưa trên ngón chuyển động của chân kìm.
Các mẫu vật loài Vietbocap quinquemilia sp.n. được tìm thấy cách cửa động
5000km,

tức



cách

vị

trí

ghi

nhận

được

của

loài

Vietbocap

aurantiacus sp.n. 2000m. Các đặc điểm hình thái chung mặc dù giống nhau nhưng
cũng có một số đặc điểm khác nhau. Loài Vietbocap quinquemilia có mối quan hệ
gần gũi hơn với loài V. thienduongensis. Loài này đặc trưng ở một số đặc điểm như:
(i) kích thước nhỏ (chỉ có 20,2mm đối với con cái) và kích thước cơ thể, (ii) màu
sắc cơ thể rất nhạt (gần như màu trắng), đây là loài có màu sắc nhạt nhất trong số
các loài đã biết thuộc giống này, (iii) vị trí vùng mắt không hình thành mấu, (iv)
vuốt chân kìm khác biệt về hình dáng, (v) đốt bản của chân bò mảnh.
Vietbocap, cũng như các giống khác trong họ Pseudochactidae, được cho
rằng là giống cơ bản nhất trong số bọ cạp đã biết. Kể cả khi không phải tất cả các

19


tác giả đồng ý về vị trí phát sinh chính xác của các giống thuộc họ Pseudochactidae,
họ vẫn đồng ý rằng là giống cơ bản nhất. Quần thể Vietbocap được tìm thấy trong
động Thiên Đường đã chỉ ra sự giống nhau của việc thích nghi với sự hạn chế của
hang động: mắt tiêu giảm hoàn toàn, trong một số trường hợp sự thoái hóa của các
sắc tố rất rõ rệt.
Như đã biết, động Thiên Đường là một hang động lớn với 31 km chiều dài,
độ cao 100 m và chiều rộng là 150m, hầu hết các thông số vật lý như nhiệt độ
không khí, độ ẩm khá giống nhau. Tuy nhiên, lịch sử địa chất của hệ thống hang
động rất cổ và có nhiều thăng trầm trong thời gian địa chất, có thể gây ra các tình
trạng sụt lún tạo các ngăn cách (rào cản) của từng khi vực, có thể thời gian đủ dài để
diễn ra quá trình biệt hóa đầy đủ. Tuy nhiên, không có bất kì dữ liệu nào để xác
nhận giả thuyết này.
Rất khó để ước tính từ các nghiên cứu hình thái học về quần thể Vietbocap
đang sống tại động Thiên Đường này, mức độ phân biệt chính xác của chúng là gì.
Quá trình phân biệt và biệt hóa trong bọ cạp có lẽ là khá chậm, ít thế hệ được sinh
ra hơn khi so sánh với các loài chân khớp khác. Do đó, câu hỏi cần được giải quyết
là: Liệu chúng ta đang phải đối mặt với các loài, phân loài hay là biến thể của một
loài đa hình lớn. Đối với 3 loài trong quần thể này, hiện trạng cụ thể ở đây được gợi
ý là liên quan đến phân bố, mặc dù số lượng mẫu vật có sẵn là nhỏ để đánh giá một
cách mạnh mẽ sự khác biệt quan sát được. Phương pháp sử dụng sinh học phân tử
cần thiết để đánh giá một cách chính xác sự khác biệt giữa các loài đã được công
nhận.
3.3. Đặc trưng phân bố của bọ cạp
Đánh giá về đặc trưng phân bố của các loài bọ cạp, chúng tôi khảo sát bọ cạp
ở 5 loại sinh cảnh đặc trương của VQG Phong Nha Kẻ Bàng, bao gồm: rừng tự
nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây bụi, hang
động. Chúng tôi cũng đã khảo sát bọ cạp theo mùa là mùa mưa và mùa khô. Kết quả
ghi nhận được ở bảng.

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×