Tải bản đầy đủ

Chat luong nong san thuc pham

CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN THỰC PHẨM
2.1. Nông sản thực phẩm là gì?
Nông sản thực phẩm là sản phẩm đóng vai trò dinh
dưỡng đối với người và động
vật.
2.2. Chất lượng thực phẩm
Chất lượng thực phẩm là các đặc tính của thực phẩm
được người tiêu dùng chấp
nhận. Nó bao gồm các yếu tố bên ngoài (kích cỡ,
hình dáng, màu sắc, độ bóng và độ
chắc), cấu trúc và mùi vị; các yếu tố bên trong (vật
lý, hoá học, vi sinh vật).
Chất lượng thực phẩm là một yêu cầu quan trọng
trong sản xuất thực phẩm bởi vì
người tiêu thụ thực phẩm rất nhạy cảm với việc
nhiễm bẩn xảy ra trong quá trình sản


xuất. Nhiều khách hàng còn phản hồi về các tiêu
chuẩn chế biến và sản xuất, đặc biệt
là thành phần, chế độ ăn, nhu cầu dinh dưỡng (ăn

kiêng, ăn chay, chữa bệnh...). Bên
cạnh thành phần dinh dưỡng, chất lượng thực phẩm
còn yêu cầu về an toàn vệ sinh
thực phẩm. Điều này đòi hỏi môi trường sản xuất
phải an toàn. Chất lượng thực phẩm
còn đòi hỏi về hình thức bao gói, nhãn mác; trên bao
bì cần ghi đúng thành phần dinh
dưỡng và giá trị dinh dưỡng.
2.2.1. Chất lượng của rau quả
2.2.1.1. Ý nghĩa của chất lượng
Rau quả là nguồn thức ăn quan trọng, là một phần
quan trọng của sản phẩm nông
nghiệp trên thế giới, mặc dù sản lượng của chúng nhỏ
hơn so với hạt nông sản. Thành


phần trong rau quả bao gồm: glucid dễ tiêu hóa, muối
khoáng, vitamin, đặc biệt là
vitamin A và C.
Khi xem xét thực phẩm tươi, đa số người ta có thể
phân biệt được sự khác nhau
giữa một sản phẩm có chất lượng tốt và một sản
phẩm có chất lượng không tốt. Chất
lượng là một yếu tố quan trọng trong việc sản xuất và
tiêu thụ của một sản phẩm sinh
học. Người tiêu thụ trên nhiều nước ngày càng nhận
thức rõ ảnh hưởng của chất lượng
sản phẩm, vì vậy, nhà cung cấp cần phải nắm bắt
những yêu cầu của người tiêu dùng
nếu muốn duy trì và tăng thị phần.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000, chất lượng được định
nghĩa là tất cả những đặc tính của
sản phẩm có khả năng làm thoả mãn nhu cầu.


Chất lượng có thể được đánh giá thông qua yêu cầu
của người tiêu dùng. Trong
trường hợp này, người tiêu dùng là con người hoặc
một tổ chức nhận được tại mỗi
điểm trong một chuỗi sản phẩm. Điều này là quan


trọng bởi vì chất lượng được đánh
giá khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi người tiêu dùng.
Người tiêu dùng mua trái cây thường
dựa vào bề ngoài của sản phẩm như hình dáng, độ
cứng, màu sắc... Sau đó họ tiếp tục
đánh giá trái cây khi ăn (vị, cấu trúc) cùng như khả
năng duy trì chất lượng của nó ở
nhà. Bao gói cũng góp phần làm tăng giá trị của trái
cây (để trần hay dễ mở...).
Công nghệ đã giúp cho các nhà xuất khẩu cung cấp
trên thị trường thế giới sản


phẩm chất lượng tốt. Có khi công nghệ còn có thể
giới thiệu và mở rộng thị trường bao
gồm giới thiệu cả sản phẩm nông sản mới và tiêu
chuẩn chất lượng đối với các sản
phẩm này.


Kế hoạch quản lý chất lượng và an toàn nông sản
Xác định các thực hành nhằm quản lý chất lượng và
an toàn sản phẩm trong
quá trình sản xuất, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch
trong một kế hoạch chất
lượng và an toàn sản phẩm cho từng loại cây trồng.
Kế hoạch quản lý chất lượng
và an toàn sản phẩm nhằm kiểm soát các nguy cơ làm
giảm chất lượng và an toàn
là khác nhau cho các loại nông sản. Kế hoạch bảo
gồm các kỹ thuật trồng, thu
hoạch, xử lý và vận chuyển sản phẩm. Chủ trang trại
cần phải xác định các kỹ
thuật cần thiết và bắt buộc để quản lý chất lượng và
an toàn nông sản và mô tả các
kỹ thuật đó trong một kế hoạch chi tiết.


Một kế hoạch quản lý chất lượng và an toàn cần có
các thông tin cơ bản sau:
+ Bước tiến hành: các bước tiến hành trồng, thu
hoạch và xử lý sau thu hoạch
+ Nguy cơ mất chất lượng và an toàn: Tổn thất về
chất lượng và an toàn nông sản
xẩy ra khi thực hiện không đúng các bước tiến hành.
+ Nguyên nhân gây mất chất lượng và an toàn nông
sản: Làm sai bước tiến hành
gì sẽ dẫn đến mất chất lượng nông sản và an toàn
nông sản?
+ Các thực hành: các phướng pháp kiểm soát/thực
hiện, hoạt động giám sát cần
thiết để giảm thiểu sự rủi ro nguy cơ giảm chất lượng
và an toàn nông sản xẩy ra.


. Tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng
nông sản
Theo dự báo của Tổ chức Nông lương Thế giới
(FAO), hiện nay nhu cầu tiêu thụ
các mặt hàng nông sản trên thế giới ngày càng tăng
do mức tăng trưởng kinh tế và dân
số giai đoạn 2005-2010 cao. Đó là cơ hội của nông
sản Việt Nam. Do đó, việc xây
dựng những tiêu chuẩn quản lý chất lượng nông
phẩm không chỉ thúc đẩy nông sản nội
tiến lên mà còn là hàng rào hữu hiệu bảo vệ khả năng
lây lan dịch bệnh từ hàng nông
sản ngoại. Có thể khẳng định, xây dựng và quản lý
tốt chất lượng nông sản là con
đường tất yếu để nông sản VN hội nhập thành công.
Khi Việt Nam trở thành thành viên WTO thì một cơ
hội lớn sẽ được mở ra để thâm


nhập vào thị trường nông sản thế giới trị giá 548 tỷ
USD/năm. Tuy nhiên, chỉ riêng khu
vực châu Á cũng có ít nhất gần một tỷ tấn nông sản
đang chờ VN mở cửa, báo hiệu
cuộc cạnh tranh nảy lửa ngay trên "sân nhà".
Là một cường quốc xuất khẩu nông sản như gạo, cà
phê, hồ tiêu… với mức tăng
trưởng xuất khẩu hằng năm lên đến 15%, có mặt ở
hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới nhưng tới 90% nông sản của Việt Nam
phải "khoác áo" thương hiệu nước
ngoài mới xuất khẩu được. Bỏ qua yếu tố thiếu chiến
lược thương hiệu (dù đây cũng là
một nguyên nhân quan trọng), sở dĩ nông sản VN
phải đi đường vòng vì khâu chế biến
của các doanh nghiệp Việt Nam quá yếu kém, chất
lượng không đảm bảo. Chẳng hạn


như, là xứ nhiệt đới, trái cây VN phong phú, dồi dào
song chất lượng, kích thước, hình
dáng không đồng đều và đặc biệt một số quy trình
trồng trọt bị cho là thiếu an toàn.
Chính vì vậy, ngay cả thị trường Trung Quốc cũng đã
giảm số lượng nhập khẩu trái cây
VN từ 140 triệu USD kim ngạch vào năm 2001
xuống còn khoảng 20 triệu USD hiện
nay.
Kể về hành trình xuất khẩu hồ tiêu, ông Đỗ Hà Nam,
Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu cũng
thừa nhận, để vào được thị trường EU, đa phần hồ
tiêu Việt Nam phải qua các công ty
trung gian nước ngoài để họ sơ chế lại cho đạt các
tiêu chuẩn nhập khẩu. Tương tự là
cà phê của tỉnh Đăk Lăk mỗi năm thất thu khoảng
100 triệu USD do phải tiêu thụ qua


trung gian.
Chất lượng không đảm bảo, không được quản lý
nghiêm ngặt còn là lý do cản trở
các nhà kinh doanh nông sản Việt Nam tự xây dựng
thương hiệu.
5
Nông sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ngày nay không
chỉ phải thỏa mãn được các điều
kiện khắt khe về chất lượng, độ đồng đều, an toàn vệ
sinh mà còn phải đáp ứng được
cả những tiêu chuẩn nghiêm khắc về chế độ nuôi
trồng và tính bền vững trong việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×