Tải bản đầy đủ

B CAO TOM TAT KQ NC DE TAI

Đề tài
Nâng cao chất lượng nghiên cứu Tổng họp của Văn phòng cấp ủy các cấp
--------------PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
- Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ
làm công tác tham mưu, là một chủ trương lớn của Đại hội XI của Đảng và của
Đại hội 12 Đảng bộ tỉnh. Bởi vì, hiệu quả hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các

cấp ủy đảng luôn gắn liền với chất lượng, hiệu quả công tác của các cơ
quan tham mưu, đặc biệt là cơ quan văn phòng cấp uỷ - làm việc trực tiếp,
gần gũi nhất với thường trực, ban thường vụ cấp ủy.
- Các văn phòng cấp ủy trong tỉnh, qua các thời kỳ đều có những đóng
góp quan trọng vào thành tích chung của Đảng bộ, đã được tặng thưởng nhiều
huân, huy chương, bằng khen của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, công
tác tham mưu, tổng hợp của các văn phòng vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần phải
được nghiên cứu sâu sắc và có giải pháp khắc phục kịp thời.
- Tình hình thế giới hiện nay diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp,
để đảm bảo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thì việc nâng cao chất
lượng công tác tham mưu, tổng hợp của cơ quan văn phòng cấp ủy, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới là hết sức cấp thiết.

2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu
- Nghiên cứu làm rõ thực trạng, những mặt được, chưa được, những hạn
chế yếu kém và nguyên nhân trong công tác tham mưu, tổng hợp của các văn
phòng cấp uỷ trong tỉnh.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
tham mưu, tổng hợp của các văn phòng cấp uỷ phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của
các cấp ủy trong tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.


2
2.2. Nội dung nghiên cứu của Đề tài, tập trung vào 2 nội dung chính:
- Đánh giá thực trạng tình hình công tác tham mưu tổng hợp của các văn
phòng cấp ủy trong tỉnh giai đoạn 2006 - 2010.
- Xây dựng các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác tham
mưu, tổng hợp phục vụ cấp uỷ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chính trị xã
hội, mà chủ yếu là:
+ Tiếp cận, phân tích tài liệu, thu thập thông tin từ văn bản của Đảng, Nhà
nước; tài liệu lưu trữ tại các văn phòng và tạp chí chuyên ngành.
+ Chú trọng phương pháp tổng kết hoạt động thực tiễn của các văn phòng
cấp uỷ, chọn lọc phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo sơ kết, tổng kết công
tác của Văn phòng Trung ương và văn phòng cấp uỷ trong tỉnh.
+ Tổ chức các cuộc hội thảo để lấy ý kiến chuyên gia.
+ Thảo luận, làm việc tập trung theo nhóm.
4. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Công tác tham mưu, tổng hợp của Văn phòng
Tỉnh ủy và văn phòng các huyện uỷ, thành uỷ.
- Về phạm vi và giới hạn nghiên cứu: Ở Văn phòng Tỉnh ủy và văn phòng
các huyện uỷ, thành uỷ giai đoạn 2010 - 2015.
5. Ý nghĩa của đề tài
- Thực hiện đề tài là điều kiện thuận lợi cho các cá nhân thực hiện đề tài
nâng cao năng lực nghiên cứu, hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân.
- Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng các đề án tăng cường chất
lượng, hiệu quả công tác các cơ quan tham mưu giúp việc cấp ủy.
- Sản phẩm đề tài là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho báo cáo viên, học
viên lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn trong hệ thống văn phòng cấp uỷ.



3
- Góp phần cải tiến lề lối làm việc, nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp
ủy đảng đối với hệ thống chính trị; giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực
hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung báo cáo tổng kết đề tài được thể hiện trong ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về văn phòng cấp ủy và công tác
tham mưu, tổng hợp phục vụ cấp ủy.
Chương II: Đánh giá thực trạng tình hình công tác tham mưu, tổng hợp
của các văn phòng cấp ủy trong tỉnh giai đoạn 2006 - 2010.
Chương III: Xây dựng các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng công
tác tham mưu, tổng hợp phục vụ cấp ủy thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN PHÒNG CẤP ỦY VÀ
CÔNG TÁC THAM MƯU, TỔNG HỢP PHỤC VỤ CẤP ỦY
I. Những vấn đề chung về văn phòng và công tác tham mưu, tổng hợp
của văn phòng cấp uỷ.
1. Vị trí, vai trò của văn phòng
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ "văn phòng" là bộ phận phụ trách
công việc giấy tờ, hành chính trong một cơ quan đơn vị. Nhưng hiểu như vậy là
chưa đủ, vì trong thực tế, văn phòng có rất nhiều mô hình và có những văn
phòng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được giao nhiều chức trách quan trọng khác.
Văn phòng là một tổ chức gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của cơ quan
đơn vị; văn phòng là bộ mặt của cơ quan đơn vị, là nơi đầu tiên trực tiếp giao
dịch với các đơn vị khác; hiệu quả hoạt động của văn phòng ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của toàn bộ cơ quan đơn vị.
2) Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng cấp ủy
Gắn liền với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của Đảng bộ, chức năng,
nhiệm vụ của hệ thống văn phòng cấp uỷ ngày càng được hoàn thiện.


4
(1) Khi Đảng còn hoạt động bí mật, văn phòng chỉ là bộ phận chuyên lo
giấy tờ, văn bản, các điều kiện làm việc. Khi có chính quyền, Đảng hoạt động
công khai, văn phòng trở thành một cơ quan chức năng của cấp ủy, giúp cấp ủy
điều hành công việc hàng ngày của Đảng.
II. Quá trình hình thành, phát triển của các văn phòng cấp uỷ.
Lịch sử văn phòng cấp uỷ gắn liền với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng.
Cách đây hơn 80 năm, tại Hội nghị lần thứ nhất, BCH Trung ương Đảng quyết
định thành lập các bộ phận chuyên môn giúp việc, trong đó có Văn phòng Trung
ương, mở đầu cho sự hình thành và phát triển của cả hệ thống văn phòng cấp ủy
từ Trung ương đến địa phương. Ban Bí thư khoá IX thống nhất lấy ngày
18/10/1930 là ngày truyền thống văn phòng cấp uỷ trong cả nước.
Văn phòng Tỉnh uỷ nói riêng, các văn phòng cấp ủy trong tỉnh nói chung,
là một bộ phận của hệ thống văn phòng cấp uỷ; quá trình xây dựng, phát triển,
trưởng thành gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi. Từ khi thành lập Đảng bộ tháng 3/1930 đến nay, trải qua các thời
kỳ cách mạng, trong kháng chiến cũng như thời hòa bình, được sự chăm lo xây
dựng, chỉ đạo trực tiếp của ban thường vụ và thường trực cấp ủy, đội ngũ cán bộ
văn phòng cấp ủy trong tỉnh đã nhanh chóng phát triển, trưởng thành; chất lượng
công tác tham mưu, tổng hợp phục vụ cấp uỷ không ngừng nâng lên, các văn
phòng cấp ủy đã nắm vững chức năng, nhiệm vụ, chủ động tham mưu giúp cấp
uỷ, ban thường vụ ban hành kịp thời, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị
quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng,
an ninh, củng cố hệ thống chính trị. Các văn phòng cấp uỷ đã có những đóng
góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh nhà và đã được tặng
thưởng nhiều huân, huy chương, bằng khen của Đảng, Nhà nước.
Ngày nay trước xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học, công nghệ
phát triển nhanh, thế giới và khu vực có nhiều biến động; để thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ, giúp các cấp ủy đảng trong tỉnh triển khai thực hiện thắng lợi
các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đại hội Đảng bộ đề ra, đưa Quảng Ngãi "đến
năm 2020, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại" thì việc nâng


5
cao chất lượng công tác tham mưu, tổng hợp phục vụ cấp uỷ trở nên vô cùng cấp
thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Chương II
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CÔNG TÁC THAM MƯU,
TỔNG HỢP CỦA CÁC VĂN PHÒNG CẤP ỦY TRONG TỈNH GIAI
ĐOẠN 2010 - 2015
I. Những kết quả chủ yếu trong công tác tham mưu, tổng hợp của các
văn phòng cấp ủy trong tỉnh giai đoạn 20010 - 2015
1. Kịp thời tham mưu giúp cấp uỷ xây dựng, tổ chức thực hiện quy chế
làm việc và các chương trình công tác
- Các văn phòng cấp uỷ (Văn phòng Tỉnh ủy, văn phòng huyện ủy, thành
ủy) đã thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp cấp ủy xây dựng và tổ chức thực hiện
quy chế làm việc khá tốt. Theo kết quả điều tra, có tới 90,6% số người được hỏi
đánh giá tốt; 27,4% số người được hỏi đánh giá khá; 0,50% đánh giá trung bình
và 0% có ý kiến nào đánh giá kém.
- Các chương trình làm việc của cấp uỷ đã được văn phòng cấp ủy tham
mưu xây dựng đảm bảo đúng nguyên tắc; nội dung bao quát, toàn diện, có trọng
tâm, trọng điểm, bám sát tình hình thực tiễn của địa phương; trong thực hiện đã
kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với từng thời điểm, thời kỳ và đảm bảo
đúng thẩm quyền của ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực cấp ủy, trách
nhiệm tập thể và cá nhân theo quy chế làm việc cấp uỷ. Chất lượng tham mưu xây
dựng và tổ chức thực hiện chương trình công tác ngày càng tốt hơn; chương trình
toàn khoá của cấp ủy, chương trình công tác năm, hàng quý, tháng của ban thường
vụ và thường trực cấp ủy được thực hiện khá đầy đủ. Các vấn đề chiến lược,
những nội dung lớn về các lĩnh vực kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng từ
năm 2006 đến nay, việc tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh
uỷ... đã được đưa vào chương trình và thực hiện đạt kết quả tốt.
Đánh giá chung về công tác tham mưu giúp cấp ủy xây dựng, tổ chức thực
hiện chương trình công tác là khá tốt. Đã có 80% số người được hỏi nhận xét ở
mức “tốt”, 30% nhận xét ở mức “khá”; chỉ có 1,2% đánh giá ở mức “trung
bình”; 0,02% cho rằng ở mức “kém”.


6
2. Tham mưu, giúp Tỉnh ủy triển thực hiện có hiệu quả các chủ trương,
chính sách trên lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại của tỉnh.
Các văn phòng đã tham mưu cho cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển
khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 08 của BCH Trung ương khoá IX, về
một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
khi Việt Nam là thành viên tổ chức thương mại thế giới; Nghị quyết số 09 của
BCH Trung ương khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghị
quyết số 26 của BCH Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân;
đặc biệt là 07 Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ khoá XVII về nhằm cụ thể hóa
các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá và 8 chương trình trọng điểm do Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra.
Ngay sau khi ban hành các nghị quyết chuyên đề, Văn phòng Tỉnh uỷ đã
phân công cán bộ theo dõi sát sao tình hình triển khai thực hiện, kịp thời tham
mưu cho Thường trực Tỉnh uỷ đôn đốc Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban cán
sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thể chế hoá, cụ thể hoá về mặt nhà nước,
ban hành các đề án, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện; rà soát, bổ sung hoàn
thiện, ban hành mới các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa
các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, môi trường ... để đưa nghị
quyết đi vào cuộc sống. Cùng với tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản chỉ
đạo, văn phòng đã chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cho
Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám
sát (mỗi năm tiến hành từ 10 - 12 cuộc kiểm tra, giám sát chuyên đề) và công tác
sơ kết, tống kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về kinh tế - xã
hội, đánh giá đúng thực trạng tình hình và kịp thời đưa ra các nhiệm vụ, giải
pháp thực hiện sát hợp với điều kiện thực tiễn kinh tế - xã hội của tỉnh.

Các văn phòng cấp ủy, nhất là Văn phòng Tỉnh ủy đã chủ trì hoặc
phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất các chủ trương về
phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại phù hợp. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn,
kịp thời của Tỉnh ủy, kinh tế của tỉnh trong nhiều năm liền tăng trưởng tốc
độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, quy mô kinh tế tăng


7
lên đáng kể, tỉnh ta đã cơ bản ra khỏi tình trạng kém phát triển. Đánh giá về
công tác tham mưu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại, đã có 50,16% ý
kiến được hỏi cho rằng “đáp ứng tốt yêu cầu”, 43,8% cho rằng “đáp ứng yêu cầu
nhưng có mặt còn hạn chế”, chỉ có 2,4% cho rằng “chưa đáp ứng yêu cầu” .
3. Tham mưu, giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu
quả công tác nội chính, tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Về công tác nội chính giai đoạn 2006 - 2010
Đã tham mưu chỉ đạo thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo định kỳ về
lĩnh vực nội chính. Riêng Văn phòng Tỉnh uỷ từ đầu năm 2005 đến hết năm
2010, đã tham mưu 81 báo cáo các loại; thông qua đó, văn phòng đã tổng hợp,
phản ánh kịp thời thông tin về tình hình nội chính, về công tác nội chính, về hoạt
động của các cơ quan nội chính để phục vụ sự lãnh đạo của cấp uỷ; đồng thời đã
tích cực giúp cấp ủy chỉ đạo thực hiện một số chuyên đề như: chỉ đạo công tác
tôn giáo; tổ chức thực hành diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh; chỉ đạo diễn tập
khu vực phòng thủ các địa phương trên địa bàn. Chú trọng giúp cấp ủy chỉ đạo
thực hiện công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác bảo đảm trật tự an toàn
giao thông; phòng, chống tham nhũng; cải cách tư pháp; phòng, chống và kiểm
soát ma tuý... Đánh giá về công tác nầy, theo kết quả điều tra có 50,4% số người
được hỏi đánh giá đáp ứng tốt yêu cầu và 42,8% nhận xét đáp ứng yêu cầu
nhưng có mặt còn hạn chế, trong điều kiện thiếu cán bộ, đây là một cố gắng lớn
ở các văn phòng cấp ủy trong tỉnh.
- Về công tác tiếp dân và tham mưu xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo
Từ năm 2005 đến hết 2010, Văn phòng Tỉnh uỷ đã tiếp 526 lượt công dân
đến khiếu nại, tố cáo; tiếp nhận 1.767 đơn thư các loại và sau khi xem xét phân
loại đã tham mưu cho ban thường vụ, thường trực chỉ đạo các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết; định kỳ 6 tháng và hàng năm, tổng hợp, báo cáo cho Thường
trực Tinh uỷ, đề xuất biện pháp để chỉ đạo thực hiện. Công tác tiếp dân, tham
mưu xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo ở các văn phòng cấp ủy thực hiện đạt kết
quả tốt. Kết quả đạt được đã góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội .


8
4. Tổ chức thực hiện tốt công tác tổng hợp thông tin phục vụ cấp ủy
Các văn phòng cấp ủy trong tỉnh đã làm tốt chức năng cầu nối giữa cấp uỷ
với các cấp, các ngành, với đảng viên và nhân dân trong tỉnh; bám sát thực tiễn
cuộc sống, phối hợp chặt chẽ với các ban xây dựng đảng, các cơ quan, ban,
ngành có liên quan, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các chủ
trương, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và cấp ủy cấp mình, góp phần
đảm bảo cho mọi nghị quyết, chỉ thị được thực hiện một cách nghiêm túc và có
hiệu quả từ tỉnh đến cơ sở. Chất lượng thông tin, nội dung thông tin báo cáo với
ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy đảm bảo chính xác, kịp thời, khách
quan, trung thực, có sự chắt lọc, mang tính tổng hợp cao.
5. Công tác tham mưu, biên soạn văn bản cấp ủy có nhiều tiến bộ, chất
lượng các loại văn bản của cấp ủy từng bước được nâng cao
Trong giai đoạn 2006 - 2010, các văn phòng cấp ủy trong tỉnh đã trực tiếp
tham mưu và phối hợp tham mưu cho cấp ủy ban hành gần 10.000 văn bản các
loại. Văn bản phát hành đảm bảo đầy đủ thể thức văn bản và đúng thẩm quyền,
tiến độ thời gian, chất lượng ngày càng được nâng cao, truyền đạt đúng tinh
thần lãnh đạo, chỉ đạo của ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực cấp
ủy. Nhiều văn bản đã đi vào thực tiễn, tạo nên những chuyển biến tích cực trên
các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.
6. Tham mưu thực hiện có hiệu quả công tác quản lý tài chính, tài sản
của Đảng, bảo đảm hậu cần cho hoạt động của cấp ủy
Đã thực hiện tốt vai trò tham mưu giúp thường trực cấp ủy điều hành,
quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ, đảm bảo nguồn kinh phí để thực hiện
nhiệm vụ chính trị và công tác đối nội, đối ngoại của cấp uỷ và các cơ quan
tham mưu của cấp uỷ. Thực hiện tốt các quy định của Luật ngân sách Nhà
nước về lập, phê duyệt, phân bổ, quyết toán thu, chi tài chính. Tăng cường
hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý tài chính, tài sản
và về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc, đảm bảo
cho các đơn vị hoạt động có hiệu quả, đúng quy định. Công tác quản lý tài
chính, tài sản của các cấp ủy ngày càng chặt chẽ hơn. Tổ chức thực hiện chế độ
báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo công khai tài chính hàng năm đúng theo


9
quy định. Kết quả điều tra về công tác tham mưu quản lý tài chính, tài sản, cho
thấy có 60% số người được phỏng vấn nhận xét “đáp ứng tốt” yêu cầu; 35,7%
nhận xét “đáp ứng yêu cầu nhưng có mặt còn hạn chế; chỉ có 1,3% nhận xét
“chưa đáp ứng yêu cầu”.
7. Tổ chức thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ yếu theo đúng các
quy định của Đảng và Nhà nước; triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ
thông tin trong các cơ quan Đảng
- Công tác văn thư, lưu trữ giai đoạn 2006 - 2010 được đánh giá khá tốt.
Từ việc tiếp nhận văn bản, gửi văn bản đi, theo dõi quá trình vận hành các văn
bản; tổ chức nhân sao, in ấn, phát hành các loại văn bản; ứng dụng công nghệ
thông tin, hiện đại hoá công tác văn bản, bảo đảm an toàn và giữ tài liệu mật của
Đảng; thu hồi, chỉnh lý, bảo quản … các tài liệu phông lưu trữ Đảng thuộc trách
nhiệm quản lý của cấp ủy; tổ chức khai thác tài liệu phục vụ cho công tác lãnh
đạo của các cấp ủy, cho đến việc hướng dẫn nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ
trong hệ thống các cơ quan đảng, đoàn thanh niên trong tỉnh đều được tổ chức
thực hiện đạt kết quả tốt, không để xảy ra sai sót đáng tiếc.
- Công tác cơ yếu, công nghệ thông tin, đã tham mưu cấp ủy triển khai
xây dựng và thực hiện việc quản lý, khai thác, ứng dụng, bảo vệ mạng thông
tin diện rộng của đảng bộ và hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ thông tin cho
toàn bộ hệ thống văn phòng cấp uỷ, bảo đảm thông tin kịp thời, thông suốt, liên
tục, góp phần quan trọng vào việc cải cảnh thủ tục hành chính trong Đảng.
8. Phối hợp kịp thời, chặt chẽ hơn với các ban xây dựng đảng để tham
mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày
càng trong sạch vững mạnh
Văn phòng đã phối hợp với ban tuyên giáo tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo
công tác tư tưởng, định hướng dư luận xã hội, kịp thời quán triệt, triển khai
các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh việc học tập,
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao nhận thức, thống nhất ý
chí, hành động trong đảng bộ và sự đồng thuận trong xã hội; phối hợp với uỷ
ban kiểm tra và các đơn vị liên quan tham mưu cấp uỷ chỉ đạo xây dựng và tổ
chức thực hiện các chương trình kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực


10
hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và của cấp uỷ; phối hợp
ban tổ chức tham mưu cho cấp ủy trong việc quản lý tổ chức bộ máy, biên chế
cán bộ, củng cố kiện toàn bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị; phối hợp
ban dân vận tham mưu cấp uỷ lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội, vận động đoàn viên, hội
viên, các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng
Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Theo kết quả điều tra, có 13% số người được phỏng vấn khẳng định công
tác này được thực hiện “rất hiệu quả”; 58,1% cho rằng “hiệu quả”, 16% cho
rằng “tương đối hiệu quả”; số đánh giá công tác này “chưa hiệu quả” chỉ 0,3%.
9. Tham mưu, giúp cấp uỷ tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp

trong tỉnh
Các văn phòng cấp uỷ tham mưu, giúp cấp uỷ chuẩn bị chu đáo các
điều kiện, cả nội dung lẫn vật chất, hậu cần để tổ chức thành công đại hội
đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015. Đặc biệt là đã chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan giúp cấp uỷ biên tập, chỉnh lý, hoàn thiện các văn kiện đại
hội đảng bộ, nhất là hai báo cáo quan trọng: báo cáo chính trị trình đại hội
và báo cáo kiểm điểm ban chấp hành, ban thường vụ cấp uỷ. Kết quả
phỏng vấn cho thấy, đại đa số người được hỏi đều hài lòng với công tác
tham mưu, phục vụ đại hội của các văn phòng cấp uỷ (80,6% nhận xét tốt;
14,5% nhận xét khá; chỉ có 1,9% nhận xét trung bình; không ai đánh giá
kém.
II. Những hạn chế, yếu kém chủ yếu trong công tác tham mưu, tổng
hợp của các văn phòng cấp ủy trong tỉnh giai đoạn 2006 - 2010
1. Đối với văn phòng cấp ủy tỉnh (Văn phòng Tỉnh ủy)
1.1. Chất lượng công tác tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các
chương trình công tác chưa cao. Chất lượng tham mưu xây dựng chương trình
công tác chưa có mặt còn hạn chế. Chưa xây dựng được chương trình công tác
năm của ban thường vụ cấp uỷ. Chương trình công tác quý, chương trình công
tác tháng, lịch công tác tuần tính ổn định thấp, sau khi xây dựng còn phải thay


11
đổi, bổ sung nhiều mới thực hiện được. Lịch làm việc Thường trực Tỉnh ủy hai
tuần xây dựng một lần, không dự đoán hết được những công việc phát sinh, nhất
là theo yêu cầu của Trung ương, gây bị động cho các đơn vị trực thuộc.
1.2. Về công tác tham mưu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: Tham mưu trên
lĩnh vực kinh tế xã hội còn có những vấn đề chưa thật trúng và tính bền vững
của các cơ chế, chính sách chưa cao. Một số dự án trọng điểm đã được thẩm
định trình cấp ủy thông qua nhưng tính khả thi và hiệu quả kinh tế - xã hội thấp.
Kinh tế của tỉnh phát triển chưa đồng đều giữa các ngành, các vùng và có mặt
thiếu bền vững. Sản xuất nông nghiệp phát triển chưa toàn diện. Dịch vụ phát
triển chưa tương xứng với phát triển công nghiệp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát
triển văn hóa - xã hội chưa tương xứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
1.3. Tham mưu trên lĩnh vực đối ngoại còn nhiều hạn chế; việc cụ thể hóa
một số chủ trương, chính sách lớn của Trung ương vào điều kiện thực tế địa
phương còn chậm; phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác đối
ngoại chưa thật chặt chẽ; công tác thông tin đối ngoại chưa đáp ứng được yêu
cầu. Công chức làm công tác đối ngoại thiếu chuyên môn, nghiệp vụ đối ngoại.
1. 4. Về công tác tham mưu trên lĩnh vực nội chính, tiếp dân:
- Công tác thông tin nội chính chủ yếu dựa trên báo cáo định kỳ của các
cơ quan nội chính; việc khảo sát nắm bắt tình hình thực tế cơ sở; đề xuất xử lý
những vấn đề tồn đọng, phát sinh, nổi cộm gây bức xúc nhân dân còn hạn chế.
- Công tác tiếp dân, chủ yếu là nhận và chuyển đơn thư, việc hướng dẫn
công dân trong việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị còn ít. Việc đôn đốc xử lý, cập
nhật kết quả giải quyết đơn thư thiếu thường xuyên. Chưa có phần mềm công
nghệ thông tin về quản lý đơn thư. Tỷ lệ đơn thư các cơ quan, đơn vị đã giải
quyết có phúc đáp trở lại văn phòng chỉ ở mức từ 15 đến 31%.
1.5. Về công tác thẩm định, thẩm tra các đề án trình hội nghị cấp ủy còn
lúng túng; sự phối hợp với cơ quan chuẩn bị đề án chưa tốt, đôn đốc thiếu
thường xuyên, thẩm định một số đề án chậm về thời gian; chất lượng thẩm định
thấp. Trong thẩm định, mới chú ý thẩm định về văn phong, thể thức, câu từ,
chưa chú trọng thẩm tra, thẩm định về mặt nội dung. Một số đề án, dự án, công


12
trình kinh tế - xã hội đã được thẩm định trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy thông qua
nhưng không triển khai thực hiện được hoặc kết quả đạt thấp so với yêu cầu.
1.6. Về công tác tổng hợp thông tin phục vụ cấp ủy: Thông tin chưa được
cập nhật một cách đầy đủ có hệ thống để cung cấp thường xuyên cho cấp ủy, ban
thường vụ cấp ủy. Sản phẩm công tác thông tin còn đơn điệu, chủ yếu là các báo
cáo định kỳ và đột xuất theo quy định (chưa có bản tin tháng, tuần, ngày). Nội
dung thông tin chưa thật phong phú, có việc chưa kịp thời; thông tin chủ yếu
theo chiều thuận mà chưa thu thập xử lý thông tin theo chiều ngược.
1.7. Về công tác tham mưu quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ có lúc,
có việc còn thụ động, chưa thật sự chủ động, linh hoạt, có việc còn chậm trễ
chưa đảm bảo về mặt thời gian. Công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp
vụ quản lý tài chính, tài sản đối với cấp dưới và các đơn vị trực thuộc tuy đã
được quan tâm thực hiện nhiều hơn nhưng chưa thường xuyên.
2. Đối với văn phòng cấp ủy huyện, thành phố
2.1. Về công tác tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các chương
trình công tác: Một số văn phòng huyện uỷ chưa giúp cấp uỷ xây dựng được
chương trình công tác năm; chưa dự báo chính xác, đầy đủ số lượng và nội dung
các hội nghị cấp uỷ cần bàn, thảo luận và thông qua. Tính chủ chủ động trong
việc tham mưu tổ chức thực hiện các nội dung được đề ra trong các chương trình
công tác chưa cao. Việc chuẩn bị nội dung hội nghị nhiều lúc chưa kịp thời; văn
bản hoá kết luận hội nghị của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy huyện,
thành phố chưa thực hiện một cách có hệ thống.
2.2. Về công tác tham mưu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: Chất lượng công
tác tham mưu cho cấp ủy huyện trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết,
chỉ thị về lĩnh vực kinh tế - xã hội chưa cao; chưa thể hiện rõ tính sáng tạo ở
từng cấp uỷ địa phương, đơn vị. Những vấn đề bức xúc như: quản lý đất đai, tài
nguyên, khoáng sản, môi trường, thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất, đảm bảo an sinh xã hội; những khó khăn vướng mắc trong
thực hiện các mục tiêu chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững 6 huyện
miền núi… chậm phát hiện và kết quả tham mưu giải quyết hiệu quả còn thấp.


13
2. 3. Về công tác tham mưu trên lĩnh vực nội chính, tiếp dân: Tham mưu
trong lĩnh vực nội chính chưa sâu, chưa bao quát hết tình hình, có việc tham
mưu chưa kịp thời. Công tác tiếp dân và tham mưu xử lý đơn thư, khiếu nại còn
một số hạn chế, số vụ việc tồn đọng một số địa phương còn lớn. Hầu hết thiếu
cán bộ đảm nhận chuyên trách công tác nội chính.

2.4. Về công tác thẩm định, thẩm tra các đề án trình hội nghị cấp ủy,
ban thường vụ cấp ủy: Nhiều văn phòng cấp ủy lúng túng, bị động trong
công tác thẩm định, thẩm tra các đề trình hội nghị cấp uỷ. Chất lượng công
tác thẩm định, thẩm tra thấp; đa số chỉ tham gia thẩm định, thẩm tra về thể
thức văn bản, chưa phản biện được nhiều về nội dung đề án.
2.5. Về công tác tổng hợp thông tin phục vụ cấp ủy: Việc nắm bắt, cập
nhật, tổng hợp, cung cấp thông tin và tham mưu cho thường trực cấp ủy chỉ đạo
xử lý một số vấn đề tồn đọng, nổi cộm gây bức xúc trong nhân dân, các vấn đề
phát sinh trên lĩnh vực nội chính còn yếu. Việc thực hiện chế độ thông tin
chuyên đề và đột xuất còn bị động, chất lượng còn thấp, một số trường hợp chưa
đảm bảo thời gian.
2.6. Về công tác văn thư, lưu trữ, ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động của văn phòng cấp ủy huyện: Một số văn phòng chưa kịp thời tham
mưu ban hành quy định về công tác văn thư; kho lưu trữ chưa đảm bảo các điều
kiện, tiêu chuẩn cho việc bảo quản tài liệu lâu dài; tài liệu còn chưa được thu
nhận, phân loại, xử lý khá nhiều. Mức độ tin học hóa thấp, dưới 70%; một số nơi
chưa thực hiện tốt việc truyền đạt thông tin, văn bản trên mạng điện tử của Đảng
theo quy định; số văn bản gửi qua đường mạng diện rộng quá ít.
III. Nguyên nhân của những thành tựu đạt được và hạn chế, yếu kém
trong công tác tham mưu tổng hợp giai đoạn 2006 - 2010
1. Nguyên nhân của những thành tựu đạt được
Trước hết, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên về mọi
mặt của ban thường vụ, thường trực cấp ủy các cấp trong tỉnh đối với công tác
văn phòng cấp uỷ.


14
Thứ hai, tổ chức bộ máy của các văn phòng cấp ủy trong tỉnh từng bước
được củng cố, kiện toàn.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ công chức các văn phòng cấp ủy trong tỉnh không
ngừng phát triển, trưởng thành.
Thứ tư, sự động viên, phối hợp, hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của các cơ
quan ban ngành liên quan.
2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
2.1. Tổ chức bộ máy thiếu sự ổn định, chưa phù hợp với chức năng
nhiệm vụ được giao
- Ở văn phòng cấp ủy tỉnh:
+ Sau khi giải thể Ban Kinh tế, nhiệm vụ tham mưu lĩnh vực kinh tế, xã
hội, đối ngoại giao cho Văn phòng Tỉnh ủy, nhưng không có phòng chuyên môn
nên công tác tham mưu về lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn, kết quả hạn chế.
+ Phòng Tổng hợp: khối lượng công việc quá nhiều, gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau, do đó công tác thẩm định, thẩm tra các đề án trình cấp uỷ gặp phải
không ít khó khăn, lúng túng, chất lượng hạn chế.
+ Phòng Hành chính - Cơ yếu hình thành trên cơ sở sáp nhập phòng hành
chính - quản trị với phòng cơ yếu - công nghệ thông tin. Phòng có ba bộ phận
(cơ yếu, hành chính - văn thư, công nghệ - thông tin) mỗi bộ phận có đặc điểm
nghề nghiệp riêng, hoạt động có sự độc lập nhất định.
- Ở huyện, thành phố: Chưa có quy định chính thức về chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy văn phòng cấp ủy huyện. Bộ máy tổ chức văn phòng cấp uỷ
cấp huyện chưa ổn định, hầu hết chỉ có hai bộ phận: tổng hợp và hành chính quản trị, không có bộ phận nội chính - tiếp dân, do đó việc nắm bắt tình hình và
những phát sinh từ cơ sở trong lĩnh vực nội chính thường không kịp thời.
- Ở xã, phường thị trấn: chưa có biên chế văn phòng cấp uỷ chuyên trách,
do đó việc triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và
thực hiện chế độ thông tin, báo cáo trong hệ thống cấp uỷ gặp khó khăn, không
bảo đảm tính hệ thống, thông suốt trong hoạt động của văn phòng cấp uỷ.


15
2.2. Những hạn chế, yếu kém trong đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ
chậm được khắc phục.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp còn thiếu và thường
xuyên biến động, nhất là ở các văn phòng cấp huyện và cơ sở. Cán bộ văn phòng
cấp uỷ huyện đa số còn trẻ, thiếu kinh nghiệm công tác thực tiễn. Số cán bộ có
trình độ cao, sau đại học còn quá ít (5,2%). Số cán bộ chưa kinh qua đào tạo
chiếm tỷ trọng lớn (10,4% chưa có chuyên môn, nghiệp vụ; 34,9% chưa có trình
độ lý luận chính trị; 24,0% chưa được đào tạo tin học; 30,2% chưa có chứng chỉ
ngoại ngữ; 59,4% chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ văn phòng cấp ủy).
- Về công tác cán bộ: Thiếu các văn bản quy định cụ thể về tiêu chuẩn cán
bộ theo chức danh và vị trí công tác; về tiêu chí để đánh giá, nhận xét cán bộ…
cho nên trong công tác tuyển dụng, nhận xét, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ còn
bị chi phối nhiều bởi yếu tố chủ quan, cảm tính, thiếu chuẩn xác. Chưa xây dựng
được Đề án phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống cơ quan văn phòng cấp uỷ.
2.3. Công tác phối hợp giữa các văn phòng cấp ủy với một số cơ quan
liên quan chưa thật chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả thấp.
- Phối hợp trong công tác tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện
chương trình công tác của cấp ủy chưa thật đồng bộ, chặt chẽ; đôi khi cùng một
lúc tổ chức quá nhiều các cuộc họp ở các cơ quan khác nhau, gây khó khăn cho
các địa phương đơn vị trực thuộc.
- Phối hợp trong việc chuẩn bị tài liệu, đề án trình hội nghị cấp ủy có lúc
chưa kịp thời; một số đề án chuẩn bị chưa kỹ, tính khả thi thấp, thông tin thu
thập thiếu toàn diện, chất lượng hội nghị không cao, sau hội nghị một số trường
hợp văn bản hóa chưa kịp thời.
- Chưa có quy chế, quy trình, quy định phối hợp rõ ràng, cụ thể giữa văn
phòng cấp ủy với các với các cơ quan liên quan, nhất là Quy chế phối hợp công
tác giữa ba văn phòng.
2.4. Thiếu các văn bản hướng dẫn, quy chế, quy định, quy trình thực
hiện công tác văn phòng cấp ủy


16
- Thiếu các văn bản quy định, hướng dẫn hoạt động trong nội bộ hệ thống
văn phòng cấp ủy.
- Thiếu những văn bản quy định, quy trình công tác và quy chế phối hợp
hoạt động giữa văn phòng cấp ủy với các cơ quan liên quan.
2.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và điều kiện, phương tiện làm việc ở
các văn phòng cấp ủy còn hạn chế
Việc đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm phương tiện, thiết bị phục vụ cho
hoạt động của các văn phòng còn hạn chế; một số nơi chuyên viên văn phòng
cấp uỷ vẫn chưa có đủ máy tính cá nhân để làm việc, hệ thống máy tính cũ kỹ,
trang thiết bị không đồng bộ, thường bị hư hỏng, hoạt động thiếu ổn định đã ảnh
hưởng trực tiếp đến năng suất, hiệu quả công tác tham mưu, tổng hợp của cán bộ
văn phòng cấp ủy.
2.6. Chưa có cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút
nguồn nhân lực có chất lượng cao về công tác tham mưu, tổng hợp ở các
văn phòng cấp ủy.
Cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp ở các văn phòng cấp ủy luôn
phải ở trong tình trạng áp lực công việc lớn, khối lượng công việc nhiều, chất
lượng công việc phải giải quyết đòi hỏi độ chính xác và khái quát rất cao, nhưng
chế độ, chính sách đãi ngộ, phương tiện, điều kiện làm việc vẫn giống như các
bộ phận công tác khác, do đó chưa khuyến khích, thu hút được nguồn nhân lực
có chất lượng cao, cán bộ giỏi về làm công tác tham mưu, tổng hợp.
IV. Kinh nghiệm trong công tác tham mưu, tổng hợp của văn phòng
cấp ủy Thái Nguyên, Quảng Ninh và một số tỉnh phía Bắc
Một số kinh nghiệm của các tỉnh về xây dựng và tổ chức thực hiện quy
chế, chương trình làm việc của cấp uỷ; phục vụ đại hội và hội nghị cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ; soạn thảo, biên tập, phát hành văn bản của cấp uỷ; xây dựng,
thẩm định đề án trình hội nghị cấp uỷ; công tác thông tin phục vụ cấp uỷ; tham
mưu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội; công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố
cáo; phối hợp hoạt động với các cơ quan liên quan; về bộ máy tổ chức và xây
dựng đội ngũ cán bộ văn phòng cấp uỷ...


17
Chương III
XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THAM MƯU TỔNG HỢP PHỤC VỤ CẤP
ỦY TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Chương III gồm có ba mục lớn:
I. Dự báo tình hình thế giới, trong nước và của tỉnh những năm đến
II. Mục tiêu, yêu cầu đối với công tác tham mưu, tổng hợp của văn
phòng cấp ủy từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
III. Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác tham mưu,
tổng hợp của văn phòng cấp ủy từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp
theo của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trước khi đi vào trình bày các giải pháp, nhóm nghiên cứu đã dành
03 trang để đề cập phân tích dự báo những vấn đề chủ yếu về tình hình thế
giới, trong nước và của tỉnh những năm đến; tiếp đó là xác định rõ mục
tiêu, yêu cầu đối với công tác tham mưu, tổng hợp của văn phòng cấp ủy từ
nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo của thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Về phần giải pháp, Đề tài đã trình bày các giải pháp như sau:
1. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tham mưu
xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình công tác của cấp uỷ
- Ngay sau đại hội, văn phòng cấp uỷ cần chủ động phối hợp với các
cơ quan liên quan tham mưu xây dựng, ban hành các chương trình công tác
của Ban Chấp hành Đảng bộ. Đây là một công việc khó, cần thành lập bộ
phận giúp việc gồm những người có kiến thức sâu rộng, có năng lực phân
tích, tổng hợp, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ban thường vụ, thường


18
trực cấp uỷ để xây dựng được chương trình công tác đảm bảo nội dung có
tính toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sát hợp với điều kiện thực tế.
- Trong quá trình thực hiện, văn phòng cấp ủy cần chủ động tham mưu thực
hiện theo chương trình công tác đã đề ra; mặt khác cần phải nắm chắc, vận dụng
linh hoạt các chủ trương, nghị quyết của Trung ương vào tình hình thực tế của
địa phương, phải thường xuyên bám sát cơ sở, chủ động phối hợp, bàn bạc với
các cơ quan tham mưu giúp việc cấp ủy, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các sở,
ngành, địa phương liên quan để tham mưu cho thường trực, ban thường vụ cấp
ủy kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào Chương trình công tác những vấn đề lớn,
những công việc đột xuất đúng thẩm quyền mà cấp uỷ phải xem xét giải quyết.
2. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu trên lĩnh vực
phát triển kinh tế - xã hội
Để thực hiện tốt chức năng tham mưu chuyên sâu trên lĩnh vực kinh tế xã hội, cần tập trung kiện toàn, củng cố Phòng Kinh tế mới được thành lập,
đảm bảo tối thiểu phải có 01 trưởng phòng, 2 phó phòng và khoảng 03 - 04
chuyên viên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tổ chức cập nhật kịp
thời các chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội, chủ động xây dựng hệ thống
dữ liệu thông tin kinh tế và thiết lập các kênh thông tin trong và ngoài văn phòng
cấp ủy để phục vụ hoạt động của cấp uỷ. Thực hiện tốt phương châm "4 bám":
bám chủ trương, chính sách; bám cơ sở; bám tư tưởng chỉ đạo của cấp uỷ và
bám việc để kịp thời tham mưu cho thường trực, ban thường vụ cấp uỷ những
vấn đề cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đề xuất
cho ban thường vụ cấp ủy có những chủ trương đúng đắn, giải quyết kịp thời
những khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu trên lĩnh vực
đối ngoại
Tham mưu cho cấp ủy đẩy mạnh việc tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
công tác đối ngoại; kịp thời tham mưu chỉ đạo các cấp chính quyền cụ thể hóa
các quy định của Trung ương, bảo đảm các chủ trương, chính sách của Đảng,


19
pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động đối ngoại ở địa phương được
triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Chú trọng
giúp cấp ủy xây dựng các chương trình, kế hoạch đối ngoại hàng năm; chỉ đạo
các hoạt động đối ngoại, quảng bá tiềm năng, thế mạnh và hình ảnh Quảng Ngãi
ra ngoài tỉnh, tạo điều kiện và tiền đề để thúc đẩy hợp tác, kêu gọi đầu tư, thu
hút nguồn lực từ bên ngoài, phát triển kinh tế, xã hội. Tham mưu cho cấp ủy
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời tổ chức sơ kết, tổng kết việc
thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, của tỉnh về công tác đối
ngoại. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. Tăng
cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối ngoại, hội nhập quốc tế cho cán bộ làm
công tác tham mưu, tổng hợp về công tác đối ngoại ở văn phòng cấp uỷ tỉnh.
4. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu, giúp cấp ủy
tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo
Tiếp tục giúp cấp uỷ thực hiện tốt công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu
nại, tố cáo theo đúng quy định của Đảng, và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là
Luật khiếu nại, tố cáo và Hướng dẫn số 28-HD/VPTW ngày 29/12/2009 của
Văn phòng Trung ương Đảng. Khi tiếp nhận đơn thư của các cán bộ, đảng viên
và nhân dân gửi đến cấp uỷ, cần phải kịp thời phân tích, phân loại, đề xuất cách
xử lý, làm thủ tục chuyển thư đến cơ quan và người có trách nhiệm giải quyết
theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quy định. Trong công tác tiếp dân, cần
phải chú trọng việc hướng dẫn công dân; gắn công tác tiếp dân với giải quyết
khiếu nại, tố cáo ngay từ cấp cơ sở; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước; đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin, phối hợp hoàn thiện phần mềm quản lý đơn thư tại Văn
phòng Tỉnh uỷ và văn phòng các huyện, thành ủy; xây dựng Quy chế phối hợp
giữa văn phòng với các cơ quan liên quan trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất
là khi có khiếu khiện đông người.
5. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thông tin phục vụ cấp uỷ
Để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, các văn
phòng cấp ủy trong tỉnh cần phải tham mưu và tổ chức thực hiện tốt các nội


20
dung công việc sau: (1)Tổ chức tốt các kênh thông tin. (2) Thực hiện tốt công
tác định hướng thông tin cho các đầu mối. (3) Thực hiện tốt quy trình thu nhận
và xử lý thông tin. (4) Tiêu chuẩn hoá quy trình xử lý thông tin tại chỗ. (5)Tăng
cường công tác đi cơ sở đồng thời đẩy mạnh ứng dụng hệ thống công nghệ
thông tin tiên tiến vào công tác thông tin. (6) Đa dạng hóa sản phẩm thông tin.
6. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng và thẩm định đề
án trình hội nghị cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ
Theo quy định, văn phòng cấp ủy có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các cơ
quan được giao chuẩn bị đề án, đảm bảo đúng yêu cầu, tiến độ, nội dung và
phạm vi đề ra; tổ chức thẩm định về nội dung và thể thức văn bản của các đề án.
Để thực hiện tốt công tác này, văn phòng cấp uỷ cần tham mưu ban thường vụ
xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm Quy trình xây dựng và thẩm
định đề án; trong đó cần thiết phải làm rõ trình tự và nội dung các bước tiến
hành từ khi cấp uỷ cho chủ trương đến khi hoàn thiện đề án trình ký, ban hành.
+ Về quy trình xây dựng đề án: Thực hiện tốt các bước như sau: (1)
Thành lập ban chỉ đạo chuẩn bị đề án trình hội nghị. (2) Xây dựng kế hoạch tiến
hành và đề cương sơ bộ của đề án. (3) Xây dựng đề cương chi tiết; xin ý kiến
định hướng của ban thường vụ, thường trực cấp ủy. (4) Tổ chức thu thập thông
tin, khảo sát thực tiễn trong và ngoài nước. (5) Viết dự thảo đề án. (6) Tổ chức
lấy ý kiến tham gia vào dự tháo đề án. (7) Hoàn chỉnh dự thảo đề án; tờ trình, nghị
quyết. (8) Tổ chức thảo luận trong ban thường vụ cấp ủy vào các dự thảo nói
trên. (9) Hoàn chỉnh đề án, tờ trình, nghị quyết để thường vụ cấp ủy trình hội
nghị Ban Chấp hành.
+ Về quy trình thẩm định đề án: Thực hiện tốt các bước : (1) Thẩm định,
thẩm tra về yêu cầu, phạm vi, quy trình, thẩm quyền ban hành và thể thức văn
bản của đề án. (2) Xây dựng kế hoạch thẩm định. (3) Thành lập nhóm nghiên
cứu thẩm định. (4) Soạn thảo đề cương báo cáo thẩm định. (5) Tổ chức thảo luận
về nội dung báo cáo thẩm định. (6) Tổ chức lấy ý kiến chuyên gia. (7) Hoàn


21
chỉnh báo cáo thẩm định. (8) Trình xin ý kiến tập thể lãnh đạo văn phòng cấp
uỷ. (9) Hoàn chỉnh trình ký ban hành báo cáo thẩm định.
7. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác biên soạn các loại văn bản
chủ yếu của cấp ủy
Để nâng cao chất lượng soạn thảo, biên tập, phát hành văn bản của cấp
uỷ cần thiết phải: xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thực sự có trình độ, năng
lực, phẩm chất đạo đức cách mạng và tham mưu cấp ủy ban hành và tổ chức
thực hiện Quy trình biên soạn, phát hành văn bản của cấp ủy; trong đó xác định
rõ trách nhiệm của chuyên viên, của lãnh đạo từ khâu xây dựng đề cương, viết
bản dự thảo, thẩm định, kiểm duyệt đến khâu trình ký, ban hành. Quy trình
biên soạn, phát hành các loại văn bản chủ yếu của cấp uỷ gồm các bước cơ bản:
(1) Xác định chủ trương ban hành văn bản. (2) Thu thập và xử lý thông tin tư
liệu cho biên soạn văn bản. (3)Viết bản thảo văn bản. (4) Lấy ý kiến đóng góp
cho bản thảo và hoàn chỉnh văn bản. (5) Nhân bản và phát hành văn bản.
8. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác phục vụ đại hội
đảng bộ, hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ cấp uỷ
Để thực hiện tốt công tác phục vụ đại hội, hội nghị, cần phải tiếp tục củng
cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ số lượng, đảm bảo
về chất lượng. Tham mưu bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành mới Quy chế đại
hội, hội nghị cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy. Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ
chuyên môn, trang bị cho cán bộ, công chức những kỹ năng hoạt động cần thiết
về phục vụ đại hội, hội nghị. Tham mưu ban hành Quy trình phục vụ đại hội, hội
nghị cấp uỷ, trong đó cần lưu ý nói rõ các nội dung cần thiết phải tiến hành
trước, trong và sau đại hội, hội nghị.
Đối với đại hội: triển khai thực hiện tốt 19 nội dung công việc cụ thể theo
một trình tự nhất định (trước, trong và sau đại hội).
Đối với hội nghị cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy: triển khai thực hiện tốt 14
nội dung công việc cụ thể theo một trình tự (trước, trong và sau hội nghị).


22
9. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tham mưu trên
lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ
Một là: Làm tốt công tác lập dự toán thu, chi đầu năm
Hai là: Thực hiện tốt công tác quản lý thu, chi ngân sách
Ba là: Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra tài chính Đảng
Bốn là: Kịp thời sơ kết, tổng kết công tác quản lý tài chính, tài sản Đảng
Năm là: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng hiệu quả
công việc
Sáu là: Tăng cường đầu tư, nâng cấp về cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu
làm việc, đối nội, đối ngoại trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Bảy là: Phải xây dựng đội ngũ cán bộ tài chính giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ, có phẩm chất đạo đức tốt và tinh thần trách nhiệm cao
10. Thực hiện tốt những hoạt động có tính chuyên môn nghiệp vụ
thường xuyên không thể thiếu trong cơ quan văn phòng cấp ủy
10.1. Tổ chức thực hiện tốt công tác văn thư của cấp ủy
10.2. Tổ chức thực hiện tốt công tác lưu trữ cấp ủy
10.3. Tổ chức ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ thông tin
10.4. Tổ chức thực hiện tốt công tác cơ yếu theo quy định.
11. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phối hợp phục
vụ cấp uỷ giữa văn phòng cấp uỷ với các cơ quan liên quan (các ban đảng,
văn phòng hội đồng nhân dân, văn phòng uỷ ban nhân dân).
Để sự phối hợp ngày càng nền nếp và hiệu quả, các văn phòng cấp ủy cần
chủ động tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế phối
hợp công tác giữa văn phòng cấp ủy với các cơ quan liên quan. Trong đó, cần
xác định rõ nội dung, mức độ, phạm vi, cách thức phối hợp và trách nhiệm của
từng chủ thể trong những hoạt động cần có sự phối hợp như: phục vụ đại hội
đảng bộ; xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình công tác; thực hiện chế độ
báo cáo; chuẩn bị nội dung trình hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy;
tiếp dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo; phục vụ các ngày lễ lớn, các


23
cuộc làm việc của lãnh đạo tỉnh với Trung ương và các địa phương, các hoạt
động đối ngoại của thường trực cấp uỷ…
12. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ
các cơ quan văn phòng cấp ủy trong tỉnh
- Tập trung kiện toàn bộ máy tổ chức phù hợp với yêu cầu, chức năng,
nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn của địa phương; xây dựng bộ máy tinh, gọn với
đội ngũ cán bộ trong sáng về phẩm chất, đạo đức, vững vàng về bản lĩnh chính
trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
+ Đối với Văn phòng Tỉnh ủy: Kiện toàn bộ máy theo hướng thành lập
ổn định các phòng chức năng chuyên môn, gồm: Tổng hợp, Kinh tế, Tài chính,
Cơ yếu, Công nghệ thông tin, Lưu trữ, Hành chính, Quản trị và 01 đơn vị sự
nghiệp có thu Nhà khách Cẩm Thành. Tổng biên chế không quá 55 người.
+ Đối với văn phòng cấp ủy huyện, thành phố: Kiện toàn bộ máy theo
hướng thành lập ổn định 03 bộ phận (tổ) chức năng chuyên môn gồm: hành
chính - quản trị, tổng hợp và nội chính; tổng biên chế không quá 12 người.
+ Đối với cấp ủy xã, phường, thị trấn: Đề nghị Trung ương định hướng,
sắp xếp, bố trí biên chế cán bộ chuyên trách thay cho bán chuyên trách hiện nay.
- Tập trung xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế
hoạt động của các bộ phận trực thuộc văn phòng cấp ủy; Quy chế hoạt động của
chuyên viên và thực hiện tốt các quy định, quy trình công tác. Triển khai thực
hiện khoán chi hành chính theo Nghị định 130 của Chính phủ. Thực hiện mô
hình phòng có nhiều lãnh đạo.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án phát triển nguồn nhân lực của văn
phòng cấp ủy. Đổi mới công tác cán bộ, tập trung xây dựng, ban hành tiêu chuẩn
chức danh cán bộ và thực hiện chuẩn hoá cán bộ, nhất là trưởng, phó phòng và
chuyên viên làm công tác tham mưu, tổng hợp. Gắn đào tạo, bồi dưỡng với giao
nhiệm vụ, bố trí, đề bạt, sử dụng cán bộ, tích cực đề xuất nhân sự văn phòng với
thường trực cấp ủy để thực hiện công tác luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ
trưởng thành. Quan tâm trang bị cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc


24
và thực hiện chế độ chính sách cán bộ; thực hiện tốt công tác thi đua, khen
thưởng trong cơ quan văn phòng cấp uỷ.
Các giải pháp trình bày trên có mối quan hệ biện chứng, kết nối với nhau
thành một hệ thống; trong đó, giải pháp Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy và
xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan văn phòng cấp ủy là giải pháp có tầm
quan trọng đặc biệt, vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài, là giải pháp trung
tâm của toàn bộ hệ thống.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đề tài đã tập trung phân tích, đánh giá kết quả công tác tham mưu, tổng
hợp của các văn phòng cấp ủy giai đoạn 2006 - 2010, chỉ rõ những thành tựu,
kết quả chủ yếu đã đạt được, những yếu kém, bất cập và nguyên nhân của hạn
chế yếu kém trong công tác tham mưu, tổng hợp của các văn phòng cấp ủy trong
tỉnh; thực hiện việc điều tra khảo sát thực tế thu thập thông tin từ các các cơ
quan, ban, ngành của tỉnh, 14 huyện, thành phố, 100 xã, phường, thị trấn trong
tỉnh; tham khảo, học tập kinh nghiệm của các văn phòng cấp ủy ở Sóc Trăng,
Bạc Liêu và một số tỉnh khác ở phía Nam; đề xuất xây dựng hệ thống các giải
pháp chủ yếu trong công tác tham mưu, tổng hợp phục vụ cấp uỷ của các văn
phòng cấp ủy trong tỉnh, như: công tác tham mưu về phát triển kinh tế - xã hội;
đôí ngoại; tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; công tác thông tin phục vụ
cấp ủy; xây dựng và thẩm định các đề án; biên soạn các loại văn bản chủ yếu;
phục đại hội, hội nghị; quản lý tài chính, tài sản; phối hợp hoạt động giữa văn
phòng cấp uỷ với các cơ quan liên quan; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ
máy và đội ngũ cán bộ các văn phòng cấp ủy... sát hợp với điều kiện thực tế
nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu, tổng
hợp của các văn phòng cấp ủy trong tỉnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị từ
nay đến hết năm 2017 và những năm tiếp theo của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.

--------------



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×