Tải bản đầy đủ

tiểu luận nông nghiệp đô thị

Tham luận: Hiểu biết về nông nghiệp đô thị sinh thái
NỘI DUNG

1. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp đô thị sinh thái……………………..
1.1. Khái quát về các nền nông nghiệp trong lịch sử………………………..
1.2. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp đô thị sinh thái …………………….
1.3 Điều kiện của nông nghiệp đô thị sinh thái………………………………
2. Tình hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở một số nước................
2.1. Mỹ
2.2. Hàn Quốc
2.3. Hà Lan
2.4. Trung Quốc
2.5. Singapo
3. Tình hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở Việt Nam....................
4. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái
4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.........................................................
4.2. Đô thị hoá và ảnh hưởng của đô thị hoá.................................................
4.3. Tiến bộ khoa học và công nghệ................................................................
4.4. Mối quan hệ kinh tế của Hải Phòng và các tỉnh lân cận.........................
4.5. Hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá.............................................................
Phụ lục: Danh mục chữ viết tắt



Tham luận: Hiểu biết về nông nghiệp đô thị sinh thái

1. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp đô thị sinh thái
1.1. Khái quát về các nền nông nghiệp trong lịch sử
Cho đến nay, trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều mô hình nông nghiệp
điển hình. Nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái dựa vào phương thức canh tác
chủ yếu có thể thấy nền nông nghiệp thế giới phát triển theo những mô hình chủ
yếu như:
- Mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên thủy.
Loài người sau khi ra đời phải trải qua trên nửa triệu năm săn bắn, hái
lượm để sinh tồn mới biết làm nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp theo mô hình
nông nghiệp nguyên thủy là mô hình sản xuất nông nghiệp đầu tiên của loài
người. Nó đánh dấu bước ngoặt trong quá trình tiến hoá của loài người - chuyển
hẳn từ hái lượm sản phẩm có sẵn trong tự nhiên sang phương thức tự sản xuất ra
sản phẩm theo nhu cầu của con người. Mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên
thủy ra đời cách đây hàng chục vạn năm, song đến nay nó vẫn tồn tại ở một số
vùng núi của các nước chậm và đang phát triển. Trong mô hình sản xuất nông
nghiệp nguyên thuỷ, sản xuất hoàn toàn dựa vào sức người, hầu như không có
phương tiện sản xuất, phân bón và thuốc trừ sâu bệnh. Địa bàn phát triển sản
xuất là trên các triền đồi, núi cao nên năng suất cây trồng ở mô hình này rất thấp
và bị giảm sút nhanh chóng do đất bị xói mòn. Vì vậy, đi đôi với phương thức
canh tác này là nạn du canh, du cư khai thác các vùng đất mới. Mô hình sản xuất
nông nghiệp này đã tàn phá môi trường về nhiều mặt. Tuy nhiên, ở thời kỳ cách
đây hàng chục ngàn năm - khi mà dân số trên thế giới còn ít và sống rải rác thì
môi trường vẫn có thể phục hồi một cách tự nhiên sau một thời gian dài.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cổ truyền.
Cho đến nay, mô hình mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cổ truyền
vẫn tồn tại ở nhiều vùng cao của các nước chậm và đang phát triển. Mô hình này
có sử dụng phương tiện sản xuất là sức kéo của gia súc, công cụ sản xuất thủ
công, sử dụng phân hữu cơ không dùng phân hóa học, sử dụng các giống cây và
con được chọn lọc theo kinh nghiệm.
Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cổ truyền được tiến hành ở các
2


vùng đồng bằng là phổ biến. Kết quả của mô hình này là đã giảm được mức độ
thiếu hụt trầm trọng về nông sản. Môi trường tự nhiên ít bị tàn phá, song môi
trường vệ sinh của chính người sản xuất lại không được bảo đảm. Một số bệnh


tật lây truyền nhiều khi thành dịch do cách thức sản xuất không sạch của mô
hình này. Năng suất cây trồng, năng suất lao động thấp chính vì vậy mà con
người vẫn không ngừng khai hoang mở rộng diện tích sản xuất.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến.
Đây là mô hình sản xuất nông nghiệp ở những nơi đã định canh, định cư.
Mô hình này sử dụng ngày càng nhiều phương tiện sản xuất cơ giới, công cụ sản
xuất hiện đại; phân hóa học và các chế phẩm phòng trừ dịch bệnh bằng hóa chất
được sử dụng ngày càng nhiều; một số giống cây trồng và vật nuôi được lai tạo
theo công nghệ tiên tiến…
Kết quả của mô hình sản xuất nông nghiệp này là, về cơ bản đã sản xuất
đủ lương thực cho con người nhờ tăng năng suất lao động, cây trồng và vật nuôi.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế, làm cho môi trường đất và môi
trường nước ngày càng bị suy thoái do sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu
hóa học; người sản xuất bị ảnh hưởng của việc sử dụng các hóa chất; người tiêu
dùng thực phẩm cũng bị ảnh hưởng do tồn dư các chất độc trong thực phẩm; đa
dạng sinh học tiếp tục bị giảm sút…
- Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp hóa cao độ.
Đây là hình thức sản xuất nông nghiệp tương đối phổ biến ở các nước
công nghiệp phát triển: trong nông nghiệp, các công cụ, các nguyên vật liệu có
nguồn gốc từ công nghiệp được sử dụng ở mức rất cao, sản xuất nông nghiệp
mang sắc thái của sản xuất công nghiệp; các thành tựu của công nghệ sinh học
cũng được sử dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Mô hình sản xuất này đã
làm cho năng suất ruộng đất, năng suất cây trồng, năng suất lao động đã tăng
vọt. Nhờ đó, mục tiêu dùng nông sản của dân cư ở những nước này đã đạt tới
mức không chỉ nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể, mà còn để thỏa mãn nhu
cầu nâng cao đời sống. Tuy nhiên, ở chính các nền nông nghiệp công nghiệp hóa
cao độ đã bộc lộ một cách găy gắt mâu thuẫn giữa sự thỏa mãn cao nhu cầu thực
phẩm của thế hệ hiện nay với các thế hệ tương lai. Các yếu tố như đất đai, nguồn
nước, đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái - nông
3


nghiệp bền vững.
Đối với mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái
mà các nước có nền nông nghiệp công nghiêp hóa cao độ áp dụng. Trong kỹ
thuật canh tác, người ta đã chú trọng hơn đến mối quan hệ tổng hòa giữa sinh
vật và môi trường. Đó là nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái và được
gọi là nông nghiệp bền vững. Điểm nổi bật trong nông nghiệp bền vững là các
thành tựu của công nghệ sinh học được sử dụng ngày càng phổ biến, trong đó có
công nghệ gen và công nghệ vi sinh. Các giống cây, trồng vật nuôi biến đổi gen
đang tạo ra những biến đổi cách mạng trong sản xuất nông nghiệp.
1.2. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp đô thị sinh thái
Nông nghiệp đô thị sinh thái được nhiều người hiểu là nền nông nghiệp
mà ở đó đi đôi với việc sản xuất được nhiều nông sản cần bảo vệ và duy trì môi
trường đảm bảo cơ sở cho nông nghiệp phát triển. Nông nghiệp ở các vùng đô
thị theo hướng sinh thái đang trở thành xu hướng phát triển phổ biến của nông
nghiệp ở các đô thị trên thế giới hiện nay.
Nông nghiệp đô thị sinh thái có thể được hiểu là sự kết hợp hai khái niệm
nông nghiệp đô thị và nông nghiệp theo hướng sinh thái. Nông nghiệp đô thị là
nền nông nghiệp sản xuất các nông sản hàng hóa dựa vào các vùng đất và diện
tích mặt nước nằm xen kẽ, rải rác trong các khu đô thị và vùng ngoại ô. Nông
nghiệp theo hướng sinh thái là nền nông nghiệp dựa trên phương thức sản xuất
giảm sử dụng các hóa chất công nghệ cao, công nghệ sạch và công nghệ sinh
học để nâng cao năng suất, độ an toàn và sự bền vững về môi trường sinh thái.
Nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng
lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại
thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và
nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung
cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ cao cấp. Nông nghiệp đô thị bao
gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị, với các hoạt động chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
Nông nghiệp đô thị không chỉ là nguồn tạo nên GDP, mà còn tạo ra nhiều
giá trị khác như: sinh thái, môi trường, giáo dục, nghỉ dưỡng, tận dụng thời gian
rỗi ...
Nông nghiệp đô thị có thể định nghĩa là ngành kinh tế trong đô thị và ven
4


đô sản xuất, chế biến và cung ứng cho người dân đô thị lương thực, thực phẩm
tươi sống, hoa, sinh vật và thực vật cảnh; dùng phương pháp canh tác hữu cơ và
công nghệ cao không cấn nhiều đất đai, không gây ô nhiễm môi trường, sử dụng
và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất thải đô thị; tăng thêm không gian
xanh và cơ hội thư giãn cho người dân đô thị.
Nông nghiệp đô thị sinh thái được hiểu theo nghĩa chung nhất là nông
nghiệp ở vùng đô thị và ngoại ô, đáp ứng được nhu cầu của sinh thái tự nhiên và
yêu cầu của đô thị. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về nông
nghiệp đô thị và nông nghiệp sinh thái.
“Nông nghiệp đô thị sinh thái là một nền nông nghiệp sinh thái trong
thành phố, thị trấn hoặc các khu đô thị. Đây là nền nông nghiệp phát triển
theo hướng sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, phát triển dịch vụ nông
nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của con người cả về vật
chất lẫn tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản xuất khoa học,
các mô hình sử dụng và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới sự phát triển bền
vững môi trường sinh thái trong các khu đô thị”. (trích dẫn PGS.TS. Phạm
Văn Khôi trong báo cáo phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng
nông nghiệp sinh thái).
Trong báo cáo “Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp theo hướng
nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 2010”, do Lê Quý Đôn chủ biên. Sau khi kế thừa có phân tích các công trình
nghiên cứu, đã đưa ra khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái như sau:
“Nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp được bố trí phù hợp
với điều kiện của từng vùng, tôn trọng các quan hệ và cân bằng tự nhiên;
được ứng dụng khoa học công nghệ sạch vào sản xuất, nhằm sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực (đất, nước, năng lượng, lao động, dịch vụ …) tạo ra
sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm và góp phần nâng cao chất
lượng môi trường và cảnh quan đô thị, đảm bảo cho sự phát triển hệ sinh thái
bền vững”.
Như vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp không chỉ cung
cấp cho thị trường những sản phẩm nông sản thông thường, mà còn cả những
nông sản cao cấp và những sản phẩm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của người
dân đô thị như: Cải thiện môi trường sống, điều hòa khí hậu, làm đẹp cảnh
5


quan…Những sản phẩm này ngày càng được coi trọng hơn trong quá trình đô
thị hóa khi mà dân trí và điều kiện vật chất của người dân ngày càng được nâng
cao.
Nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
và những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ
sinh học…Đảm bảo được sự cân bằng của các yếu tố tự nhiên như: đất, nước,
nhiệt độ, độ ẩm…có vai trò quan trọng để hạn chế những tác động của quá trình
đô thị hóa như: lọc sạch bầu không khí, làm sạch nguồn nước thải, giảm tiếng ồn
và tạo cảnh quan văn hóa cho đô thị…
Nông nghiệp đô thị sinh thái, ngoài việc cung cấp lương thực, thực phẩm
còn có cả tác động làm giảm tiêu cực của quá trình đô thị hóa và hữu ích đến
môi trường nhờ tác động cải thiện vi khí hậu, bảo tồn và làm giàu tính đa dạng
sinh học, giá trị cảnh quan, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên…Ngoài ra, nông
nghiệp đô thị còn tạo cơ hội cung cấp công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho
một bộ phận dận cư đô thị. Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc
biệt là công nghệ sinh học…sẽ góp phần làm tăng năng suất và chất lượng nông
sản, tạo điều kiện phát triển công nghiệp chế biến, thương mại dịch vụ các sản
phẩm nông sản có chất lượng cao, cho hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Do đó
phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái bền vững là xu hựớng phát triển tất yếu
của quá trình phát triển nông nghiệp tương lai.
Nội dung của nông nghiệp đô thị sinh thái:
- Nông nghiệp đô thị sinh thái đòi hỏi bố trí sản xuất phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Hệ sinh thái của mỗi vùng được bố trí địa bàn sản
xuất xen kẽ, hoặc tập trung ở cả trong đô thị và vùng ngoại ô.
- Nông nghiệp đô thị sinh thái có nhiệm vụ sản xuất cả sản phẩm hữu hình
là nông sản thực phẩm chất lượng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu của đô thị bằng
việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ sạch vào sản xuất. Quan
trọng hơn tạo ra sản phẩm vô hình đó là vùng sinh thái, cải thiện, giữ gìn môi
trường, bảo tồn các giá trị truyền thống, tạo cảnh quan nghỉ ngơi và phục vụ du
lịch sinh thái, văn hóa.
- Nông nghiệp đô thị sinh thái tôn trọng, giữ vững sự cân bằng tự nhiên,
bố trí hợp lý, cân đối diện tích cây xanh, mặt nước và phát triển đô thị công
nghiệp, … góp phần phát triển bền vững.
6


Đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái:
- Nông nghiệp đô thị sinh thái có mối quan hệ cân bằng sinh thái, gắn kết
các ngành, đồng thời có sự liên kết theo không gian trên phạm vi rộng: giữa đô
thị và nông thôn, giữa các không gian kinh tế và không gian hành chính, có vai
trò định hướng đối với các hoạt động nông nghiệp khác ở các vùng lân cận.
- Nông nghiệp đô thị sinh thái mang những đặc điểm của nền nông nghiệp
công nghệ cao, công nghệ sạch để sản xuất sản phẩm chất lượng cao, an toàn.
- Năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế của nông nghiệp đô thị sinh thái có
thể thấp hơn nông nghiệp thâm canh, nhưng giá trị sử dụng lại cao hơn.
Phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái chính là phát triển nông nghiệp bền
vững đặc thù và phát triển cao luôn gắn liến với sưj đòi hỏi ngày càng cao của
nhân dân thành phố về thực phẩm, về môi truờng sống, về nghỉ ngơi giải trí gần
gũi thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con người cả về sức khỏe vè
giá trị văn hóa tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản xuất khoa học
và các mô hình sử dụng và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới sự phát triển bền vững
của con người, xã hội và môi trường sinh thái.
Quy mô thành phố càng lớn, dân số càng đông, mật độ dân số càng cao và
trình độ kinh tế - văn hóa ngày càng phát triển một mặt làm cho đất đai nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng. Bên cạnh đó
nhu cầu của người dân thành phố đối với nông nghiệp vốn đã cao lại càng cao
theo tiêu chuẩn sinh thái - nhân văn. Do vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái cần
phát triển và không nghừng hoàn thiện theo các mô hình chủ yếu sau:
- Mô hình sản xuất và cung cấp những thực phẩm tươi sống cao cấp như
các loại rau ngon, rau thơm, thịt, cá, trứng, sữa tươi và các loại thực phẩm đặc
sản với chất lượng cao và dư lượng các chất hóa học, độc tố trong phạm vi tiêu
chuẩn cho phép.
- Mô hình nông nghiệp sinh vật cảnh là mô hình mang tính văn hóa và
sinh thái cao. Giá trị sản phẩm của loại hình này phụ thuộc vào mức độ tươi đẹp
lâu, quý hiếm, dáng thế và gắn với điển tích lịch sử...
- Mô hình nông nghịêp sản xuất hoa tươi vừa có nét giống mô hình mô
hình nông nghiệp sản xuất thực phẩm tươi sống cao cấp, về sản xuất hàng loạt
trên đồng ruộng, vừa gần gũi với mô hình sinh vật cảnh về tinh xảo, tính nghệ
7


thuật, tính mỹ quan trong sáng tạo sản phẩm.
- Mô hình nông nghiệp bền vững dịch vụ picnic, cắm trại vui chơi trong
những ngày nghỉ cuối tuần, đây là mô hình thường thấy ở nông thôn gần thành
phố. Ở các vùng này người ta trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm hay
trồng rừng bảo hộ ven sông hồ có bãi đất rộng không khí trong lành có thể cắm
trại ngủ qua đêm và tổ chức các hoạt động vui chơi như: bơi lội, leo núi và thể
dục thể thao…
- Mô hình nông nghiệp rừng sinh thái bảo hộ đây là loại hình nông nghiệp
sinh thái ven đô tối cần thiết và cực kỳ quan trọng đối với thành phố ngày nay.
- Mô hình nông nghiệp sinh thái hồ, đầm được phát triển trên các hồ đầm
tự nhiên ở trong và ven thành phố có sắc thái riêng.
1.3 Điều kiện của nông nghiệp đô thị sinh thái
Qua thực trạng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, nông nghiệp ven
đô, nông nghiệp bền vững ở một số nước, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp nên
các điều kiện cần hoặc cần phải tạo ra nếu muốn có nền nông nghiệp phát triển
bền vững, bao gồm:
- Cần xây dựng trong mọi người một quan điểm đúng đắn về khái niệm,
nội dung của nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp bền vững hiện đại. Nhất là
sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững và
trách nhiệm của mỗi người đối với yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái,
nông nghiệp bền vững trước sự ảnh hưởng, tác động của nền kinh tế thị trường.
- Quy hoạch nông nghiệp phải đạt tới sự bố trí tối ưu, xuất phát từ hiệu
quả hàng hóa, hiệu quả kinh tế xác định cho được tổ hợp cây và tổ hợp con có
lợi thế so sánh nhất, cân bằng sinh học trên từng vùng. Xây dựng các công thức
kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi, VAC và luân canh khoa học trong từng trang
trại, đồng ruộng.
- Lấy trình độ công nghệ sinh học cao làm trọng tâm. Trong công nghệ
sinh học gồm một loạt các công nghệ tác động vào vật sống như: lên men vi sinh
vật, cố định đạm sinh học, nuôi cấy mô tế bào, cấy phôi ở động vật, sản xuất
kháng thể một dòng, công nghệ truyền vi khuẩn, công nghệ di truyền cây trồng,
công nghệ di truyền động vật v.v…
- Xây dựng mô hình quản lý chất lượng trong các trang trại nông nghiệp
8


khác.
- Các chương trình bảo vệ tài nguyên môi trường được thực hiện một cách
mạnh mẽ, nghiêm túc.
- Có các chính sách đầu tư của Nhà nước về vốn, công nghệ, đào tạo và về
cấp đất ngoài phạm vi.
2. Tình hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở một số nước
Nông nghiệp đô thị sinh thái là hướng đi mới, với sự kết hợp giữa các nội
dung của nông nghiệp đô thị sinh thái với nội dung của nông nghiệp đô thị sinh
thái ven đô dựa trên cơ sở phát huy các thành tựu khoa học công nghệ nhằm
tăng nhanh về số lượng, chất lượng và chủng loại, bảo vệ môi trường và quan
tâm đến các vấn đề xã hội. Các nước và các tổ chức trên thế giới đang đẩy mạnh
nghiên cứu để phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái theo các chiều hướng
khác nhau để đi tới một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
Trên thế giới, nông nghiệp đô thị sinh thái được đầu tư phát triển, có kế
hoạch định hướng phát triển cụ thể và hình thành các mô hình sản xuất khác cho
từng vùng.
- Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều chịu ảnh hưởng bởi ô nhiễm
môi trường: Nước, đất, không khí và rác thải; sức ép lao động và sự cạnh tranh
trên thị trường gây không ít khó khăn cho nông nghiệp và môi trường nhưng
nông nghiệp vẫn tạo ra hệ sinh thái và cảnh quan đô thị, nên các nước đã đầu tư
phát triển nông nghiệp và dù nông nghiệp phần lớn do tư nhân đóng vai trò phát
triển nhưng không thể thiếu được vai trò quản lý đầu tư của Nhà nước: Như quy
hoạch, xây dựng hạ tầng, điều tiết giá cả…Áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông
nghiệp đô thị là vừa phải tiến hành sản xuất, vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi
trường cảnh quan cho đô thị.
- Vùng nội đô thị: Nông nghiệp phát triển theo hướng trồng hoa, cây cảnh,
cây ăn quả để cung cấp cho nhu cầu của người dân, cho công viên và cho nhu
cầu trang trí tạo cảnh của thành phố. Tạo các sông hồ kết hợp với nuôi trồng
thủy sản, lấy sản phẩm tiêu thụ chỉ là một phần mà chủ yếu để tạo cảnh quan,
chăm lo môi trường sinh thái cho đô thị. Phát triển vùng cây xanh điều hòa khí
hậu, tạo bóng mát.
- Vùng ngoại ô sát đô thị (ven đô): Tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch
9


tạo ra sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của đô thị về nông sản và
môi trường. Các cấp chính quyền phải có chính sách hỗ trợ để tạo ra vùng đệm
về cảnh quan, sinh thái đô thị và góp phần giải quyết tại chỗ các nhu cầu của
người dân thành phố.
- Vùng ngoại ô xa đô thị: Tiến hành sản xuất nông nghiệp quy mô lớn để
đáp ứng các yêu cầu của đô thị về nông sản và môi trường.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP SINH THÁI

Mô hình phát triển nông nghiệp nội đô ở Havana-Cu Ba

Mô hình phát triển nông nghiệp nội đô ở Havana-Cu Ba

10


Mô hình phát triển nông nghiệp nội đô ở Columbus-Mỹ

Mô hình phát triển nông nghiệp nội đô ở Columbus-Mỹ

11


Mô hình phát triển nông nghiệp ven đô ở Zurich - Thuỵ Sỹ

Mô hình phát triển nông nghiệp ven đô ở Zurich - Thuỵ Sỹ

12


Mô hình phát triển nông nghiệp ven đô ở Taipei – Đài Loan

Mô hình phát triển nông nghiệp ven đô ở Taipei

13


* Các mô hình nông nghiệp đô thị gắn với quy hoạch tổng thể

QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ VEN ĐÔ
Kết hợp được các khu chức năng khác nhau ở ngoại vi đô thị như:
- Khu nhà ở;
- Khu nông nghiệp đô thị;
- Khu nông nghiệp sản lượng lớn;
- Rừng đô thị, công viên;
- Khu nghỉ dưỡng, khu bảo tồn thiên nhiên;
- Hệ thống giao thông tiện lợi;
- Hệ thống nước liên hoàn cho nông nghiệp và đô thị.
2.1 Mỹ
Ở Mỹ, có 1000 dự án nông nghiệp vùng ven đô, có 696 trang trại trên đất
đô thị, tại New York có 1000 vườn trong thành phố, tỷ lệ cây xanh đạt 21,6
m2/người.
Các trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp trong quá trình sản xuất có sự
liên doanh liên kết với các công ty, xí nghiệp và dịch vụ đảm bảo nhu cầu về vật
tư, thiết bị phục vụ đầu vào và chế biến, bảo quản, lưu thông, tiêu thụ nông sản
14


bảo đảm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp. Do đặc điểm nhiều ruộng đất, ít lao
động và trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp cao, nên các trang
trại nông nghiệp Mỹ đều có quy mô lớn. Xu thế giảm số lượng trang trại và tăng
quy mô trang trại đã diễn ra với tốc độ nhanh chóng trong thời gian từ những
năm 1960 trở đi.
Từ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp cao nên năng suất sản xuất lao
động nông nghiệp của Mỹ đạt những chỉ tiêu cao nhất thế giới như chi phí lao
động để sản xuất 01 tạ ngô hạt là 0,12 giờ công; 01 tạ lúa nước là 0,30 giờ công;
01 tạ lúa mỳ là 0,19 giờ công; 01 tạ thịt lợn là 0,88 giờ công đã đưa Mỹ đứng
thứ nhất thế giới về xuất khẩu ngũ cốc.
2.2. Hàn Quốc
Quá trình phát triển nông nghiệp sinh thái ở Hàn Quốc có những đặc điểm
đáng chú ý sau:
- Nhà nước đảm bảơ cung cấp tốt và điều tiết tốt các nhân tố đầu vào như
giống, phân bón, thuốc trừ sâu, khuyến khích thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa
cây trồng, vật nuôi đồng thời cho phép thương mại hóa nền nông nghiệp, đầu tư
phát triển hạ tầng kỹ thuật nông thôn nhằm đẩy nhanh nền nông nghiệp sinh
thái.
- Phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ tại các vùng nông thôn, ngoài ra
Chính phủ rất chú trọng công nghiệp chế biến với gần 30.000 xí nghiệp lớn, vừa
và nhỏ nằm ở thành phố và nông thôn.
- Tăng cường cơ giới hóa và hiện đại hóa nông nghiệp với các chính sách
hỗ trợ nông dân vay 60% và trợ cấp 40% tiền mua máy móc, do đó đến năm
1960 trình độ cơ giới hóa nông nghiệp ở Hàn Quốc khá cao. Đến những năm
1970, ngoài việc triển khai cơ giới hóa nông nghiệp thì sản xuất nông nghiệp
được triển khai áp dụng các thành tựu của công nghiệp như sinh học, hóa học…
đầu những năm 1990 có xu hướng chuyển sang nông nghiệp kỹ thuật cao, sản
xuất trong nhà kính với nhiều loại nông sản với thiết bị điện tử tự động hóa.
Như vậy, phát triển hạ tầng nông thôn, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi,
tăng cường cơ giới hóa và ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ vào sản xuất,
đó là những nhân tố để phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái ở Hàn
Quốc.
15


2.3. Hà Lan
Hà Lan là một nước đứng hàng đầu thế giới về nhiều sản phẩm nông
nghiệp có giá trị kinh tế cao. Đó cũng là một trong những quốc gia có các đô thị
phát triển và dân số đô thị đông nhất thế giới. Hà Lan là một quốc gia có tốc độ
phát triển đô thị rất cao nhưng dưới sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ Hà Lan,
nền nông nghiệp của nước này cũng rất phát triển, nhất là bộ phận nông nghiệp
ở ven đô. Phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và nông nghiệp ven đô có thể
được xem như là giải pháp cơ bản của Hà Lan trong chiến lược phát triển nông
nghiệp bền vững. Ít có quốc gia nào trên thế giới như Hà Lan đã thành công
trong việc giải quyết khéo léo mâu thuẫn vốn có giữa phát triển công nghiệp đô
thị với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy mối quan hệ hài hoà, chi
phối bổ sung cho nhau giữa thành thị và nông thôn, công nghiệp và nông nghiệp,
giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao mức sống và thu nhập cho dân cư.
Phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và nông nghiệp ven đô ở Hà Lan
được hiểu là “green core”, có nghĩa là phát triển một nền nông nghiệp xanh, bền
vững với các đặc trưng cơ bản như giá trị sản phẩm nông nghiệp cao, duy trì và
thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, marketing và phát triển các loại hình dịch vụ
trong nông nghiệp, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm
nghiên cứu, quản lý và đào tạo kiến thức về môi trường cho các cá nhân và tổ
chức thực hiện. Các trang trại thâm canh cao như vậy đã được hình thành và
phát triển từ thế kỷ trước. Hà Lan nhận thức được rằng không còn đủ không gian
cho việc phát triển nông nghiệp theo chiều rộng, Chính phủ đã quyết định đầu tư
trên số lượng diện tích hiện có để nâng cao năng suất và sản lượng thu hoạch.
Đây là một phương pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và nông nghiệp
ven đô rất cần thiết ở mọi đô thị trên thế giới: Xác định rõ thị trường và đầu tư
theo chiều sâu để tăng năng suất.
2.4. Trung Quốc
Trung Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản phẩm nông nghiệp
cũng đã từng ở trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu như nước ta hiện nay, những
đổi mới của ngành nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái đã
mang lại những hiệu quả kinh tế, xã hội rõ rệt.
Ở Trung Quốc song song với chính sách mở cửa kinh tế là chính sách phát
triển khoa học và công nghệ, tháng 3/1986 ông Đặng Tiểu Bình đã phê duyệt
16


Chương trình công nghệ cao gọi tắt là Chương trình 86-3. Chương trình 86-3
triển khai mạnh mẽ việc quy hoạch xây dựng các trường đại học, các viện
nghiên cứu trọng điểm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (được trang
bị từ 3 - 10 triệu USD/phòng thí nghiệm). Một trong những thành tựu tiêu biểu
của Chương trình 86-3 là tạo ra giống lúa lai 2 dòng. Hiện nay Trung Quốc có
khoảng 15,0 triệu hecta lúa lai/năm, chiếm 50% diện tích trồng lúa, trong đó có
2,5 triệu hecta lúa lai 2 dòng (năm 2001). Lúa lai 2 dòng có năng suất trung bình
cao hơn năng suất trung bình của lúa lai 3 dòng từ 6 - 10% và năng suất hạt lai
F1 đạt trung bình 2,7 tấn/hecta. Tiềm năng năng suất của lúa lai 2 dòng đạt 12 14 tấn/hecta. Giống siêu lúa năng suất 12 tấn/hecta được chuyển gen chống chịu
bằng biến nạp gen.
Công nghệ nhân giống nhanh sạch bệnh đạt qui mô công nghiệp ở trên
200 loại cây trồng. Nhân giống mía bằng cấy mô: Nhân 2 tỷ cây mía giống Quế
đường 11 trồng trên diện tích 33000 ha ở Quảng Tây. Nhân giống chuối bằng
cấy mô tạo ra 200000 ha chuối ở Quảng Châu, Quảng Tây (gấp hai lần diện tích
trồng chuối ở cả nước ta). Nhân giống và sản xuất hoa ở Côn Minh, Vân Nam.
Xây dựng hàng loạt các mô hình nông nghiệp sinh thái (kết hợp với nông lâm
ngư, du lịch sinh thái và du lịch tri thức nông nghiệp). Tạo giống chuyển gen,
như giống bông mang gen BT chống chịu sâu, đã được trồng trên tổng số
khoảng 2 triệu hecta.
Ở Trung Quốc, trình độ phát triển chung còn thấp, nông nghiệp công nghệ
cao vẫn chủ yếu xuất phát từ công nghệ nhập. Trung Quốc sẵn sàng trả giá khá
cao cho nhập nội trọn gói giống tốt, thiết bị công nghệ tiên tiến như: Công nghệ
nhân giống hoa phong lan bằng cấy mô của Nhật Bản. Nhập thiết bị và công
nghệ sản xuất và nhân giống rau hoa cao cấp ở Quảng Châu (mô hình ở đặc khu
Chu Hải). Mô hình này kết hợp công nghệ cao với du lịch nông nghiệp và
khuyến nông quảng bá công nghệ cao. Họ nhập nhà Platstic, nhà lưới, hệ thống
tưới, phương pháp trồng cây trong giá thể hữu cơ, sử dụng giống tốt...Mô hình
nhà xanh sản xuất rau hoa cao cấp ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam với hàng chục
hecta nhà lưới của Israel.
Mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Chu Hải được hơn một
triệu lượt người đến thăm quan chỉ trong thời gian ngắn. Khu công nghệ hoa cây
cảnh Côn Minh nay đã trở thành một trung tâm quốc tế về hoa cây cảnh với
hàng triệu lượt người từ khắp nơi trên thế giới và trong nước thăm quan. Mô
17


hình sinh thái xã An Di, thuộc tỉnh Triết Giang có 4 chi, 44 loài tre hoang dã và
26 chi với 195 loài tre trồng trong vườn, thu nhập 130 triệu măng một năm. Xã
An Di sản xuất 500 loại sản phẩm tre trúc khác nhau, xuất khẩu thu về 15 triệu
USD/năm. Riêng năm 1998 có 400000 du khách tới thăm An Di.
2.5. Singapore
Singapore là một trong các quốc gia quản lý và sử dụng đất đai rất có hiệu
quả so với các nước khác trong khu vực. Trong phát triển nông nghiệp đô thị
sinh thái, Singapore đã vận dụng phương pháp kết hợp công nghệ truyền thống
và hiện đại phù hợp với đặc điểm quốc gia nhiều dân tộc, trong đó tập trung phát
triển các mô hình kinh tế trang trại.
Trong mô hình kinh tế trang trại, các trang trại được hình thành và phát
triển không chỉ ở các vùng núi cao mà cả ở ven đô và ven biển. Một trong các
chính sách phát triển mô hình kinh tế trang trại là Chính phủ cho phép người dân
ký hợp đồng thuê đất (từ 3 - 10 năm), tuỳ vào từng loại cây trồng và đặc điểm
của đất đai để hình thành các trang trại ven đô. Từ 15 năm qua, Chính phủ
Singapore đã rất quan tâm đến việc đào tạo, nâng cao kiến thức cho người dân
phát triển kinh tế trang trại.
Trong cơ cấu kinh tế ngành, chăn nuôi là lĩnh vực chủ yếu của nông
nghiệp nói chung, nhất là nông nghiệp ven đô ở Singapore. Các loại sản phẩm
của chăn nuôi đô thị là lợn, gà, tôm, cá… Lượng thịt bình quân mỗi người dân
Singapore tiêu dùng khoảng 75 kg mỗi năm. Trong khi đó, sản lượng rau tiêu
dùng trong nước do nông nghiệp ven đô cung cấp chiếm khoảng 25% tổng sản
lượng rau từ nông nghiệp.
Trước sự phát triển nhanh của nền nông nghiệp đô thị ở các nước có tốc
độ đô thị hoá rất cao, nhiều tổ chức trên thế giới đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và
có hỗ trợ chương trình này. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua các
chương trình định hướng như: AGA Sub-Programme on Peri-urban Production
Systems on animal production, health and veterinary public health, chương trình
Food supply and Distribution to cities (AGSM), chương trình Urban and Periurban forestry. Qua các chương tình này, FAO nghiên cứu các hoạt động nông
nghiệp, hỗ trợ chính sách, trợ giúp kỹ thuật xây dựng các đặc trưng về nông
nghiệp đô thị và ven đô thị. Ngoài ra, còn nhiều tổ chức chính phủ và phi chính
phủ nghiên cứu về vấn đề này, như: UNDP, IDRC, WB... Bên cạnh đó, một số tổ
18


chức trực thuộc Liên Hợp Quốc như: UNHCR, UNICEF, UNWHO... cũng tham
gia vào nghiên cứu. Có 16 nước châu Mỹ La tinh đã xây dựng mạng lưới
AGULIA nhằm chia sẻ thông tin về nông nghiệp đô thị, một số mạng lưới khác
đang được xây dựng ở châu Phi, Đông Nam Á và châu Âu. Các tổ chức xã hội
và các Trường Đại học cũng đang tham gia vào nghiên cứu vấn đề nóng bỏng
này.
3. Tình hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở Việt Nam
Việt Nam là một nước hiện nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ
cấu nền kinh tế, nhiều mặt hàng nông sản của nước ta đã chiếm được vị trí xuất
khẩu hàng đầu thế giới. Song nhìn chung, nông nghiệp của nước ta vẫn trong
tình trạng lạc hậu, một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế. Đặc biệt nông nghiệp đô
thị vẫn chưa định hình, chưa được quan tâm phát triển theo kế hoạch, còn mang
tính tự phát và thiếu sự gắn kết trong quá trình phát triển đô thị.
Các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng,
Đà Lạt.. đều phát triển nông nghiệp đô thị nhưng chưa được quy hoạch cụ thể,
tùy theo điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng vùng mà nông nghiệp đô thị
mỗi nơi có những nét khác nhau.
Tại Hà Nội, nông nghiệp đã bước đầu phát triển theo hướng đô thị sinh
thái, công nghệ cao, sạch và các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất
giống cây trồng vật nuôi. Trồng rau, hoa trong nhà kính, nhà lưới, sản xuất rau
an toàn, nuôi lợn theo kiểu công nghiệp. Cơ cấu nông nghiệp đã chuyển hướng
sang sản xuất nông sản, thực phẩm có chất lượng cao phục vụ nhu cầu đô thị và
bảo vệ môi trường. So với năm 2000, năm 2005 diện tích lúa giảm 10.162ha,
diện tích rau màu tăng 3.500ha, diện tích cây ăn quả tăng trên 700ha. Chăn nuôi
đang phát triển mạnh sản phẩm có chất lượng cao: Lợn hướng nạc đạt 14.000
con, tăng 60% so với năm 2000, nhiều giống gia cầm có chất lượng cao như:
Ngan pháp, Gà thả vườn được đưa vào sản xuất. Một số mô hình trồng cây ăn
quả và nuôi trông thủy sản gắn với du lịch sinh thái ngày càng gia tăng.
Ở Đà Lạt, tập trung cho hoa, cây cảnh và rau á nhiệt đới. Nông nghiệp đô
thị, sinh thái đẩy mạnh sang phục vụ du lịch và xuất khẩu.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, ngành nông nghiệp xu hướng chung là diện
tích trồng lúa, màu và cây công nghiệp giảm. Diện tích chuyên canh tăng. Tại
quận 12, năm 1998 diện tích trồng lúa giảm 178 ha, diện tích trồng rau xanh
19


giảm 474 ha, diện tích trồng cây công nghiệp giảm 274, diện tích trồng hoa
kiểng tăng. Riêng năm 1998 quận 12 có hơn 187 ha trồng hoa kiểng. Ở Gò Vấp
năm 1976 có 50 ha trồng hoa, năm 1985 có 73 ha, năm 1998 có 98 ha và năm
1999 lên tới 116 ha. Điều đáng phấn khởi là chăn nuôi phát triển theo chiều
hướng mới. Ngoài chăn nuôi heo bò, nông dân đã tiếp cận với khoa học kỹ thuật
chăn nuôi cá giống, cá kiểng, ba ba, cá sấu. Có những gia đình nông dân đã thu
nhập rất cao từ những nghề này. Nông nghiệp đô thị phát triển mang đặc trưng
của thành phố siêu đô thị, sản phẩm của nó chủ yếu là rau, hoa, cây cảnh, chăn
nuôi bò sữa và các ngành dịch vụ nông nghiệp. Nông nghiệp đô thị và ven đô
thành phố hàng năm cung cấp khoảng 28.858 tấn thịt lợn, 4.461 tấn thịt trâu bò,
10.632 tấn thị gia cầm, 180 - 200 ngàn tấn rau đáp ứng nhu cầu tại chỗ của dân
cư đô thị.
Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũng đã đưa những mô hình thâm canh
tiên tiến vào sản xuất nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ. Mô
hình thay đổi công thức luân canh tập trung trên các loại đất chủ yếu như: mô
hình chuyển đổi cấy 2 vụ lúa ở chân ruộng trũng sang mô hình 1 vụ lúa xuân +
thả cá vụ mùa. Kết quả là thu hỗn hợp của 2 sản phẩm tăng so với sản xuất thuần
lúa 20,5%. Mô hình chuyển đổi đất 2 màu - 1 lúa sang đất chuyên màu cho giá
trị sản lượng tăng 26,1% hay mô hình chuyển đổi đất 2 lúa + 1 màu sang đất 2
màu + 1 lúa cũng làm tăng giá trị sản lượng lên 25%. Sự chuyển đổi cơ cấu cây
trồng không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà lượng dinh dưỡng trong đất cũng
tăng lên, làm cho việc phát triển bền vững về mặt sinh thái của vùng nông
nghiệp ở đây không ngừng được củng cố.
Mô hình trồng lúa đạt hiệu quả cao, bền vững ở Nông trường Sông Hậu,
nông trường Cờ Đỏ, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ra những biện
pháp giảm chi phí sản xuất lúa bằng cách tiếp cận theo hướng bền vững hệ sinh
thái. Mô hình tổng hợp theo thiết kế của nông trường Sông Hậu gồm lúa đông
xuân và lúa hè thu, xoài được trồng trên bờ bao, cá nuôi trong mương và ruộng
lúa đã cho lợi nhuận 12 triệu đồng/ha, gấp 6 lần so với mô hình chỉ trồng lúa.
Mô hình lúa - tôm nước lợ ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang đều cho hiệu quả
cao. Đây là mô hình canh tác đa dạng, đạt hiệu quả cao và bền vững có thể áp
dụng rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài những mô hình phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững trên, ở
những vùng địa lý sinh thái cụ thể ở nước ta trong quá trình phát triển sản xuất
20


nông nghiệp còn rất nhiều mô hình phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững
theo những mặt cụ thể như các mô hình sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau
sạch, sử dụng phân vi sinh trong trồng lúa ở Hà Nội, sử dụng chế phẩm EM (hỗn
hợp vi sinh vật hữu hiệu) trong chăn nuôi, trồng trọt, xủa lý phế thải, chống đất
bạc màu đã được phổ biến và áp dụng ở nhiều địa phương như Hà Nội, Thái
Bình, Hà Nam, Tiền Giang, Hải Phòng.
Các nghiên cứu về nông nghiệp đô thị cũng đã được chú ý bắt đầu từ
những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học của Viện Khoa Học Kỷ
Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Trường Đại
Học Nông Nghiệp I - Hà Nội), Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Viện Di
Truyền Nông Nghiệp...đã tiến hành một số nội dung nghiên cứu về nông nghiệp
sinh thái bền vững, nông nghiệp đô thị và nông nghiệp đô thị sinh thái nhằm góp
phần phát triển nông nghiệp của các thành phố lớn theo hướng hiện đại, bền
vững. Năm 2003, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nội dung Nghiên cứu
xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trước thực
trạng làng hoa, các khu sản xuất nông nghiệp truyền thống của hà nội bị xoá sổ
do đô thị hoá, năm 2004 thành phố Hà Nội đã có một đề tài nghiên cứu “Phát
triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở khu vực ngoại thành Hà Nội phục vụ CNHHĐH nông nghiệp nông thôn”.
Phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái bền vững đã và đang được
thực hiện ở khắp các địa phương trong cả nước. Bước đầu những mô hình nông
nghiệp sinh thái bền vững này đã khẳng định tính hiệu quả và sự phù hợp với
các điều kiện ở từng vùng khác nhau trong cả nước. Tuy nhiên, ở nước ta nghiên
cứu về vấn đề này còn rất mới mẻ và đang là yêu cầu đặt ra cần phải được làm
rõ và định hướng phát triển để góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước.
4. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái
4.1. Về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và
phát triển của nền nông nghiệp đô thị sinh thái.
Ở Việt Nam hiện nay, tốc độ phát triển các đô thị rất lớn, tăng nhanh về số
lượng, kéo theo đó là sự tăng lên về số dân và giảm diện tích sử dụng trung bình
21


trên mỗi đầu người, đồng thời kinh tế cũng có sự cải biến rõ rệt, nhu cầu xây
dựng nông nghiệp đô thị sinh thái tăng cao, là đòi hỏi tất yếu của mỗi đô thị.
Các đô thị này đều có ưu thế rất lớn trong việc hình thành và phát triển
nông nghiệp đô thị sinh thái, bởi đều được hình thành từ vùng nông thôn, nông
nghiệp: có diện tích lớn, đất đai màu mỡ, hệ sinh thái thực vật đa dạng, có vùng
có xen kẽ rừng, biển.
Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái đòi hỏi phải có
lượng vốn lớn để xây dựng các cơ sở hạ tầng, các khu nông nghiệp tạo cảnh quan
(các vườn hoa, rừng, các ao hồ, đầm…), bảo vệ môi trường (rừng phòng hộ, …),
xây dựng các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm sạch… Trong khi
đó, nhu cầu vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nội đô, xây dựng nông nghiệp đô thị
sinh thái rất lớn, do vậy việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn để đầu tư phát triển
nông nghiệp đô thị sinh thái là bài toán khó đặt ra.
4.2. Đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa
Đô thị hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá là mục tiêu mà tất cả các địa
phương đều hướng tới, coi đó là nhiệm vụ quan trọng nhất trong quá trình điều
hành nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Nhiều tỉnh thành trong cả nước, chỉ trong vòng
10 năm trở lại đây, hàng vạn hécta đất nông nghiệp đã được chuyển đổi sang
mục đích sử dụng khác để xây dựng hàng loạt khu, cụm công nghiệp lớn, các
nhà máy sản xuất...
Đô thị hoá và sự biến đổi các ngành kinh tế đã tạo nên những cơ hội mới
cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn về thị trường, về khoa học công nghệ và
các tiềm lực khác để khai thác các tiềm năng về vị trí địa lý, về các nguồn lực tự
nhiên, kinh tế xã hội phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới.
Đô thị hoá, một mặt thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, mặt khác kéo theo
sự biến đổi trong bố trí sản xuất nông nghiệp.
Đô thị hoá ngày càng cao tạo nên sự chuyển biến về thị trường của nông
nghiệp, với nguồn dân số phi nông nghiệp ngày càng tăng nhu cầu nông sản sẽ
ngày càng lớn. Đây là thị trường lý tưởng cho nông nghiệp, vì có thị trường tại
chỗ với yêu cầu số lượng lớn, chất lượng cao, chủng loại phong phú.

22


Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đô thị hóa mang lại, những tác động
tiêu cực cũng không nhỏ; đặc biệt diện tích đất sản xuất nông nghiệp - thủy sản
ngày càng bị thu hẹp ảnh hưởng không nhỏ đến lao động nông nghiệp - nông
thôn. Đất giảm nhưng người không giảm, nhu cầu việc ngày càng tăng, mối
hiểm hoạ về thất nghiệp trong nông nghiệp nông thôn ngày càng cao.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa,
môi trường canh tác nông nghiệp - thủy sản sẽ ngày càng ô nhiễm (nếu không
đẩy mạnh các biện pháp tác động làm sạch môi trường). Những hiểm họa ô
nhiễm từ đô thị như: bụi, không khí ô nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm đất, ô
nhiễm nước... luôn luôn có thể xẩy ra, sẽ ảnh hưởng lớn đến canh tác nông
nghiệp và sản xuất các sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Do đó phát triển nông nghiệp sinh thái ở các đô thị cần phải chú trọng cao
độ đến công tác bảo vệ môi trường sống, môi trường canh tác nông nghiệp thủy sản. Quy hoạch phát triển các vành đai xanh bao quanh các khu đô thị,
công nghiệp để tạo cảnh quan cho thành phố du lịch và giảm thiểu tác động của
nó tới môi trường sinh thái. Hướng phát triển nông nghiệp đô thị phải gắn liền
với việc tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là người lao
động nông nghiệp trong đô thị.
4.3. Tiến bộ về khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng, các thành tựu về khoa học kỹ
thuật trong nông nghiệp liên tục được phát minh, sáng chế; đã ảnh hưởng tích
cực đến phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn. Các tiến bộ khoa học
trong nông nghiệp nông thôn cho phép chúng ta có thể sản xuất nông nghiệp hầu
như trong mọi điều kiện: trồng cây bằng các giá thể, trồng cây theo phương pháp
thủy canh, khí canh... Những vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng
thân thiện với môi trường, nâng cao chất lượng và năng suất sản phẩm ngày
càng phong phú tạo điều kiện cho nông dân có nhiều phương án để đầu tư phát
triển sản xuất.
Bên cạnh đó, hàng loạt những tiến bộ về khoa học công nghệ trong quản lý
cải tiến phương thức sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất
nông nghiệp ngày càng nhiều; hệ thống quản lý, điều hành sản xuất bằng phần
mềm điện tử; quản lý mạng ... đang phát triển ngày càng mạnh mẽ ...

23


Những tiến bộ về khoa học công nghệ ngày nay đã trở thành động lực để
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nhất là nông nghiệp của thành phố công nghiệp
đang bị tác động mạnh của đô thị hóa; đất canh tác ngày càng giảm, khả năng ô
nhiễm môi trường ngày càng cao. Việc áp dụng công nghệ, tiến bộ kỹ thuật là
giải pháp quan trọng trong việc phát triển một nền nông nghiệp đô thị sinh thái
4.4. Mối quan hệ kinh tế của địa phương với các tỉnh lân cận
Sự giao thương kinh tế giữa các vùng miền có ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của nông nghiệp đô thị. Sản phẩm của nông nghiệp đô thị không chỉ
phục vụ nhu cầu nội tại, mà còn phát triển, giao thương với các vùng lân cận.
Đối với các địa phương có mối quan hệ giao thương kinh tế tốt, sản phẩm nông
nghiệp của vùng đó dễ dàng vận chuyển, đáp ứng cho các vùng lân cận, điều
kiện rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa,
quy mô tập trung...; là điều kiện tốt để tiếp thu, học tập những điển hình tiên
tiến trong sản xuất nông nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là những mô hình
phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương để ứng dụng vào thực tiễn sản
xuất.
Song, cũng từ lợi thế trên, nếu nông nghiệp đô thị không phát triển đáp ứng
nhu cầu người tiêu dùng, chất lượng nông sản không cao thì rất dễ bị cạnh tranh
với các mặt hàng nông sản của các tỉnh thành trong và ngoài nước... Tác động
của phát triển kinh tế đến môi trường sản xuất nông nghiệp nhanh chóng và
mạnh mẽ hơn... đó là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nông
nghiệp đô thị sinh thái.
4.5. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng với tốc
độ khá nhanh đòi hỏi nền nông nghiệp cũng phải phát triển với tốc độ phù hợp
để hội nhập chung vào kinh tế khu vực và quốc tế nếu không chúng ta sẽ đứng
trước nguy cơ tụt hậu. Các tiêu chuẩn về nông sản hàng hóa như: Global GAP,
Euro GAP... chúng ta từng bước phải đáp ứng để từng bước xuất khẩu nông sản
ra thị trường thế giới thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
Tuy nhiên để hội nhập, phát huy hiệu quả cao hơn nữa, chúng ta cần phải
áp dụng đồng bộ các giải pháp: giáo dục, đào tạo, tuyên truyền, cơ chế chính
sách, khoa học công nghệ,... để từng bước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nông
24


sản ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Tuy nhiên để thực
hiện được vấn đề này còn gặp rất nhiều khó khăn.
Môi trường nông nghiệp là điểm nhạy cảm dễ bị tác động bởi tốc độ đô
thị hoá, công nghiệp hoá nhanh. Phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp
đô thị sinh thái sẽ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nguồn nước do bón phân, do
thoái hóa đất và phát triển đô thị, công nghiệp…

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KHCN

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

CNH -HĐH

CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

PTNT

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KHKT

KHOA HỌC KỸ THUẬT

HTX

HỢP TÁC XÃ

KCN

KHU CÔNG NGHIỆP

KCX

KHU CHẾ XUẤT

CLB

CÂU LẠC BỘ

VAC

VƯỜN AO CHUỒNG

DTSQ

DỰ TRỮ SINH QUYỂN

GTSX

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT

TTCN

TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×