Tải bản đầy đủ

Một số hiểu biết về vấn đề xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật

Chuyên đề: Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh và những
khó khăn trở ngại trong việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch
bệnh.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì dịch bệnh trên đàn
gia súc, gia cầm cũng diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt là các bệnh lây nhiễm sang
người làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và tính mạng của con người. Dịch bệnh này không
chỉ xảy ra trong một phạm vi nhỏ, một quốc gia mà có nguy cơ lây lan, phát triển ra
toàn cầu như dịch cúm gia cầm, dịch tả lợn, lở mồm long móng, bệnh bò điên, ....Ví dụ
như đại dịch cúm A H1N1 xảy ra ở người trong thời gian vừa qua mà ban đầu người ta
nghi ngờ là do cúm lợn H1N1 gây ra và lây sang người; cúm A H5N1, cúm A H7N9
trên gia cầm; liên cầu khuẩn trên lợn, …. Điều đó khẳng định là sự kiểm soát của
chúng ta đối với dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm chăn nuôi là không chặt chẽ,
không kiểm soát được. Cùng nghĩa với việc con người luôn đứng trước nguy cơ bị lây
nhiễm dịch bệnh từ động vật sang, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng
tới sức khoẻ và tính mạng. Trước tình hình đó, Tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) đã
khuyến cáo: trong quá trình toàn cầu hoá về kinh tế thế giới thì sự ngăn chặn nguy cơ
của dịch bệnh gia súc, gia cầm cũng cần được quan tâm ở quy mô toàn cầu.
Để ngăn chăn dịch bệnh nhằm đảm bảo phát triển chăn nuôi, tăng cường thương
mại và bảo vệ sức khoẻ con người; các nước cam kết thực hiện Hiệp định về áp dụng
các biện pháp phòng chống dịch và kiểm dịch động thực vật (viết tắt là S.P.S) của Tổ
chức Thương mại thế giới. Thực hiện Hiệp định S.P.S tức là cam kết đầu tư xây dựng

hệ thống thú y, bảo vệ thực vật đủ khả năng và điều kiện phòng, khống chế đi đến tiêu
diệt các loại dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm, đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin và sự an toàn cho các nước nhập khẩu.
Việc thực hiện hiệp định này không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa rất lớn đối
với nền kinh tế của mỗi nước.
Xây dựng hệ thống thú y đủ khả năng và điều kiện phòng, khống chế đi đến tiêu
diệt các loại dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm tức là xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh
(theo Luật Thú y 2015) là vùng, cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống
động vật được xác định không xảy ra bệnh truyền nhiễm thuộc Danh mục bệnh động
vật phải công bố dịch trong một khoảng thời gian quy định cho từng bệnh, từng loài
động vật và hoạt động thú y trong vùng, cơ sở đó đảm bảo kiểm soát được dịch bệnh.
Trước đó, theo Pháp lệnh thú y năm 2004: Vùng an toàn dịch bệnh là vùng lãnh thổ
(một huyện hay nhiều huyện; một tỉnh hay nhiều tỉnh) được xác định, ở đó không xảy
ra ca bệnh nào trong thời gian quy định cho từng bệnh hoặc nhiều bệnh và các hoạt
động về thú y phải đảm bảo kiểm soát được dịch bệnh, kinh doanh, vận chuyển động
vật, sản phẩm động vật, kiểm tra vệ sinh thú y giết mổ. Kiểm soát được nguồn gốc
động vật và sản phẩm động vật trong vùng an toàn dịch bệnh, cơ sở an toàn dịch bệnh;
Cơ sở an toàn dịch bệnh là cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm (trại, nông trường, xí
nghiệp) hoặc một xã, một phường mà ở đó không xảy ra ca bệnh nào trong thời gian


quy định cho từng bệnh và các hoạt động chăn nuôi, thú y đảm bảo kiểm soát được
dịch bệnh, kiểm soát được việc xuất, nhập động vật, sản phẩm động vật.
Việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đòi
hỏi sự cố gắng của nhiều ban ngành, tập thể và cá nhân có liên quan đến lĩnh vự thú y.
Chúng ta phải có hệ thống kỹ thuật cứng như chuồng trại, các trang thiết bị, thức ăn,
nước uống, thuốc phòng và trị bệnh hiệu quả. Thứ hai chúng ta phải có con người có
hiểu biết, có khả năng áp dụng khoa học công nghệ phòng chống và tiêu diệt dịch bệnh.
Trước tiên chúng ta phải có những căn cứ thực tiễn của vùng, cơ sở để từ đó có
những giải pháp xây dựng phù hợp. Tức là chúng ta phải tìm hiểu thực trạng của công
tác thú y, tìm hiểu những căn cứ pháp lý, Luật Thú y năm 2015 và các Nghị định của
Chính phủ, Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về thú y,
Luật an toàn thực phẩm 2010,…tìm hiểu những căn cứ khoa học công nghệ như các
biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả, tiến tới khống chế và thanh toán dịch bệnh.
Tiếp đó là chúng ta phải có đội ngũ thú y đông đảo, đủ khả năng đảm nhiệm vai
trò quản lý công tác thú y để phòng và khống chế được dịch bệnh. Để làm được điều
này thì chúng ta phải tiến hành đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ làm
công tác thú y: về phòng chống dịch bệnh, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y,
kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, chẩn đoán xét nghiệm phát hiện dịch


bệnh, kiểm tra, thanh tra chuyên ngành thú y.
Tiếp nữa là chúng ta phải tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến các tập thể, cá
nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến lĩnh vực thú y. Tuyên truyền phổ
biến cho nhân dân hiểu về vấn đề dịch bệnh và an toàn dịch bệnh để huy động được
sức mạnh của tập thể, của mọi lực lượng trong xã hội trong việc xây dựng vùng và cơ
sở an toàn dịch bệnh.
Các giải pháp xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh.
* Các giải pháp kỹ thuật:
- Về chuồng trại: Xây dựng hệ thống chuồng trại phù hợp theo qui định đảm bảo
điều kiện vệ sinh thú y, phải có hệ thống xử lý nước, phân, chất thải trước khi thải ra
môi trường. Khu vực chăn nuôi phải có kế hoạch thường xuyên, định kỳ vệ sinh tiêu
độc khử trùng theo qui định (khi chưa có dịch và khi có dịch).
- Về con giống: Cơ sở chăn nuôi phải chủ động về con giống, con giống phải
đảm bảo khoẻ mạnh để có khả năng chống đỡ bệnh tật, không mang mầm bệnh.
- Về thức ăn, nước uống, thuốc phòng và trị bệnh: Phải cung cấp đủ thức ăn,
nước uống, đảm bảo tiêu chuẩn cho sự phát triển khoẻ mạnh của động vật. Thuốc
phòng và trị bệnh có hiệu quả, không sử dụng thuốc gây bất lợi cho sức khoẻ của động
vật và đảm bảo sự an toàn cho con người sử dụng sản phẩm của động vật đó. Phải
thường xuyên có sự giám sát, kiểm tra, kiểm nghiệm nước uống, thức ăn, thuốc thú y
cung cấp cho chăn nuôi.
- Về công tác tiêm phòng: Việc tiêm phòng cho động vật để tạo miễn dịch chủ
động phòng chống dịch bệnh là việc làm cần thiết và phải tiến hành theo đúng qui
định, tiến hành tiêm định kỳ và tiêm bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm. Chế độ tiêm
phòng đối với từng bệnh, từng loài động vật trong vùng an toàn dịch bệnh, cơ sở an
toàn dịch bệnh thực hiện theo đúng hướng dẫn, quy định.


- Về công tác chẩn đoán xét nghiệm phát hiện dịch bệnh:
Phải định kỳ tiến hành khảo sát, đánh giá về huyết thanh học, sự lưu hành của
virut đối với bệnh đăng ký an toàn và các bệnh truyền lây sang người. Kiểm tra, đánh
giá khả năng đáp ứng miễn dịch đối với các bệnh đã tiêm phòng, kiểm tra huyết thanh
học đối với một số bệnh mang trùng để chủ động phòng chống dịch bệnh, phát hiện kịp
thời và xử lý khi có bệnh dịch xảy ra.
- Về kiểm dịch vận chuyển động vật: đây là hoạt động lưu thông động vật và
sản phẩm động vật trong nước và giữa các quốc gia trên thế giới, là hoạt động có nguy
cơ cao gây lây nhiễm dịch bệnh giữa các vùng, các quốc gia. Vì vậy phải kiểm soát
chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, đặc biệt đối với động vật, sản
phẩm động vật nhập vào vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh, cụ thể: động vật, sản phẩm
động vật được đưa vào vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh phải có nguồn gốc từ vùng, cơ sở
đã được công nhận an toàn dịch bệnh và phải có giấy chứng nhận kiểm dịch tại gốc của
cơ quan Thú y có thẩm quyền; động vật phải được nuôi cách ly trong thời gian từ 1530 ngày tuỳ theo từng bệnh, từng loài động vật tại khu cách ly trước khi cho nhập đàn.
Trong trường hợp để ngăn chặn dịch bệnh lây lan vào vùng an toàn dịch bệnh, cơ quan
chức năng có thẩm quyền thành lập các chốt kiểm dịch động vật trên các đường giao
thông chính trong vùng đệm. Và chỉ cấp giấy chứng nhận kiểm dịch cho động vật, sản
phẩm động vật được lấy từ vùng an toàn dịch bệnh, cơ sở an toàn dịch bệnh hoặc từ cơ
sở không có dịch bệnh và có xác nhận của cơ quan thú y sở tại. Củng cố, tăng cường
đội ngũ làm công tác kiểm dịch, kiểm soát chặt chẽ động vật, sản phẩm động vật nhập
khẩu và động vật, sản phẩm động vật lưu thông trong nước.
- Về việc buôn bán, giết mổ gia súc, gia cầm: động vật trong vùng an toàn dịch
bệnh phải được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chỉ lưu thông, buôn bán, giết mổ động
vật, sản phẩm động vật đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y. Việc giết mổ phải được thực hiện
trong lò mổ tập trung hoặc ở những điểm được cho phép giết mổ. Phải kiểm soát chặt
chẽ hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm, kiểm tra vệ sinh thú y trước, trong và sau khi
giết mổ, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, phòng chống bệnh dịch lây lan trước khi đưa sản
phẩm động vật vào thị trường tiêu thụ.
- Về khai báo khi có dịch bệnh xảy ra: Tổ chức, cá nhân có chăn nuôi, giết mổ
động vật phải có sổ theo dõi tình hình chăn nuôi, dịch bệnh, giết mổ. Khi thấy động vật
mắc bệnh hoặc chết do nghi mắc bệnh truyền nhiễm phải báo ngay cho nhân viên Thú
y xã, phường thị trấn hoặc cơ quan Thú y và chính quyền địa phương (theo chế độ báo
cáo theo qui định), không được vận chuyển, bán, giết mổ, lưu thông trên thị trường.
- Về xử lý động vật mắc bệnh truyền nhiễm: Thực hiện việc tiêu hủy, giết huy
động vật mắc bệnh theo theo hướng dẫn, giám sát của cơ quan Thú y phù hợp cho từng
bệnh theo quy định của pháp luật Thú y.
- Về công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành thú y: phải thường xuyên kiểm
tra công tác tiêm phòng phòng chống dịch, công tác vận chuyển, lưu thông động vật,
sản phẩm động vật trên thị trường, công tác đảm bảo vệ sinh thú y của các trang trại,
cơ sở chăn nuôi, các cơ sở giết mổ, chế biến sản phẩm động vật.
* Các giải pháp về con người


- Thường xuyên tổ chức tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân, các tổ chức, cá
nhân có liên quan đến hoạt động thú y để nắm được và góp phần vào xây dựng vùng cơ
sở an toàn dịch bệnh nhằm phòng chống bệnh dịch có hiệu quả và tiến tới thanh toán
bệnh dịch.
- Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn kiến thức, khoa học thú y, kiến thức phòng
chống dịch bệnh cho đội ngũ cán bộ làm công tác thú y. Củng cố, tăng cường mạng
lưới thú y từ trung ương đến cơ sở, xây dựng một hệ thống cán bộ, cộng tác viên thú y
đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ phòng và khống chế bệnh dịch.
Một số khó khăn, trở ngại trong việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh.
- Công tác chẩn đoán xét nghiệm: Việc chẩn đoán xét nghiệm để kịp thời phát
hiện bệnh dịch ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do trang thiết bị phục vụ còn thiếu.
Khả năng đọc và phân tích kết quả của đội ngũ kỹ thuật còn hạn chế, cần phải được
đào tạo và tập huấn thêm.
- Công tác kiểm dịch vận chuyển: việc kiểm soát còn rất nhiều bất cập. Chủ yếu
mới tập trung kiểm soát được việc vận chuyển trên các trục đường giao thông lớn, còn
lại mộ số trục đường nhỏ thì chưa có sự giám sát nên các phương tiện chọn những trục
đường này để tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng. Chính vì vậy mà việc kiểm
soát dịch bệnh gặp rất nhiều khó khăn nếu không nói là không kiểm soát được. Đội ngũ
cán bộ làm công tác kiểm dịch còn ít, chưa kiểm soát hết được nguồn động vật, sản
phẩm động vật vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Đây là một khó khăn trở ngại rất
lớn cho việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh.
- Công tác tiêm phòng: Công tác này cũng gặp rất nhiều khó khăn, chưa triệt để
nên bệnh dịch vẫn xảy ra lẻ tẻ.
- Trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng chống dịch bệnh còn thiếu nhiều.
- Công tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y còn hạn chế do đa số các
vùng chưa xây dựng được lò mổ tập trung, nếu có thì cũng chưa hoàn thiện, hoạt động
còn chắp vá, tận dụng. Hơn nữa hoạt động giết mổ diễn ra ở bất cứ đâu, với bất cứ ai
do tập quán của người Việt Nam thích sử dụng sản phẩm tươi sống, muốn tận mắt hoạt
động giết mổ động vật, sản phẩm động vật dùng làm thức ăn phục vụ gia đình. Tuy
nhiên hoạt động vệ sinh thú y nơi giết mổ, xử lý chất thải sau giết mổ lại không được
thực hiện hoặc thực hiện qua loa, sơ sài rồi thải trực tiếp vào môi trường.
- Nhận thức của người dân, người chăn nuôi trong công tác phòng chống dịch
bệnh còn hạn chế: chưa hiểu rõ được vai trò to lớn và lợi ích của việc tiêm phòng trong
phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm chăn nuôi và phòng chống khả năng
lây nhiễm bệnh dịch từ động vật sang người; khi có gia súc, gia cầm bị ốm, chết thì
không báo cho cán bộ thú y, cơ quan chức năng mà bán chạy hoặc giết mổ gia súc, gia
cầm để bán, tiêu thụ trong vùng.
Nhận thức của người kinh doanh động vật, sản phẩm động vật còn hạn chế hoặc
vì lợi nhuận mà bỏ qua lợi ích của cộng đồng, của xã hội trong việc phòng chống dịch
bệnh.
Một số cán bộ làm công tác thú y còn lơ là trách nhiệm, chưa thực sự có trách
nhiệm với công việc mà mình đảm nhiệm.


- Dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp gây khó khăn cho hoạt động chẩn
đoán, xét nghiệm và phòng chống dịch bệnh.
Tóm lại: Vấn đề xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh là vấn đề cấp thiết của
mỗi vùng, mỗi quốc gia. Nó không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cộng đồng mà nó còn
có ý nghĩa quan trọng trong giao thương buôn bán của mỗi đất nước. Tuy nhiên để xây
dựng thành công vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh thì còn gặp nhiều khó khăn đòi hỏ sự
cố gắng nỗ lực của các ngành, các cấp và của toàn xã hội.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×