Tải bản đầy đủ

hấp thu CO2 bằng h2o

Có một vài ứng dụng trong nước dùng tháp phun kết hợp tháp đệm lọc
SO2 bằng dung dịch xút 0,5~ 1% thay cho dung dịch vôi với hệ số phun μ ≈
3kg/kg đã cho kết quả: Hạ được nồng độ SO2 trong khí thải lò đốt dầu F.O
khoảng 85 ~ 90%. Phản ứng trong quá trình như sau:
NaOH + SO2 =NaHSO3
NaOH + NaHSO3 = Na2SO3 +H2O
Dung dịch này tránh được nhược điểm của dùng vôi là ít bị nghẹt hệ thống
phun dung dịch và chỉ hấp thu SO 2 . Phản ứng phụ của xút với CO 2 nếu có
xảy ra thì một phần của cacbonat natri được hình thành sẽ phản ứng với khí
SO2 để tạo thành sunfit và bisunfit natri:
NaOH + H2CO3 = NaHCO3 + H2O
2NaOH + CO2 = Na2CO3 + H2O
Na2CO3 + SO2 = Na2SO3 +CO2
NaHCO3 + SO2 = NaHSO3 + CO2
Na2SO3 + SO2 + H2O = 2NaHSO3
Tuy vậy hệ thống này tiêu tốn nhiều xút ; Còn đòi hỏi khí thải phải được
làm nguội trước khi xử lý khí thải và trên thực tế nước thải đã không được
xử lý khi thải bỏ, vì nếu cộng thêm phần xử lý nước thì giá thành hệ thống rất
cao. Ngoài ra hệ thống này cần làm bằng vật liệu chịu được môi trường kiềm
cao như INOX; COMPOSITE…



hai ra khí quyển do đốt nhiên liệu ở các nhà máy nhiệt điện, lượng nhiên liệu
tiêu thụ rất lớn. Đây là nguồn ô nhiễm cực lớn thải vào khí quyển hằng ngày.
Vì vậy tại các nhà máy nhiệt điện cần phải quan tâm chú ý đến các kỹ thuật
tiên tiến trong quá trình đốt. Ô nhiễm trong công nghiệp luyện gang thép Tài
liệu được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi trường Việt Nam 9 Tài liệu mang
tính chất tham khảo.Cấm mọi hình thức kinh doanh trái phép khi chưa
đượcsự đồng ý của tác giả Chất ô nhiễm từ công nghiệp sản xuất gang thép
chủ yếu là : bụi, CO, CO2, hydrocacbon ,phenol, benzene, SO2, SO3, NH3,
AsH3… các sản phẩm này sinh ra từ các công đoạn sau : So sánh lượng thải
CO2 theo các dạng nguồn năng lượng khác nhau. Nguồn: Wikipedia Lò cao :
Quặng sắt được nung chảy trong lò cao bằng than cốc với phản ứng hóa học
Fe2O3 + 3C = 2Fe + 3CO Trong khí lò cao có thành phần : 55% N2 , 24 28% CO , 15% CO2 và rất nhiều bụi. Ô nhiễm trong công nghệ sản xuất phân
bón Phân urê : Chất ô nhiễm bao gồm khí thải chứa CO, CO2, NH3, SO2,
chủ yếu ở khâu khí hóa than. Hiện nay theo số liệu của các nhà khoa học,
hàm lượng CO2 trong khí quyển của Trái Đất ngày một tăng. Điều này đã là
tăng hiệu ứng nhà kính của Tài liệu được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi
trường Việt Nam 10 Tài liệu mang tính chất tham khảo.Cấm mọi hình thức
kinh doanh trái phép khi chưa đượcsự đồng ý của tác giả Trái Đất và tăng
nhiệt độ trung bình của Trái Đất, gây hiệu qủa xấu đến môi trường và con
người. Tác hại CO2 đến sức khỏe con người Hàm lượng dioxin cacbon trong
không khí trong lành là khoảng 0,004% và trong không khí bị thải ra từ sự
thở là 4,5%. Khi thở trong không khí với nồng độ cao ( khoảng 5% theo thể
tích ), nó là độc hại đối với con người và các động vật khác . Hemoglobin,
phân tử chuyên chở oxi chính trong hồng cầu, có thể chở cả oxi và dioxit


cacbon, mặc dù theo các cách thức hoàn toàn khác nhau. Sự suy giảm liên kết
với oxi trong máu do sự tăng mức dioxit cacbon được biết đến như là hiệu
ứng Haldane, và nó là quan trọng trong việc vận chuyển dioxit cacbon từ các
mô tới phổi. Ngược lại, sự tăng áp suất thành phần của CO2 hay pH thấp hơn
sẽ sinh ra sự rút bớt oxi từ hemoglobin. Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng Bohr.
Hemoglobin liên kết với CO2 không giống như liên kết với oxi, CO2 liên kết
với các nhóm chứa N trên 4 chuỗi globin. Tuy nhiên, do các hiệu ứng khác
khu vực hoạt hóa trên phân tử hemoglobin, lien kết của CO2 làm giảm lượng
oxi được liên kết đối với áp suất thành phần nhất định của oxi. Dioxit cacbon
có thể là một trong các chất trung gian để tự điều chỉnh việc cung cấp máu
theo khu vực. Nếu nồng độ của nó cao thì các mao mạch nở ra để cho nhiều
máu hơn đến các mô. Các ion bicacbonat là chủ yếu trong việc điều chỉnh pH
của máu. Do tần suất thở có ảnh hưởng tới mức CO2 trong máu, nên nhịp thở


quá chậm hay quá nông sẽ sinh ra hiện tượng nhiễm axit hô hấp, trong khi
nhịp thở quá nhanh sinh ra trong các chứng thở quá nhanh sẽ dẫn đến nhiễm
kiềm hô hấp. Mặc dù oxi là chất cần thiết của quá trình trao đổi chất của cơ
thể, nhưng không phải nồng độ thấp của oxi kích thích sự hô hấp mà lại là
nồng độ cao của dioxit cacbon. Kết quả là, sự hô hấp trong không khí loãng
( áp suất thấp ) hay hỗn hợp khí không có oxi ( ví dụ nitơ nguyên chất) dẫn
đến sự bất tỉnh mà không cần có các vấn đề hô hấp của cá thể đó. Tài liệu
được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi trường Việt Nam 11 Tài liệu mang tính
chất tham khảo.Cấm mọi hình thức kinh doanh trái phép khi chưa đượcsự
đồng ý của tác giả Các giới hạn của OSHA cho nồng độ dioxit cacbon tại nơi
làm việc là 0,5% cho thời gian dài, tối đa tới 3% cho phơi nhiễm ngắn ( tối đa
10 phút ). OSHA cho rằng các nồng độ trên 4% là “ nguy hiểm ngay lập tức


đối với sức khỏe và sự sống”. Những người thở không khí chứa trên 5%
dioxit cacbon trên 30 phút có các triệu chứng tăng anhidrit cacbonic máu cấp
tính, trong khi việc thở với nồng độ dioxit cacbon từ 7% - 10% có thể làm bất
tỉnh trong vài phút. CO2 rắn ( đá khô ) có thể gây ra những vết bỏng rất khó
lành. Tác động của CO2 với môi trường CO2 gần như trong suốt với ánh
sang nhưng lại là chất hấp thụ mạnh và phản phát xạ bức xạ hồng ngoại, đặc
biệt trong vùng bước sóng từ 12 - 18µm. Vì vậy khí CO2 tăng, gây tăng nhiệt
độ vùng khí quyển thấp, do nhiều bức xạ hồng ngoại từ trái đất bị giữ lại.
Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng nhà kính, có thể làm tăng nhiệt độ Trái
Đất lên một cách lâu dài. Các nghiên cứu cho thấy khi nồng độ CO2 tăng từ
300 đến 600 ppm thì nhiệt độ tăng 3,26oC. Nồng độ CO2 trung bình trong
khí quyển vào khoảng 320 ppm. Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng hang
năm trung bình khoảng 0,7 ppm. Hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên,
gây ra tác hại rất lớn đối với sự sống trên Trái Đất, như là làm tan các biển
núi băng ở hai cực Trái Đất, lượng băng tan sẽ làm cho mực nước biển dâng
cao và nước tràn ngập những vùng đồng bằng rộng lớn ven biển. Và nếu như
không có biệp pháp hữu hiệu giảm thiểu khí nhà kính thì mực nước biển có
thể dâng cao tới 1-3m vào cuối thế kỉ này. Sau vài thế kỉ thiếp theo băng giá ở
tây Antartic tan ra chảy vào biển thì mực nước biển sẽ tăng cao tới 5 - 6m.
Cơ sở lý thuyết của các quá trình xử lý
CO2 Hấp thụ bằng các dung dịch Etanolamin
Phản ứng hấp thụ CO2 bằng dung dịch mono etanolamin diễn ra như sau :
2RNH2 + CO2 + H2O → (RNH3)2CO3 (RNH3)2CO3 + CO2 + H2O →
2RNH3HCO3 2RNH2 + CO2 → RNHCOONH3R Dung dịch hấp thụ được
phục hồi bằng cách đun nóng.


Ưu điểm : giá rẻ, khả năng phản ứng cao, ổn định, dễ phục hồi.
Nhược điểm : áp suất hơi cao và dung dịch tham gia phản ứng không thuận
nghịch với COx. Để giảm áp suất hơi, người ta thường dùng nước rửa khí để
thu hồi mono etanolamin. Khi khí có chứa COx, người ta sử dụng
dietanolamin.
Hấp thụ dung dịch ammoniac
Phản ứng hấp thụ như sau : 2NH3 + CO2 → NH2COONH4 NH3 + CO2 +
H2O → NH4HCO3 2NH3 + CO2 + H2O → (NH4)2CO3 Phương pháp này
được ứng dụng để xử lý khí thải chứa 30% CO2. Trong thực tế, phương pháp
này cho phép giảm nồng độ CO2 từ 34% còn 0,015% trong khi tổng hợp
NH3. Dung dịch hấp thụ được phục hồi bằng cách đun nóng.
Hấp thụ CO2 bằng dung dịch kiềm
Thường sử dụng chất hấp thụ là Na2CO3 .
Phản ứng hấp thụ như sau : Na2CO3 + CO2 + H2O → 2NaHCO3 Vận tốc
hấp thụ nhỏ, để tăng vận tốc hấp thụ người ta thường dùng xúc tác là
methanol, etanol, đường … Dung dịch được phục hồi bằng cách đun nóng
bằng hơi nước.
Nhược điểm : hiệu quả hấp thụ thấp và tốn nhiều hơi nước để phục hồi dung
dịch. Do đó, để tăng hiệu quả hấp thụ, người ta cho vào dung dịch một lượng
dư NaOH và dung dịch không tái sinh mà dung vào mục đích khác.
Hấp thụ bằng nước
Phản ứng như sau : H2O + CO2 → H+ + HCO3- Hấp thụ CO2 bằng nước có
ý nghĩa công nghiệp trong xử lý khí áp suất cao, ví dụ như khi tổng hợp NH3.
Khả năng hấp thụ của nước cao khi áp suất riêng phần của CO2 là 3 ÷ 4 at,


khi đó áp suất dư của khí tổng hợp NH3 lên đến 14 at, điều đó làm hạn chế
ứng dụng của nó.
Ưu điểm : kết cấu thiết bị đơn giản, không tốn nhiệt, dung dịch rẻ, nước trơ
với các khí COx, O2 và các tạp chất khác.
Nhược điểm : nước hấp thụ H2 trong không khí, bơm công suất lớn, khả năng
hấp thụ thấp, CO2 thu được không đạt độ tinh khiết.
III. SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT THÉP
Sản xuất thép trong lò điện hồ quang bao gồm các khâu chuẩn bị nguyên liệu,
nạp nguyên liệu, nấu luyện, ra thép và xỉ, tinh luyện, thu gom xỉ và đúc liên
tục. Sơ đồ hình bên dưới mô tả tóm tắt các công đoạn cơ bản Tài liệu được
cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi trường Việt Nam trong quy trình sản xuất
thép bằng lò điện. Sắt thép phế Điện Đất cát Chất phi KL Điện Khí thải Điện
cực Bụi Chất tạo xỉ Tiếng ồn VL đầm lò Chất thải rắn Gas Nhiệt độ cao Oxy
Hơi nước Dầu mỡ Dầu mỡ Nước Nhiệt độ cao Điện Bụi Dầu mỡ Chất thải
rắn Nước Hơi nước Tiếng ồn Sản phẩm 1. Chuẩn bị nguyên liệu Nguyên liệu
cho luyện thép lò điện là sắt thép phế, sắt xốp và gần đây ở một số nước như
Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam cũng sử dụng một lượng gang lỏng tới
50 - 60%. Ra thép Nạp nguyên liệu Nấu chảy Tinh luyện Chuẩn bị nguyên
liệu Đúc liên tục Tài liệu được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi trường Việt
Nam 15 Tài liệu mang tính chất tham khảo.Cấm mọi hình thức kinh doanh
trái phép khi chưa đượcsự đồng ý của tác giả Sắt thép phế được tập trung tại
bãi chứa liệu. Tại đây liệu được xử lý như phân loại, cắt, băm thành các kích
thước theo quy định. Các tạp chất như đất cát, nhựa, gỗ và các chất gây cháy
nổ như vũ khí cũ các loại được loại bỏ hoặc cắt làm thoáng các ống kín…
Sau khi xử lý, liệu được chất vào các thùng chứa liệu rồi vận chuyển đến vị


trí quy định của xưởng luyện. Trong một số trường hợp nguyên liệu được gia
nhiệt trong quá trình vận chuyển (trong thùng chứa liệu hoặc trên băng tải)
bằng nhiệt tuần hoàn hoặc trong lò điện. Một số loại lò điện có hệ thống sấy
liệu bằng nhiệt của khí thải như lò kiểu lò đứng (shaft furnace) hoặc consteel.
Tuy nhiên việc gia nhiệt liệu có thể dẫn đến sinh ra lượng khí thải gồm các
chất độc hữu cơ chứa halogen như polyclorin dibenzo-p-dioxin furam
(PCDD/F), polyclorin biphenil (PCB), polyciclic aromatic hydrocarbon
(PAH)… cao hơn và cần thêm chi phí xử lý. Việc kiểm tra các đồng vị phóng
xạ trong nguyên liệu là rất quan trọng. Các nguyên liệu khác như chất tạo xỉ ở
dạng cục hay bột (vôi, bột carbon), chất hợp kim hóa, hợp kim phero, các
chất khử ôxy và vật liệu chịu lửa phải được lưu trữ, bảo quản trong các thùng
hay boongke có mái che. Các vật liệu dạng bột cần được chứa trong xilo kín.
2. Nạp nguyên liệu Sắt thép vụn cùng với chất trợ dung như vôi, dolomit
được chất vào thùng chứa liệu. Khi nạp liệu, các điện cực được nâng lên cao,
nắp lò được xoay sang một bên để chất liệu từ thùng chứa liệu vào lò. Thông
thường lần đầu chất 50 - 60% liệu cho cả mẻ. Sau đó nắp lò đóng lại, điện
cực từ từ hạ xuống tới khoảng cách 20-30 mm tới liệu thì bắt đầu đánh hồ
quang. Sau khi liệu đầu nóng chảy thì chất phần liệu còn lại vào lò. 3. Nấu
chảy Khi bắt đầu quá trình nấu chảy cần lưu ý sử dụng công suất điện thấp để
phòng ngừa sự phá hủy tường lò và nắp lò do bức xạ nhiệt. Khi hồ quang bị
bao che bởi sắt thép phế xung quanh thì có thể nâng công suất điện cho đến
khi nấu chảy hoàn toàn. Các vòi phun oxy ngày nay cũng được sử dụng để
cường hóa quá trình nấu luyện. Ngoài điện, quá trình nấu chảy còn sử dụng
Tài liệu được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi trường Việt Nam 16 Tài liệu
mang tính chất tham khảo.Cấm mọi hình thức kinh doanh trái phép khi chưa


đượcsự đồng ý của tác giả nhiên liệu là khí thiên nhiên và dầu nhằm rút ngắn
quá trình nấu luyện. Oxi có thể được phun vào thép lỏng bằng những vòi
phun đặc biệt ở dưới hoặc từ hông lò. Oxi trong luyện thép lò điện hồ quang
được sử dụng ngày càng nhiều từ 30 năm nay không chỉ vì lý do luyện kim
mà còn do yêu cầu tăng năng suất. Việc sử dụng oxi có thể từ bình oxi lỏng
hoặc từ trạm sản xuất oxi. Về luyện kim, oxi được dùng để khử cacbon của
thép lỏng và khử các chất không mong muốn như P, Mn, Si, S. Hơn nữa, oxi
còn phản ứng với cacbua hydro tạo nên các phản ứng tỏa nhiệt, hỗ trợ cường
hóa. Cần lưu ý việc thổi oxi có thể tăng khí và khói lò. Khí CO, CO2, hạt oxit
sắt cực mịn và các sản phẩm khói khác có thể được tạo thành. Trong trường
hợp cháy sau (post composting), hàm lượng CO là dưới 0,5% thể tích. Argon
và các khí trơ khác có thể được phun vào trong thép lỏng để khuấy đảo bể
thép làm đồng đều thành phần hóa học và nhiệt độ của thép. 4. Rót thép và ra
xỉ Khi thép lỏng đạt yêu cầu thì cần tháo xỉ trước khi rót thép vào thùng để
đưa sang lò tinh luyện. Lò được nghiêng về phía cửa tháo xỉ để xỉ chảy vào
thùng xỉ. Sau đó thép lỏng được rót vào thùng chứa thép. Hiện nay thường áp
dụng công nghệ ra thép ở đáy lệch tâm (Eccentric Bottom Tapping-EBT) với
lượng xỉ phủ trên bề mặt của thùng thép lỏng là ít nhất. Trong các nhà máy
không có các thiết bị tinh luyện riêng thì các nguyên tố hợp kim được cho
vào thép trước hoặc trong khi ra thép. Các chất cho thêm như vậy cũng làm
tăng lượng khói trong quá trình ra thép. Xỉ cần được vớt ra trong quá trình
nóng chảy và oxi hóa ở cuối mẻ luyện, trước khi ra thép. 5. Tinh luyện Tinh
luyện thép thông thường được tiến hành trong lò thùng (Ladle Furnace-LF)
sau khi thép được lấy ra từ lò điện hồ quang. Trong lò thùng, bể thép lỏng
được nâng nhiệt bằng hồ quang điện và đồng đều hoá nhiệt độ cũng như


thành phần hoá học bằng cách thổi khí argon. Việc thổi khí argon còn có tác
dụng khử sâu các tạp chất khí và tạp chất phi kim loại. Ngoài ra còn bón dây
nhôm và CaSi vào để khử sâu lưu huỳnh, ôxy. Tài liệu được cung cấp bởi
diễn đàn kỹ sư môi trường Việt Nam 17 Tài liệu mang tính chất tham
khảo.Cấm mọi hình thức kinh doanh trái phép khi chưa đượcsự đồng ý của
tác giả 6. Đúc liên tục Hiện nay, trên 90% sản lượng thép sản xuất trên toàn
thế giới được đúc liên tục do công nghệ này cải thiện được năng suất và chất
lượng của phôi thép. Thép lỏng sau khi tinh luyện được rót vào thùng trung
gian (tundish) của máy đúc liên tục để đúc thành thép phôi vuông (billet),
phôi dẹt (slab) … qua hệ thống hộp kết tinh bằng đồng được làm nguội bằng
nước. Tốc độ làm nguội cần được kiểm tra chặt chẽ để đảm bảo chất lượng
của phôi thép. Để phôi thép không bám dính vào thành hộp kết tinh, người ta
áp dụng cơ cấu rung theo hướng đúc và bôi trơn hộp bằng dầu thực vật. Khi
ra khỏi hộp kết tinh, phôi thép được kéo ra liên tục và làm nguội bằng hệ
thống giàn phun. Sau khi được làm nguội, phôi thép được cắt theo chiều dài
yêu cầu bằng máy cắt ngọn lửa.
IV. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP HẤP THỤ
Nguyên lý của phương pháp này là do khí thải tiếp xúc với chất lỏng, khi đó
các khí này hoặc được hoà tan trong chất lỏng hoặc biến đối thành ph ần
thành chất ít độc hơn. Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc vào diện tích
tiếp xúc bề mặt giữa khí thải và chất lỏng, thời gian tiếp xúc, nồng độ môi
trường hấp thụ và tốc độ phản ứng giữa chất hấp thụ và khí. Thiết bị dùng
trong phương pháp hấp thụ là một thiết bị trong đó dung dịch hấp thụ và dòng
khí sẽ đi qua. Thiết bị hấp thụ gồm một số loại chủ yếu sau: - Tháp đệm +
tháp đĩa - Tháp phun + thiết bị rửa khí


Phương pháp hấp thụ dựa vào sự phản ứng của khí với các chất hấp thụ dạng
rắn. quá trình xảy ra có thể là quá trình vật lý hay hoá học. Hiệu quả của thiết
bị hấp thụ phụ thuộc vào các yếu tố như diện tích bề mặt chất hấp thụ cũng
như khả năng hấp thụ của các chất đưựoc chọn. Thiết bị hấp thụ thường được
sử dụng khi cần thu hồi khí thải, hoặc để khử các khí có chất mùi trong công
nghiệp thực phẩm, thuộc da, các dung dịch hữu cơ… V. TỔNG QUÁT VỀ
ETANOLAMIN
Ethanol amin Ethanol amin là một loại hợp chất hữu cơ tạp chức, trong
phân tử chứa đồng thời 2 loại nhóm chức là nhóm –OH và nhóm – NH2
Công thức cấu tạo HO-CH2-CH2-NH2 Ethanol amin được điều chế bằng
cách cho etylen oxit tác dụng với ammoniac trong dung dịch nước và tạo
ra sản phẩm là một hỗn hợp gồm Ethanol amin, diethanol amin, tỉ lệ sản
phẩm sinh ra phụ thuộc vào tỉ lệ giữa etylen oxit và amoniac tham gia
phản ứng ban đầu. Nếu tỉ lệ giữa phân tử amoniac và etylen oxit ban đầu
là 20:1 thì sản phẩm sinh ra chứa 70% Ethanol amin 2. Tính chất Ethanol
amin (côlamin) sôi ở 1710C có trong thiên nhiên, trong thành phần của
photphotit và được tạo thành từ serin do sự decacboxyl bởi men Ethanol
amin là một chất lỏng nhớt, có tính hút ẩm mạnh, tan trong nước và trong
alcol theo bất kì tỉ lệ nào, khó tan trong các hydrocacbon và ete Do trong
phân tử của Ethanol amin mang đồng thời 2 nhóm chức nên ethanol amin
là một chất lưỡng tính. Ethanol amin vừa thể hiện được tính chất của một
rượu no đơn chức, vừa thể hiện tính chất của một amin đơn chức. 3. Vai
trò Dung dịch Ethanol amin đậm đặc có khả năng hấp thục cacbon dioxit (
CO2 ) trong không khí


VI. TÍNH TOÁN THIẾT KẾ
Nhiệm vụ thiết kế: Thiết kế tháp hấp thụ chứa khí CO2 Các thông số khí
thải đầu vào
Lưu lượng đầu vào: 700 m3/h Nồng độ đầu: 0,7% ( theo thể tích ) Các giả
thuyết trong quá trình tính toán Quá trình hấp thụ là đẳng nhiệt. Khí thải
gồm chủ yếu là CO2, CO, bụi …
VII. THUYẾT MINH DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
Ban đầu khí thải từ lò dây chuyền sản xuất thép gồm có bụi, CO2, NOx,
SO2, . . . được đưa vào Xyclon để thu bụi. Sau đó dòng khí này tiếp tục
qua máy lọc khí ướt. Trong máy lọc khí ướt, các hạt bụi được chất lỏng
cuốn đi, chất lỏng này thường được xử lý và tái sử dụng. Khí thải của các
nhà máy thường chứa nhiều cacbuahydro và bụi nhỏ nên các máy lọc khí
thông thường (máy venturi, các máy lọc kiểu cột, tia) không đạt hiệu quả
cao. Vì vậy, một loại máy lọc khí mới được sản xuất với tên AIRFINE bao
gồm một thiết bị lọc bụi tĩnh điện để lọc bụi thô, một hệ thống làm nguội
khí thải và bão hoà độ ẩm, một hệ thống máy lọc tinh để lọc bụi nhỏ mịn
và làm sạch khí và một thiết bị xử lý nước để tách sản phẩm phụ và thu
hồi. Sau khi làm nguội khí thải, SO2 và NOx được hấp thụ bằng dung dịch
kiềm ( hoặc huyền phù ) Tiếp đó khí thải ra sẽ được quạt hút đưa vào tháp
hấp thu để hấp thụ CO2 bằng dung dịch etanolamin. Ở giai đoạn này 90%
lượng CO2 được hấp thụ dung dịch sau khi hấp thụ từ tháp hấp thu sẽ vào
bồn giải hấp để thu hồi lại lượng etanolamin rồi dẫn vào bồn cho việc tái
sử dụng và khí thoát ra sẽ được thải ra hệ thống ống khói phát tán ra bên
ngoài môi trường.


PHẦN II TÍNH TOÁN THIẾT KẾ
Các thông số tính toán:
Lưu lượng: 700 m3/h
Nồng độ đầu: 0,7%
Hiệu suất: 90%
Nhiệt độ vào: 27
Nhiệt độ tháp: 25
Nhiệt độ dung môi: 25
Áp suất: 1atm = 101325 Pa
I. CÂN BẰNG VẬT CHẤT
Ta có:
Xđ = 0
yđ = 0,007 ( molCO2/molKK )
Yđ = 0,00705 ( molCO2/molKK )
Yc = yđ *(1 – 0,9 ) = 0,00705*(1 – 0,9) = 0,000705 ( molCO2/molKK )
yc = 0,000704503 ( molCO2/molKK )
ytb = 0,003852251 ( molCO2/molKK )
MCO2 = 44
MKK = 29
M = ytb * MCO2 + ( 1 - ytb )* MKK = 0,003852251*44 + ( 1 0,003852251 )*29 = 29,05778377 = 29,0578 = 1,9768 ( kg/m3 )
theo bảng 1.7 trang 13 sổ tay quá trình và thiết bị Công Nghệ Hóa Chất
tập 1 = 1,2928 ( kg/m3 ) theo bảng 1.7 trang 13 sổ tay quá trình và thiết bị
Công Nghệ Hóa Chất tập 1 = 1,9768* = 1,811 ( kg/m3 ) = 1,2928* =
1,1844 ( kg/m3 ) = = 1,1884 ( kg/m3 ) = + = + = 24,4843 Giá trị của bước


nhảy:= 0,0006345 ( molCO2/molKK ) Ta có: Y = Suy ra: = = =
135,5432773 ( Pa ) [CO2] = = = 0,149036857 ( mol/m3 ) = 0,000149036 (
kmol/m3 )
X = = 0,000149036 *24,4843 = 0,003649063
Bảng số liệu đường cân bằng: Yđ P* [CO2] ( kmol/m3 ) X 0.0013395
135.5432773 0.000149036000 0.0036490421348 0.001974 199.6214972
0.000183316000

0.0044883639388

0.0026085

263.6186133

0.000212708000

0.0052080064844

0.003243

327.5347797

0.000238892000

0.0058491033956

0.0038775

391.3701497

0.000262757000

0.0064334212151

0.004512

455.1248766

0.000284842000

0.0069741569806

0.0051465

518.7991129

0.005781

582.393011

0.0064155

645.9067229

0.00705

709.3404002

0.000305503000
0.000324990000
0.000343486000

0.0074800271029
0.0079571526570
0.0084100142698

0.000361132000 0.0088420642276
Suất lượng mol hỗn hợp: Ghh = = 28,646 ( kmol/h )
Suất lượng mol khí trơ: Gtr = Ghh ( 1 – Yđ ) = 28,646*(1 – 0,00705 ) =
28,444 ( kmol/h )
Suất lượng khí CO2 đầu vào: GCO2 vào = Ghh - Gtr = 28,646 – 28,444 =
0,202 ( kmol/h )
Lượng dung môi tối thiểu dùng để hấp thụ: Lmin = Gtr . = 28,444. =
20,4112
Lượng dung môi cần thiết: L = k*Lmin = 1,5*20,4112 = 30,6168
Nồng độ dung dịch ra khỏi tháp: Xc = ( Yđ – Yc ) = *( 0,00705 –
0,000705 ) = 0,0059


Tọa độ đường làm việc: A ( Xđ; Yc ) B ( Xc; Yđ ) A ( 0 ; 0,000705 ) B
( 0,0059 ; 0,00705 )
Phương trình đường làm việc: y = 1,075x + 0,000705
Bảng số liệu để xác định số bậc truyền khối: Trong đó: X và Y* được lấy
từ bảng số liệu đường cân bằng Y được tính từ phương trình đường làm
việc: y = 1,075x + 0,000705 ∆ Y = Y sau – Y trước nOy = * ∆ Y X Y* Y Y
- Y* 1/(Y - Y*) ∆ Y nOy 0.0036490421348 0.0013395 0.006926617
0.005587117 178.9831909 0.0044883639388 0.001974 0.008357661
0.006383661 156.6499342 0.001431044 0.240152884 0.0052080064844
0.0026085

0.009584651

0.006976151

143.3455199

0.00122699

0.184045711 0.0058491033956 0.003243 0.010677721 0.007434721
134.5040333 0.00109307 0.151854505 0.0064334212151 0.0038775
0.011673983

0.007796483

128.2629588

0.00996262

1.308923845

0.0069741569806 0.004512 0.012595938 0.008083938 123.7020921
0.000921955 0.116150219 0.0074800271029 0.0051465 0.013458446
0.008311946 120.308767 0.000862508 0.105230659 0.0079571526570
0.005781

0.014271945

0.008490945

117.7725173

0.000813499

0.096839443 0.0084100142698 0.0064155 0.015044074 0.008628574
115.8940008 0.000772129 0.084270661 0.0088420642276 0.00705
0.01578072

0.00873072

114.5380972

0.000736646

0.084873441

2.372341368 Chọn nOy = 2
II. TÍNH TOÁN THÁP HẤP THỤ
Chọn vật liệu đệm là vòng sứ sếp ngẫu nhiên ( tra bảng IX.8 trang 193 sổ
tay quá trình và thiết bị Công Nghệ Hóa Chất tập 2 ) ta được:
Kích thước: 20 * 20 * 2,2


Diện tích bề mặt riêng: ( m2/m3 )
Thể tích tự do của tầng chêm.: Vr = 0,73 ( m2/m3 )
Số đệm trong 1 m3 : 95*103
Khối lượng riêng xốp: = 650 ( kg/m3 )
Khối lượng riêng của pha lỏng: = 1012 kg/m3
Khối lượng riêng của pha khí: = 1,1884 kg/m3
C = 0,022
L: Gx: suất lượng dòng lỏng (kg/h)
G: Gy: suất lượng dòng khí (kg/h)
Gy = Gtr.Mkk+ (Ghh – Gtr).MCO2 = 28,444*29 + ( 28,646 - 28,444)*44
= 833,764 (kg/h)
Gx= L.Ghh= 30,6168*28,646 = 877,049 (kg/h)
Độ nhớt động học của chất lỏng etanolamin: µx = 2,3.10-3 ( N.S/m2 ) ( tra
bảng I.33, trang 113, sổ tay quá trình và thiết bị Công Nghệ Hóa Chất tập
1)
Độ nhớt động học của chất khí: µy = 0,0147 .10-3 ( N.S/m2 ) ( tra bảng
VI, trang 45, Ví dụ bài tập 10 ) 8/14/116,0 3 2 ..75,1... ..lg
       

    

l ytb l x lt ytbñf G LCVg v       lg = 0,022 – 1,75

. lg (0,166* = - 0,74 vf = 1,047 v = 0,9* vf = 0,9*1,047 = 0,9423 1.
Đường kính tháp D = = = 0,512 ( m )
Chọn D = 0,5 m
Tiết diện tháp: S = = = 0,19625 ( m2 )
Tính chiều cao tháp đệm: hp = hOy *nOy
Trong đó: hoy: chiều cao một bậc truyền khối ( m ) noy: số bậc truyền
khối Áp dụng công thức


Tính chiều cao 1 đơn vị truyền khối: hOy = h1 + h2
Trong đó: hoy: chiều cao 1 đơn vị truyền khối (m) h1: chiều cao 1 đơn vị
truyền khối ứng với pha khí (m) h2: chiều cao 1 đơn vị truyền khối ứng
với pha lỏng (m)
Gx: lưu lượng lỏng (kg/s)
Gy: lưu lượng khí (kg/s) m: giá trị trung bình của tan góc nghiêng của
đường cân bằng với mặt phẳng ngang
2. Mật độ tưới thực tế
Utt= Ltt/F
Trong đó:
Ltt : lưu lượng thực tế
F: tiết diện tưới ( tiết diện tháp) Ltt= L *61,08*10-3= 30,6168*61,08*103= 1,87 (m3etanolamin/h) Utt= = 9,53 (m3etanolamin/m2h) 3. Mật độ
tưới thích hợp Uth = B* Tài liệu được cung cấp bởi diễn đàn kỹ sư môi
trường Việt Nam 27 Tài liệu mang tính chất tham khảo.Cấm mọi hình thức
kinh doanh trái phép khi chưa đượcsự đồng ý của tác giả Trong đó: B =
0,158 (m3/m.h) tra bảng IX.6 trang 177 sổ tay quá trình và thiết
Các file đính kèm theo tài liệu này:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×