Tải bản đầy đủ

đề tài xay dung he thong bai tap lop 1

Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

MỤC LỤC

1


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục Tiểu học giữ một vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục của
mỗi quốc gia, là chìa khóa vàng cho mọi quốc gia, dân tộc bước vào tương
lai. Quyết định số 2957/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ
rõ vị trí, tính chất của Giáo dục Tiểu học: “Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ
sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách của con người,
đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục

quốc dân”.
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ , thể chất, thẩm mĩ và
các kĩ năng cơ bản. Với mục tiêu đó, từng môn học ở Tiểu học đều có vai trò
quan trọng góp phần hoàn thành mục tiêu đề ra cho bậc học. Do đó, ở tiểu học
các em phải được tạo điều kiện phát triển tối đa, toàn diện. Ở tiểu học, môn nào
cũng có vị trí và vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách
của con người Việt Nam. Bác Hồ có câu nói rất nổi tiếng đó là: “Có tài mà
không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng
khó”. Chính vì vậy ngoài các môn Toán, Tiếng việt, Tự nhiên và xã hội, … thì
Đạo đức cũng là môn học rất quan trọng trong chương trình học, có nhiệm vụ
tạo dựng cơ sở ban đầu, giúp học sinh xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình
cảm, hình thành những chuẩn mực hành vi phù hợp với các quan hệ: bản thân,
gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội và môi trường tự nhiên.
Việc dạy học môn Đạo đức đã giữ vai trò không nhỏ trong quá trình dạy
học ở trường Tiểu học. Giáo dục đạo đức là một mặt giáo dục mà xã hội cần phải
quan tâm. Trong công cuộc đổi mới hiện nay khi yếu tố con người được đặc biệt
coi trọng thì tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần và đạo đức của con
người càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội. Việc
nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy môn học Đạo đức trong trường Tiểu
học là trách nhiệm và là việc làm vô cùng cần thiết của mỗi người giáo viên. Để
góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức ở bậc Tiểu học, bên cạnh
việc tăng cường đổi mới các phương pháp dạy học tích cực thì vấn đề xây dựng
hệ thống bài tập trong môn Đạo đức cũng góp một phần không nhỏ để nâng cao
chất lượng dạy – học Đạo đức trong trường Tiểu học.

2


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng hệ thống bài tập trong môn Đạo đức ở
Tiểu học nói chung và môn Đạo đức lớp 1nói riêng còn khiến một số giáo viên
băn khoăn như: Cần xây dựng những dạng bài tập nào cho phù hợp với nội dung
bài học, phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với khả năng của học sinh… Vậy phải
xây dựng hệ thống bài tập như thế nào cho có hiệu quả ?, làm thế nào để giúp
các em lĩnh hội được các tri thức, kĩ năng một cách có hiệu quả mà không bị áp
lực, nặng nề? Với những trăn trở đó, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:" Xây
dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1" làm nội dung nghiên cứu.


II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống bài tập
trong môn Đạo đức lớp 1, nhằm góp phần nâng cao chất lương dạy và học môn
Đạo đức lớp 1.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Khách thể nghiên cứu
Là quá trình dạy và học môn Đạo đức lớp 1 ở trường tiểu học.
2. Đối tượng nghiên cứu
Là việc xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học môn Đạo Đức lớp
1ở trường tiểu học.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Xây dựng hệ thống bài tập áp dụng trong dạy học môn Đạo đức c .
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc xây dựng hệ
thống bài tập trong môn Đạo đức lớp 1, nhằm góp phần nâng cao chất lương dạy
và học môn Đạo đức lớp 1.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, văn bản liên quan đến
đề tài.
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Cách thức xây dựng và vận dụng hệ thống bài tập
trong môn Đạo đức lớp 1 của giáo vên tiểu học
.- Phương pháp điều tra: Điều tra, trưng cầu ý kiến giáo viên về việc xây dựng
hệ thống bài tập trong môn Đạo đức lớp 1.
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Trò chuyện trao đổi với giáo viên về
việc xây dựng hệ thống bài tập trong môn Đạo đức lớp 1nhằm tìm hiểu những
3


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

thuận lợi, khó khăn của việc xây dựng hệ thống bài tập trong môn Đạo đức lớp
1.

4


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 1
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Một số vấn đề cơ bản về đạo đức
1.1. Khái niệm đạo đức
Một trong những đặc trưng của loài người là con người sống trong cộng
đồng, xã hội với những mối quan hệ rất đa dạng với những người xung quanh.
Để xã hội tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội cần thực hiện những
hành vi, thể hiện thái độ phù hợp trên cơ sở lợi ích của cộng đồng, xã hội, lợi ích
của người khác và của bản thân mình. Những cách cư xử thích hợp được sự tán
đồng của đa số thành viên trong cộng đồng, xã hội và được nhiều người khác noi
theo. Dần dần, chúng sẽ trở thành những quy tắc ứng xử chung của những cá
nhân trong cộng đồng xã hội đó. Những hành vi cử xử theo các quy tắc này
được coi là thiện, là đạo đức. Những hành động ngược lại – có hại cho lợi ích
cộng đồng, xã hội, của người khác, bị coi là ác, vô đạo đức và do đó, bị lên án,
phê phán.
Khi nói đến giá trị đạo đức, chỉ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, không có
giá trị trung hòa. Có thể chia ra 4 loại hành động: hành động đạo đức, không
thực hiện hành động đạo đức, hành động vô đạo đức và không thực hiện hành
động vô đạo đức. Trong thực tế cuộc sống, khó có thể nói một con người là hoàn
toàn đạo đức hay vô đạo đức. Vì vậy, đánh giá một con người là đạo đức hay vô
đạo đức là việc rất khó, phức tạp. Nói chính xác hơn, đánh giá một hành động là
đạo đức hay không, dễ hơn là đánh giá đạo đức của con người nói chung.
Đạo đức của con người biểu hiện ở năng lực hành động tự giác vì lợi ích
của người khác và lợi ích của cộng đồng, xã hội, phù hợp với những quy định,
những chuẩn mực đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là tổng hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực được xã hội thừa nhận và đòi hỏi các thành viên thực hiện
sao cho phù hợp với lợi ích của xã hội, cộng đồng, bản thân, nhằm đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người,
giữa con người với cộng đồng, xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có tác dụng điều chỉnh
hành vi của con người trên cơ sở sự đối lập thiện và ác. Đặc trưng của đạo đức
5


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

là nó phản ánh tồn tại xã hội bằng các quy tắc, chuẩn mực về lối ứng xử giữa
con người với các thành viên trong xã hội và xã hội nói chung liên quan đến lợi
của con người, cộng đồng, xã hội.
Đạo đức của con người còn mang tính tự giác. Sự đánh giá của cá nhân về
mối quan hệ giữa lợi ích của mình với lợi ích của những người xung quanh, của
cộng đồng, xã hội có tác dụng định hướng cho con người hành động.
Sự đánh giá biểu hiện qua thái độ của chủ thể liên quan đến một quan hệ
xác định – tích cực hay tiêu cực, tán thành hay phản đối, chấp nhận hay phủ
nhận.
Đạo đức của con người thể hiện qua hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức do
ý thức đạo đức quy định, khi có sự thống nhất giữa hành vi và ý thức. Trong
thực tế, không phải điều đó luôn luôn xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp có sự
xung đột giữa lợi ích cá nhân với lợi ích người khác và với lợi ích cộng đồng, xã
hội.
1.2. Chức năng của đạo đức
1.2.1.Chức năng nhận thức
Đạo đức giúp con người nhận thức về thế giới xung quanh liên quan đến
cách ứng xử của mình với người khác, với cộng đồng, xã hội. Với nhận thức
đúng đắn, con người biết được sự cần thiết của việc thực hiện hành vi đạo đức
phù hợp, những hành vi, việc làm được khuyến khích, nhận được sự đồng tình
của những người xung quanh, của cộng đồng, xã hội; những hành vi bị lên án…
Đạo đức giúp con người hiểu được vai trò của đạo đức trong sự phát triển
xã hội, trong việc mang lại hạnh phúc cho cá nhân, cho gia đình và cả xã hội nói
chung; những phẩm chất đạo đức mà mỗi con người chân chính cần rèn luyện.
Các cá nhân trong xã hội nhận thức không như nhau. Nói cách khác, chức
năng nhận thức của đạo đức được thực hiện qua quá trình giáo dục và tự giáo
dục, trải nghiệm cuộc sống của từng cá nhân.
Nhận thức đúng đắn có tác dụng định hướng, điều chỉnh hành vi và giúp
con người đánh giá hành vi của người khác và hành vi của bản thân một cách
khách quan.
1.2.2. Chức năng định hướng, điều chỉnh hành vi của đạo đức
Đạo đức giúp con người hành động đúng trong các tình huống khác nhau
trong cuộc sống hằng ngày của mình sao cho không làm tổn lợi ích của những
người xung quanh, của cộng đồng, xã hội.
Khi mình làm điều chưa phù hợp với các quy tắc đạo đức, con người tự
điều chỉnh hành vi của mình
6


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Khi làm được việc tốt, con người tiếp tục thực hiện hành vi tương tự.
Sự định hướng hành vi của đạo đức phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, sự
điều chỉnh phụ thuộc vào sự đánh giá của nó (từ xã hội và từ bản thân ).
1.2.3. Chức năng đánh giá của đạo đức
“Thước đo” cơ bản của sự đánh giá này là những quy tắc, chuẩn mực đạo
đức, xã hội.
Đánh giá từ xã hội có thể là khen ngợi, đồng tình, hay ngược lại, lên án,
phê phán.
Đánh giá từ phía bản thân là “tòa án lương tâm”.
Đạo đức còn giúp con người đánh giá hành vi của những người khác.
2. Vị trí, mục tiêu, đặc điểm môn Đạo đức
2.1. Vị trí môn Đạo đức
2.1.1. Môn Đạo đức là một môn học gắn bó mật thiết với quá trình giáo dục ở
tiểu học
- Quá trình giáo dục đạo đức ở tiểu học được thực hiện bằng hai con đường
thống nhất với nhau: con đường tổ chức các hoạt động giáo dục và con đường
dạy học các môn học, trong đó có môn Đạo đức.
- Là một môn học có chức năng riêng biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh
tiểu học, môn Đạo đức với nét đặc thù về mục tiêu, nội dung, phương pháp và
hình thù tổ chức hướng dẫn có khả năng to lớn góp phần thực hiện quá trình
giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
2.1.2. Môn Đạo đức là một môn học trong hệ thống các môn học ở Tiểu học,
có tác dụng định hướng cho các môn học khác về giáo dục đạo đức
- Bất kì môn học cũng phải được thực hiện cả nhiệm vụ giáo dục.
- Môn Đạo đức với những nét đặc thù của mình sẽ định hướng giáo dục giáo
dục cho các môn học khác.
- Giáo dục đạo đức qua các môn học khác nhau làm cho quá trình giáo dục
đạo đức cho học sinh tiểu học liên tục, luôn được củng cố, nên càng có hiệu quả.
2.1.3. Môn học có mối quan hệ mật thiết với con đường giáo dục qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp
- Môn Đạo đức định hướng cho việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Nhờ có những tri thức, kĩ năng, thái độ được hình thành qua môn Đạo đức,
học sinh có khả năng thực hiện được các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp có tác dụng củng cố, khắc sâu, mở
rộng kết quả dạy học môn Đạo đức.

7


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2.1.4. Môn Đạo đức ở tiểu học tạo tiền đề và cơ sở cho học sinh học tiếp nối
môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở
- Môn Đạo đức ở tiểu học giúp cho học sinh dần dần nắm được những tri
thức sơ đẳng ngày càng có tính khái quát về những chuẩn mực hành vi đạo đức.
Đến cuối bậc học, ở các em đã hình thành được những khái quát sơ đẳng cần
thiết.
- Những khái quát sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi này tạo nên tiền đề và
điều kiện để các em học tiếp môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở với nội
dung bao gồm những khái niệm về những phẩm chất đạo đức và những bổn
phận đạo đức và pháp luật.
2.2. Mục tiêu môn Đạo đức
Những điểm cần chú ý:
- Đây là kết quả mong muốn cần đạt được ở học sinh qua quá trình dạy học
môn Đạo đức (mà không phải ở giáo viên, chương trình hay tài liệu dạy học
môn Đạo đức,…).
- Những mục tiêu này có tác dụng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạy
học môn Đạo đức để đạt được những kết quả trên.
- Chúng là một căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả dạy môn Đạo đức.
- Những mục tiêu này phản ánh các khía cạnh khác nhau của những chuẩn
mực hành vi đạo đực – hiểu biết về chuẩn mực, thái độ liên quan và việc thực
hiện chuẩn mực đó.
2.2.1. Mục tiêu về tri thức
Sau khi học môn học môn Đạo đức, học sinh nêu được những tri thức cơ bản,
cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp lứa tuổi, phản ánh các mối
quan hệ hằng ngày thường gặp của các em, từ đó, bước đầu, các em có niềm tin
đạo đức đúng đắn.
Tri thức đạo đức là cơ sở của việc hình thành niềm tin, nhờ đó học sinh mới
có được ý thức đạo đức tự giác.
Những tri thức có thể bao gồm:
- Yêu cầu của chuẩn mực hành vi.
- Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi:
+ Ý nghĩa: mối quan hệ giữa học sinh và đối tượng liên quan đến chuẩn
mực.
+ Tác dụng: những lợi ích, điều tốt đẹp mang lại cho đối tượng, những
người xung quanh, bản thân học sinh.

8


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Tác hại của việc làm trái chuẩn mực hành vi: những cái ác, điều xấu
mang lại cho đối tượng, những người xung quanh, bản thân học sinh.
- Cách thực hiện chuẩn mực đó theo các tình huống liên quan:
+ Những việc cần làm.
+ Những việc cần tránh theo chuẩn mực quy định.
2.2.2. Mục tiêu về kĩ năng, hành vi
Sau khi học môn Đạo đức, học sinh có những kĩ năng vận dụng bài học đạo
đức, lựa chọn và thực hiện được các hành vi phù hợp với những chuẩn mực
hành vi quy định và trên cơ sở đó, các em rèn luyện được thói quen đạo đức tích
cực.
Kĩ năng, hành vi được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học môn
Đạo đức (nhưng đồng thời cũng là khó khăn nhất) vì đạo đức của con người nói
chung và học sinh tiểu học nói riêng được đánh giá chủ yếu qua hành động, việc
làm mà không phải chỉ qua lời nói.
Những kĩ năng, hành vi này bao gồm:
- Biết tự nhận xét hành vi của bản thân.
- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác.
- Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống.
- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu, qua trò chơi,
hoạt cảnh,…
- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài đạo đức.
- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày của
mình phù hợp với các chuẩn mực hành vi,…
2.2.3. Mục tiêu về thái độ
Sau khi học môn Đạo đức, học sinh bày tỏ được những xúc cảm, thái độ phù
hợp liên quan đến những chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó, có tình cảm đạo
đức bền vững.
Thái độ, tình cảm đạo đức đóng vai trò quan trọng trong đời sống vì thái độ,
tình cảm đúng đắn được coi là “chất men kích thích” từ bên trong nội tâm, giúp
con người vượt qua những khó khăn trở ngại, làm điều thiện, làm cho cuộc sống
trở nên nhân ái hơn, giàu tình người hơn.
Những thái độ, tình cảm này bao gồm:
- Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi theo chuẩn mực quy định.
- Thái độ đồng tình với hành động tích cực; thái độ phê phán đối với hành
động tiêu cực.
- Tình cảm đối với những đối tượng khác nhau do các bài đạo đức quy định.
9


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2.3. Đặc điểm môn Đạo đức
2.3.1. Dạy học môn Đạo đức là một hoạt động giáo dục đạo đức
- Học sinh thực sự tham gia hoạt động giáo dục như được nói, được trao đổi
với bạn, được thực hành, vận dụng tri thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống
của mình,…
- Khi tham gia hoạt đông, học sinh có thể hình thành cho mình cả 3 mặt: tri
thức, kĩ năng, hành vi và thái độ.
- Hạn chế của việc giáo dục học sinh chỉ qua sách vở: tri thức nông cạn, kĩ
năng kém bền vững, hành vi không được thực hiện, thái độ và tình cảm hời hợt,

2.3.2. Tính cụ thể của các chuẩn mực hành vi đạo đức
- Những nguyên nhân cơ bản của việc đưa chuẩn mực đạo đức dưới dạng
chuẩn mực hành vi cụ thể: tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, khả năng nhận thức
hạn chế, kinh nghiệm sống nghèo nàn, tính bắt chước,…
- Tính cụ thể của chuẩn mực hành vi phù hợp với những tình huống thường
gặp trong cuộc sống của các em.
2.3.3. Tính đồng tâm của các chuẩn mực hành vi đạo đức
- Sự cần thiết xây dựng các chuẩn mực hành vi theo cấu trúc đồng tâm – khả
năng nhận thức, kinh nghiệm sống còn hạn chế, mối liên hệ, ràng buộc giữa các
chuẩn mực hành vi và đạo đức,…
- Biểu hiện của tính đồng tâm:
+ Các chuẩn mực cùng chủ đề lặp đi, lặp lại từ lớp dưới lên lớp trên.
+ Mức độ khái quát của chúng càng được nâng cao.
- Tính đồng tâm thể hiện không đồng đều theo các chủ đề, các mối quan hệ,

2.3.4. Logic quá trình hình thành một chuẩn mực hành vi đạo đức cho học
sinh tiểu học
- Quy định nhận thức chung quy định logic hình thành chuẩn mực hành vi
đạo đức – từ trực quan sinh động đến tư duy từu tượng, và từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn.
- Các giai đoạn hình thành chuẩn mực hành vi đạo đức:
+ Hình thành mẫu hành vi đạo đức.
+ Tổ chức phát hiện bản chất hành vi đạo dức.
+ Tổ chức luyện tập, thực hành.
- Sơ đồ logic trên:
MBT
2.3.5. Thời gian 2 tiết dành cho mỗi bài đạo đức
10


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- Mỗi bài đạo đức được thực hiện trong 2 tiết.
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 1: giúp học sinh nắm được những tri thức về
chuẩn mực hành vi, đồng thời bước đầu góp phần hình thành thái độ, kĩ năng và
hành vi tương ứng.
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 2: tổ chức cho học sinh hình thành kĩ năng, rèn
luyện hành vi, qua đó, củng cố tri thức, và giáo dục thái độ tương ứng.
- Mối quan hệ giữa hai tiết đạo đức: tiết 1 chuẩn bị cho tiết 2; tiết 2 củng cố
và khẳng định kết quả tiết 1.
3. Nội dung môn Đạo đức
3.1. Định hướng xây dựng chương trình môn Đạo đức
3.1.1. Bảo đảm phù hợp và phục vụ việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học là “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” (theo Điều
27 của Luật giáo dục, 2005).
Như vậy, theo mục tiêu này thì chương trình môn Đạo đức phải:
- Tạo được những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức cho học sinh tiểu học: Điều này các chuẩn mực hành vi trong chương
trình phải là những chuẩn mực cơ bản, vừa sức, phản ánh các mối quan hệ
thường gặp của các em. Đồng thời, chúng cũng tạo điều kiện cho học sinh tiểu
học phát triển đạo đức của mình qua việc mở rộng các mối quan hệ khác nhau.
- Chuẩn bị thiết thực cho học sinh tiểu học học tiếp trung học cơ sở: Tức là,
việc giáo dục đạo đức ở tiểu học phải có kết quả tốt để các em có đủ tư cách và
trách nhiệm thực hiện tốt việc học tập và rèn luyện ở bậc học mới; ngoài ra, môn
Đạo đức còn có nhiệm vụ chuẩn bị cho học sinh học tốt môn Giáo dục công dân
ở Trung học cơ sở. Vì vậy, các chuẩn mực hành vi đạo đức ở tiểu học phải góp
phần hình thành ở các em hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản,
thái độ học tập tích cực, kĩ năng và thói quen hoạt động tập thể, cư xử đúng đắn
với những người xung quanh, tính năng động, sáng tạo trong các công việc khác
nhau…
3.1.2. Bảo đảm tính cơ bản, hiện đại, thiết thực, gắn với thực tiễn Việt Nam
Theo định hướng này, nội dung chương trình môn Đạo đức cần phải:
- Phản ánh được các mối quan hệ thường gặp của học sinh tiểu học như :
+ Quan hệ với bản thân ( tự trọng, ngăn nắp, ý chí, trung thực…).
+ Quan hệ với gia đình (yêu quý, quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh
chị em, là các công việc khác nhau để giúp đỡ…).
11


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Quan hệ với nhà trường (yêu quý, vâng lời, kính trọng thầy cô giáo, yêu
mến, giúp đỡ, chia sẻ với bạn bè, giữ gìn vệ sinh, thực hiện nội quy trường lớp,
chăm chỉ học tập…).
+ Quan hệ với cộng đồng, xã hội (yêu quê hương, đất nước, tôn trọng
những nội quy, quy định nơi công cộng, tôn trọng, giúp đỡ, cư xử lịch sự với
những người xung quanh…).
+ Quan hệ với môi trường tự nhiên (yêu quý, bảo vệ cây trồng, vật nuôi,
thiên nhiên, môi trường…).
- Giúp học sinh tiểu học hòa nhập với cuộc sống văn minh, hiện đại trong
bối cảnh đất nước đổi mới toàn diện, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
hòa nhập quốc tế. Vì vậy, trong chương trình, cần có những chuẩn mực hành vi
liên quan đến tôn trọng, thực hiện những quy định, luật lệ của nhà nước, xã hội,
ứng xử đúng đắn với người nước ngoài, thiếu nhi quốc tế, hiểu biết và tôn trọng
các tổ chức quốc tế…
3.1.3. Góp phần đổi mới phương pháp dạy học tiểu học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học của chương trình tiểu học mới
được thể hiện trong chương trình môn đạo đức ở chỗ:
- Chương trình tiểu học nêu định hướng là, phương pháp phải tập trung
vào việc dạy cách học, trong đó, giúp học sinh biết cách học và từ đó, có nhu
cầu tự học, thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống.
- Chương trình coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở tổ chức hoạt
động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, từ đó tạo điều kiện cho
các em phát hiện tri thức mới, tự giải quyết các vấn đề của bài học.
- Chương trình mới đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức
phải song song với đổi mới phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giá
kết quả dạy học…
3.2. Những phương hướng cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học Tiểu học
- Giúp học sinh không những nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn
biết được cách thức học tập, cách thức tự học, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho
học sinh tự thể hiện, tranh luận, thảo luận hợp tác với nhau giúp các em tự
phát hiện ra những tri thức mới.
- Kích thích, khuyến khích học sinh vận dụng những điều được học vào
thực tiễn vào cuộc sống cộng đồng như giải quyết các hiện tượng , xây dựng
và cải tạo cuộc sống xung quanh theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
- Tạo cơ hội cho học sinh tự nghiên cứu làm cho phương pháp học tập, tiếp
cận với phương pháp nghiên cứu khoa học như: Làm thực nghiệm, tham gia các
12


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

công tác khảo sát điều tra.
- Giúp học sinh chủ động tự kiểm tra đối với việc học tập của mình ,
phát hiện ra những thiếu sót và tự sửa chữa, khắc phục.
- Khai thác khả năng phong phú to lớn của phương tiện dạy học, đa dạng hóa
các hình thức tổ chức dạy học.
3.4.Vở bài tập môn Đạo đức
Các lớp 1, 2, 3 không có sách giáo khoa nên ở đây tôi chỉ dề cập đến phần vở
bài tập môn Đạo đức.
- Vở bài tập đạo đức là một tài liệu học tập dành cho học sinh. Theo xu thế
chung, ở các lớp 1, 2, 3 không có sách giáo khoa đạo đức mà thay vào là vở bài
tập nhưng không bắt buộc sử dụng. Ngoài ra, lớp 4, 5 có sách giáo khoa đạo đức
nhưng người ta cũng biên soạn vở bài tập để hỗ trợ môn này.
- Theo đổi mới dạy học môn Đạo đức hiện nay, môn Đạo đức được coi là
hoạt động giáo dục. Trong trường hợp này, vở bài tập được coi là phương tiện
giúp học sinh thực hiện các hoạt động do giáo viên tổ chức. Như vậy, vở bài tập
giúp học sinh phát hiện tri thức đạo đức, hình thành kĩ năng, hành vi và bày tỏ
thái độ của mình liên quan đến bài đạo đức.
- Tuy nhiên, giáo viên phải thật tỉnh táo khi sử dụng vở bài tập. Bởi lẽ, nếu
lạm dụng nó thì có thể không đạt được mục tiêu bài học đã đề ra, đặc biệt là mục
tiêu về hành vi.
- Mỗi bài đạo đức trong vở bài tập thường có hai phần:
+ Các bài tập: Thường rất đa dạng với số lượng khoảng 4 đến 6 bài đạo đức.
Chúng được nêu ra qua nhiều hình thức khác nhau, ví như: điền đúng sai vào ô
trống, nối nội dung với hình vẽ, xác định hành vi trong tranh là đúng hay sai…
+ Ghi nhớ: Cũng được nêu ra tương tự như sách giáo khoa.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Khái quát quá trình điều tra
1.1. Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1 ở
trường tiểu học.
1.2. Nội dung điều tra
 Điều tra khảo sát về thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về việc
xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức .
 Thực trạng việc việc xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1 ở
trường tiểu học.
1.3. Đối tượng điều tra
13


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã tiến hành điều tra 30 giáo viên trực
tiếp giảng dạy môn Đạo đức ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Ứng Hòa
– Thành phố Hà Nội.
2. Kết quả điều tra
2.1. Nhận thức của giáo viên về việc xây dựng hệ thống bài tập trong dạy
học môn Đạo đức
Bảng 1. Nhận định của giáo viên về mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ
thống bài tập trong môn Đạo đức
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
40,6%
59,4%
0%
Qua bảng 1 kết quả hỏi ý kiến 30 giáo viên cho thấy: 100% giáo viên cho
rằng việc xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức là cần thiết. Trong đó có
40,6% cho rằng việc xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức là rất cần thiết.
Điều này chứng tỏ giáo viên có nhận thức khá đầy đủ về sự cần thiết phải xây
dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức.
2.2. Nhận thức của giáo viên về căn cứ để xây dựng hệ thống bài tập môn
Đạo đức
Bảng 2. Căn cứ xây dựng hệ thống bài tập của giáo viên
Các căn cứ
Tỷ lệ (%)
Căn cứ vào các khâu của quá trình dạy học
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học
Căn cứ vào hình thức và phương pháp học tập
Căn cứ vào đối tượng học sinh

3,3
100
56,6
80

Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương

43,3

Phân tích kết quả: Nhìn vào bảng kết quả cho chúng ta thấy
• 100% giáo viên căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học là hoàn toàn hợp
lý. Có 80% ý kiến căn cứ vào đối tượng học sinh để xây dựng bài tập.
• 53,6% số giáo viên căn cứ vào hình thức và phương pháp học tập và
43,3% căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương . Điều đó cho thấy họ
phải xây dựng hệ thống bài tập một cách linh hoạt để việc phát huy tính
tích cực của học sinh được tối đa.
• Có 3,3 % ý kiến giáo viên cho rằng phải căn cứ vào các khâu của quá trình
dạy học.
3. Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo


14


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đức
3.1. Thuận lợi
 Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Đạo đức có trình độ chuyên môn tốt.
Hầu hết các giáo viên đều tham gia giảng dạy rất lâu năm. Với trình độ và
kinh nghiệm giảng dạy đó họ có khả năng nắm bắt đặc điểm, tâm sinh lý,
nhận thức …. của học sinh được tốt hơn nên việc xây dựng hệ thống bài
tập môn Đạo đức sẽ phù hợp lí hơn.
 Các giáo viên luôn quan tâm đến vấn đề tích cực hóa trong dạy học, cũng
như nghiên cứu các biện pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao hiệu quả dạy
học. Các giáo viên đều nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc xây
dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức.
 Số lượng giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu trên Internet liên quan đến
dạy học môn Đạo đức ngày càng nhiều là cơ sở để giáo viên có thể tham
khảo, kế thừa, thiết kế, sáng tạo các dạng bài tập sao cho phù hợp với nội
dung bài học.
3.2. Khó khăn
 Số lượng học sinh thụ động trong học tập còn nhiều nên việc thực hiện
yêu cầu của một số dạng bài tập chưa tốt ( Ví dụ: Dạng bài tập điều tra,
dạng bài tập rèn luyện hành vi…)
 Hiện nay chương trình giáo dục Tiểu học vẫn còn rất nhiều áp lực về nội
dung chương trình, thời lượng…Hơn nữa, tâm lí chỉ coi trọng môn chính
( Toán, Tiếng Việt, tiếng Anh) còn các môn phụ ( Đạo đức, Tự nhiên xã
hội…) thì không được coi trọng nên việc dành thời gian để xây dựng bài
giảng, hệ thống bài tập cũng như việc tìm tòi ứng dụng các phương pháp
giảng dạy tích cực trong môn Đạo đức vẫn còn hạn chế.
 Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống bài tập có phù hợp và đem lại hiệu quả
hay không còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực tổ chức các hoạt động
học tập của giáo viên.
III. KẾT LUẬN CHƯƠNG
Qua việc điều tra, phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng xây dựng
hệ thống bài tập môn Đạo đức ở bậc Tiểu học nói chung và ở môn Đạo đức lớp
1nói riêng, tôi nhận thấy rằng: hầu hết giáo viên và học sinh nhận thức đúng
đắn về sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học
môn Đạo đức.
Đa số giáo viên đã có những cố gắng nhất định trong việc xây dựng hệ
thống bài tập môn Đạo đức nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh và
15


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

hoạt động này đã cho được một số kết quả. Tuy nhiên, trong xây dựng hệ thống
bài tập môn Đạo đức cũng còn nhiều khó khăn, tồn tại cần phải giải quyết.
Trong chương I, chúng tôi đã phân tích rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
của việc vận dụng xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức nói chung và môn
Đạo đức lớp 1nói riêng. Đây là những cơ sở rất có giá trị là tiền đề, căn cứ để
chúng tôi xây dựng xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát huy tính tích cực học
tập của học sinh, góp phần nâng cao kết quả học tập môn Đạo đức.

16


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CHƯƠNG II. CÁC DẠNG BÀI TẬP TRONG MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 1

I. BÀI TẬP VỀ TRI THỨC
1.Bài tập đúng - sai (Đ - S)
Tính chất của dạng bài tập này là, trước một câu dẫn, một phát biểu nào đó,
học sinh cần xác định – câu đó là đúng hay sai hoặc đánh dấu + hay tương ứng.
 Ví dụ 1: Bài “Đi bộ đúng quy định ”
Hãy ghi chữ Đ vào ô  trước các ý kiến đúng và chữ S vào ý kiến sai:
 Đi bộ trên vỉa hè, không có vỉa hè phải đi sát lề đường bên phải
 Qua đường ở ngã ba, ngã tư đi theo đèn hiệu và đi vào vạch quy định.
 Đi bộ dưới lòng đường.
 Đi hàng ngang và đá bóng dưới lòng đường.
 Đèn hiệu màu đỏ dừng lại, màu vàng chuẩn bị, màu xanh ta đi.
 Ví dụ 2: Bài “ Cảm ơn và xin lỗi”.
Hãy ghi dấu + vào ô  trước các ý kiến đúng về việc cảm ơn và xin lỗi.
 Cần nói lời cảm ơn khi được người khác quan tâm, giúp đỡ.
 Cần nói lời xin lỗi khi mắc lỗi và làm phiền người khác.
 Chỉ nói lời cảm ơn khi người khác quan tâm giúp những việc lớn.
 Chỉ biết cảm ơn, xin lỗi là thể hiện tự trọng mình và tôn trọng người khác.
 Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này là:
• Nội dung phát biểu phải vừa sức với học sinh tiểu học, tránh đưa ra những
nội dung đúng sai một cách quá “lộ liễu”, tức là chúng rất đơn giản, dễ
dàng ngay cả đối với học sinh trung bình, cho nên không vừa sức với các
em.
• Không nên trích nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa ở phần ghi
nhớ, bài học để hỏi học sinh.
• Tính chất đúng hay sai của phát biểu phải chắc chắn, được mọi học sinh
hiểu như nhau. Tránh những nội dung không hoàn toàn chắc chắn đúng
hay sai, điều đó dễ gây hiểu nhầm cho học sinh.
• Nội dung của các ý trong một câu, hay nội dung của các câu phải độc lập
với nhau; tránh những trường hợp chúng độc lập nhau, mâu thuẫn nhau,
gợi ý cho nhau.

17


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ví dụ: Hai nội dung sau là mâu thuẫn nhau, chúng gợi ý cho nhau vì vậy
không nên cùng hỏi :
 Cần nói lời cảm ơn khi được người khác giúp.
 Không cần nói lời cảm ơn khi được người khác giúp.
Chỉ cần hỏi một trong hai ý trên là đủ.
• Vị trí câu đúng (hay sai) phải được sắp xếp ngẫu nhiên. Tránh đặt chúng
theo chu kì nhất định vì điều này dễ làm giảm tính khách quan của việc
kiểm tra, đánh giá.
2.Bài tập nhiều lựa chọn
Tính chất của dạng bài tập này là, một câu hỏi thường có 3 đến 5 câu trả lời
sẵn, trong đó chỉ có một câu trả lời phù hợp, còn các câu trả lời khác được xem
là câu “gây nhiễu”, “gài bẫy” mà những học sinh nắm vững tri thức mới phân
biệt được và lựa chọn chính xác. Các phương án “gây nhiễu” rất dễ bị học sinh
hiểu nhầm là hoàn toàn đúng nhưng thực chất là chúng sai hoặc chỉ đúng một
phần.
Loại bài tập này có thể kích thích học sinh suy nghĩ, động não nhiều hơn so
với câu hỏi đúng - sai, nhưng việc biên soạn lại khó hơn, đòi hỏi người biên
soạn có chuyên môn sâu sắc.
 Ví dụ 1: Bài “ Giữ gìn sách vở”
Hãy chọn câu trả lời đúng nhất: Em cần làm gì để giữ gìn đồ dùng học tập ?
A. Không xé sách vở.
B. Đóng bọc và giữ gìn cẩn thận.
C. Không vẽ bậy và dây bẩn.
D. Cả 3 ý trên.
 Ví dụ 2: Bài “ Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ”
Hãy chọn câu trả lời đúng nhất: Đối với em nhỏ cần có thái độ như thế
nào ?


A. Tranh giành








B. Nhường nhịn.

C.Lễ phép.

D. Hiếu thảo

Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này là:
Số phương án trả lời tối ưu cho một câu là 3-5 câu, không nên có quá ít vì
nó làm giảm tính khách quan của sự lựa chọn, hay ngược lại quá nhiều
làm cho việc xác định câu trả lời trở nên rắc rối.
Trong một câu hỏi, phương án trả lời đúng nhất phải rõ, chắc chắn; tránh
những trường hợp không thể phân biệt, xác định được câu trả lời đúng
nhất.
Tránh đưa ra những phương án sai quá lộ liễu.
Tránh sắp xếp phương án trả lời đúng nhất giống như nhau ở tất cả các
câu hỏi được nêu ra.
18


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

3.Bài tập ghép đôi
Tính chất của dạng bài tập này là, cho hai dãy (cột) thông tin, trong đó,
một dãy (cột) là những câu hỏi (hay câu dẫn), còn dãy kia là những câu trả lời
(hay câu lựa chọn). Yêu cầu đối với học sinh là, cần lựa chọn sự tương ứng từng
nội dung giữa hai dãy thông tin sao cho đúng, cho phù hợp, rồi nối chúng lại với
nhau.
 Ví dụ 1: Bài “Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ”
Hãy nối việc nên làm và không nên sao cho phù hợp:
- Nghe lời anh chị.
- Chỉ cần chào hỏi những anh chị thân thiết .
Nên làm
- Làm bài tập giúp em nhỏ.
- Chăm sóc em.
- Để em nhỏ tự chơi một mình
Không
- Chỉ cần nhường nhịn em ruột của mình thôi.
nên
- Nhường nhịn các em nhỏ.
- Dạy em học bài.
 Ví dụ 2: Bài “ Em là học sinh lớp 1”
Hãy nối các ý nêu tình huống (ở cột A) với cách ứng xử (ghi ở cột B) sao cho
phù hợp.
CỘT A
CỘT B
1. Trẻ em có quyền được học tập, được vui chơi, giải trí
lành mạnh, được tự do kết bạn, được tôn trọng và đối xử
bình đẳng

Quyền của
trẻ em

2.Trẻ em có quyền được đóng góp ý kiến
3. Trẻ em phải đoàn kết với bạn bè , yêu lao động, giúp đỡ
gia đình làm những việc vừa sức mình
4. Trẻ em có quyền được sống chung với cha mẹ.

Bổn phận
của trẻ em

5. Trẻ em có bổn phận yêu quý gia đình, kính trọng, lễ
phép , vâng lời ông bà, cha mẹ.



Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
Những thông tin nêu ra ở từng cột không nên quá dài, vì nó dễ làm cho
việc nối nội dung ở hai cột bị “rối”, học sinh dễ bị nhầm lẫn.

19


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------•



Những thông tin ở mỗi cột phải đơn tính (cùng phản ánh một tính chất
nào đó của nội dung); tránh những thông tin không thuộc cùng một loại,
đa tính ở từng cột.
Thứ tự các câu hỏi và thứ tự các câu trả lời nên được sắp xếp lẫn lộn;
tránh thứ tự tương ứng, vì như vậy thì làm giảm tính khách quan việc lựa
chọn của HS.

4.Bài tập điền khuyết
Tính chất của dạng bài tập này là, trong câu dẫn có một vài chỗ khuyết
(thường được biểu diễn bằng dãy dấu chấm) và yêu cầu đặt ra là học sinh phải
điền những từ thích hợp vào những chỗ khuyết đó.
Các từ cần điền là những từ “cốt yếu”, phản ánh nội dung tri thức đạo đức
mà học sinh cần phát hiện, cần biết. Chúng có thể được cho trước hoặc không.
 Ví dụ 1: Bài “ Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ”
Điền các từ ngữ: thân yêu, chăm sóc, bổn phận, hòa thuận vào chỗ trống
của các câu ở đoạn văn sau sao cho thích hợp.
“Anh chị em là những người ............................. nhất của em, luôn yêu thương,
quan tâm, ................................ và dành cho em những gì tốt đẹp nhất. Ngược lại,
em cũng có ................................. quan tâm, chăm sóc anh chị em để cuộc sống
gia đình thêm ..................................đầm ấm, hạnh phúc.”
 Yêu cầu sư phạm:
• Những từ cần điền phải là quan trọng nhất, phản ánh nội dung bài học mà
học sinh cần lĩnh hội; tránh việc yêu cầu học sinh tìm điền những từ
không phản ánh được nội dung của bài học.
• Số từ cần điền không nên quá nhiều vì như vậy học sinh sẽ bị rối.
• Những từ các em cần điền, phải được học sinh hiểu rõ nội dung; tránh
việc yêu cầu các em tìm những từ mà chúng không hiểu rõ, đặc biệt là,
những từ này không được giáo viên cho trước để lựa chọn.
• Những từ cần điền phải phù hợp với bài đạo đức đang học; tránh các từ xa
lạ, không liên quan đến chuẩn mực hành vi liên quan.
5. Bài tập trả lời ngắn
Đặc điểm của dạng bài tập này là học sinh cần trả lời câu hỏi ngắn gọn, như
việc ra một số từ, một vài câu,…Trong thực tiễn dạy học môn Đạo đức, dạng bài
tập này thường được vận dụng cho nội dung thực hiện chuẩn mực hành vi
(những việc cần làm, những hành động cần tránh,…).
 Ví dụ 1: Bài “Đi học đều và đúng giờ”
Hãy ghi ra 3 việc cần làm để đi học đúng giờ và 3 việc cần tránh.
20


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Những việc cần làm: ……………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Những việc cần tránh: …………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………….
 Ví dụ 2: Bài “Nghiêm trang khi chào cờ”
Hãy ghi ra 3 việc nên làm và 3 việc cần tránh khi chào cờ.
Những việc cần làm: ……………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………….
Những việc cần tránh: ……………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
 Yêu cầu sư phạm:
• Bài tập phải rõ ràng, học sinh sẽ biết phải làm gì, trả lời bằng cách viết ra
một số từ hay câu,…; tránh nêu lệnh chung chung, không rõ ràng.
 Ví dụ: Theo bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”, nếu nêu ra yêu cầu
“Các em phải bảo vệ hoa và cây nơi công cộng như thế nào?” là không
hợp lí, vì khi đó câu hỏi này không là dạng câu trả lời ngắn nữa.
• Chỉ vận dụng với những bài đạo đức mà đối tượng khá quen thuộc với
học sinh tiểu học vì chỉ trong những trường hợp đó, học sinh mới có
những kinh nghiệm nhất để trả lời được.
• Cần phân biệt rõ nội dung học sinh cần trả lời – nên tách nội dung cần
thực hiện thành hai nội dung – những công việc cần làm và những hành
động cần tránh.
II. BÀI TẬP VỀ THÁI ĐỘ
Để thăm dò và đánh giá thái độ của học sinh, giáo viên yêu cầu các em bày
tỏ thái độ đối với một số quan niệm, phát biểu liên quan đến chuẩn mực hành vi
đạo đức. Khi đó, thái độ này có thể ở 3 mức độ:
 Đồng ý (hay tán thành)
 Phân vân (hay lưỡng lự)
 Không đồng ý (hay không tán thành)
Tuy nhiên, khi dạy đạo đức, giáo viên muốn học sinh tỏ thái độ một cách
rõ ràng, nên chỉ có thể nêu 2 thái độ là đồng ý và không đồng ý cũng được.
 Ví dụ 1: Bài “Cảm ơn và xin lỗi”
Hãy điền vào ô trống dấu + trước những ý kiến mà em đồng ý , dấu – trước
những ý kiến mà em không đồng ý:
 Cần nói lời cảm ơn khi được người khác quan tâm, giúp đỡ.
 Cần nói lời xin lỗi khi mắc lỗi và làm phiền người khác.
21


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 Chỉ nói lời cảm ơn khi người khác quan tâm giúp những việc lớn.
 Chỉ biết cảm ơn, xin lỗi là thể hiện tự trọng mình và tôn trọng người khác.
 Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
• Nội dung của các quan niệm phát biểu phải sát, liên quan đến bài đạo đức,
tránh đưa ra những nội dung xa với tính chất của chuẩn mực hành vi
 Ví dụ: Bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng” rèn thái độ tôn
trọng quy định nơi công cộng; có ý thức bảo vệ bảo vệ hoa và cây
nơi công cộng; tán thành, học tập những người biết bảo vệ hoa và
cây nơi công cộng; không đồng ý với những phá hoại, làm ảnh
hưởng cảnh quan nơi công cộng.
• Câu phát biểu cần diễn đạt một cách rõ ràng, chúng phải được mọi học
sinh hiểu như nhau, được hiểu một nghĩa.
 Ví dụ: Bài “Gọn gàng sạch sẽ” yêu cầu học sinh: thực hành sắp
xếp sách vở, đồ dùng học tập, đồ dùng các nhân tại lớp ; tham gia
làm việc nhà.
• Nội dung câu phát biểu cần độc lập tương đối với nhau tránh đưa ra
những nội dung bao hàm nhau, tương tự nhau hay phủ nhận lẫn nhau..
• Nên đưa ra cả những nội dung được phát biểu dưới dạng tích cực lẫn tiêu
cực; tránh trường hợp các câu được nêu ra chỉ theo một hướng đều là
dạng tích cực, hoặc ngược lại.
 Ví dụ: Bài ‘Biết ơn thương binh , liệt sĩ”
Hãy viết chữ Đ vào ô trống trước hành vi đúng, chữ S vào ô trống trước
hành vi sai:
Khi thấy bạn hái hoa, phá cây ở nơi công cộng , em sẽ :
 Mặc bạn không quan tâm
 Cùng bạn hái hoa, phá cây.
 Khuyên ngăn bạn..
 Không nói gì.
• Cần nêu những nội dung mà thái độ theo đáp án phải đa chiều; tránh diễn
đạt tất cả nội dung mà đáp án chỉ một chiều - hoặc toàn đồng ý, hay chỉ
không đồng ý.
Ví dụ: Bài “Nghiêm trang khi chào cờ”
Hãy đánh dấu + vào cột phù hợp với thái độ của em
STT
Nội dung các phát biểu
Đồng ý
Không đồng ý
1
2

Đứng nghiêm, hát Quốc ca
khi chào cờ.
Tay xỏ túi quần, hát Quốc ca
22


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

khi chào cờ.
Tay xỏ túi quần, đầu đội mũ
khi chào cờ
Đứng nghiêm túc, quần áo
chỉnh tề khi chào cờ

3
4

Nội dung cần được bố trí sao cho thái độ theo đáp án không theo một trật
tự nào cả, tránh sắp xếp chúng mà đáp án được nằm ở những vị trí theo
một thứ tự nhất định.
 Ví dụ: Điền dầu + vào ô trống em mà đồng ý với phát biểu đó:
 Đi bộ trên vỉa hè, không có vỉa hè phải đi sát lề đường bên phải
 Qua đường ở ngã ba, ngã tư đi theo đèn hiệu và đi vào vạch quy
định.
 Đi bộ dưới lòng đường.
 Đi hàng ngang và đá bóng dưới lòng đường.
 Đèn hiệu màu đỏ dừng lại, màu vàng chuẩn bị, màu xanh ta đi.
• Trong nội dung đưa ra cần mang tính trung lập giữa mọi người với nhau,
tránh đưa ra những nội dung liên quan đến các nhân vật nhất định.
 Ví dụ: Bài “Gọn gàng sạch sẽ” không nên đưa ra nội dung như:
Lan, Hoa, Mai tham gia vệ sinh lớp học.
III. BÀI TẬP VỀ KỸ NĂNG HÀNH VI
1.Bài tập tự nhận xét, đánh giá hành vi bản thân
Theo dạng bài tập này, học sinh được yêu cầu đánh giá về việc bản thân
đã thực hiện hành vi đạo đức liên quan đến chuẩn mưc được học.
Dạng bài tập này có một số phương án như sau: Theo phương án thứ nhất,
học sinh cần tự xác định mức độ thực hiện hành vi của mình – thường xuyên, ít
khi, chưa bao giờ hoặc khẳng định mình đã thực hiện hành vi đó hay chưa.
 Ví dụ: Bài “Bảo vệ hoa và và cây nơi công cộng”
Hãy cho biết việc thực hiện bảo vệ hoa và cây nơi công cộng của em
bằng cách đánh dấu  vào những cột dưới đây cho thích hợp:


STT
1
2
3
4

Công vệc mà em làm

Thường
xuyên

Trồng cây
Tưới cây
Làm cỏ
Nhặt rác
23

Ít khi

Chưa làm


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------














Những yêu cầu sư phạm đối với bài tập này:
Nội dung hành vi, việc làm mà học sinh tự nhận xét phải phù hợp với
cuộc sống thực của các em; tránh hiện tượng yêu cầu học sinh tự đánh giá
những hành vi mà trong cuộc sống các em không có điều kiện thực hiện.
 Ví dụ: Tự đánh giá hành vi của em trong việc bảo vệ hoa và cây
nơi công cộng.
Cần có biện pháp kiểm tra để bảo đảm tính xác thực của hành vi học sinh;
tránh hiện tượng thiếu sự kiểm tra nhưng lại thừa nhận chúng một cách dễ
dàng (cần đề phòng hiện tượng đối phó của học sinh; nếu giáo viên khen
thì điều đó sẽ có tác dụng phản giáo dục vì đã vô tình khuyến khích trẻ nói
dối)
 Ví dụ: Giáo viên hỏi học sinh
- Tổ em thường chăm sóc cây trong vườn trường vào những
ngày nào?
- Em thường làm những việc gì?
- Em thường lao động cùng ai?
Cần xem xét không chỉ việc thực hiện mà cả điều kiện, tình huống mà học
sinh thể hiện hành vi.
 Ví dụ: những trường ở thành phố không có vườn trường, các em
không thể trồng cây, làm cỏ,…
Cần yêu cầu học sinh làm rõ kết quả tích cực hay hậu quả tiêu cực của
hành vi mà mình thực hiện để rút kinh nghiệm, bài học cho bản thân, cho
người khác.
 Ví dụ: Trong bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước”. Nếu học sinh
nói em có 1 lần xả vòi nước rồi bỏ quên (do lúc đó bị cúp nước) tới
khi phát hiện thì nước đã chảy lan ra ngoài đường. Lúc này giáo
viên không vội chê cười mà phải dặn dò học sinh sau này cẩn thận
hơn
Tránh biến việc tự nhận xét hành vi thành việc tự kiểm điểm nặng nề, gây
căng thẳng cho học sinh, có khi vô tình “tạo điều kiện” cho các em nói ra
những việc mà mình chưa từng thực hiện (để đối phó, làm vừa lòng học
sinh, để được khen,…)
Để tránh điều này, có một số cách khắc phục như lồng việc tự nhận xét
hành vi vào một quá trình khác (xử lý tình huống đạo đức, nhận xét trò
chơi…) chỉ hỏi đến một số em “đặc biệt” mà giáo viên phải quan tâm,
kiểm tra cả lớp bằng phiếu bài tập.
24


Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức lớp 1
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2. Bài tập nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của người khác
Theo dạng bài tập này, một số hành vi liên quan đến bài đạo đức được đưa
ra và yêu cầu học sinh nhận xét, đánh giá: hành vi đó là đúng hay sai, vì sao?
Hành vi này có thể là:
- Tích cực (tốt, thiện, có lợi) hay tiêu cực (xấu, ác, có hại).
- Lấy từ thực tiễn xung quanh hay do giáo viên tự xây dựng.
- Một chiều (tức là điều tốt, hay ngược lại) hoặc gồm hai hành động trái
ngược (thường là của hai nhân vật) được thực hiện trong cùng một tình huống.
 Ví dụ: Bài: “ Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Hãy nhận xét về hành vi, việc làm trong các tình huống sau:
1. Đi tham quan, bắt chước các anh chị lớn, Quân và Dũng rủ nhau khắc
tên lên thân cây.
Hai bạn làm như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
2. Vào dịp Tết, Lan cùng các cô chú trong tham gia tết trồng cây do thôn tổ
chức.
Việc làm của Lan và mọi người có lợi ích gì?
Ở những Ví dụ trên:
+ Hành vi của Quân và Dũng là sai trái việc làm đó vừa ảnh hưởng đến môi
trường (nhiều người khắc tên lên sẽ làm cây chết) và ảnh hưởng thẩm mỹ chung,
có thể lấy từ thực tiễn xung quanh.
+ Hành vi của Lan và mọi người trong xóm là tích cực, làm cho môi trường
xanh, sạch, đẹp hơn.
 Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
• Hành vi được nêu phải bám sát bài đạo đức; tránh hiện tượng bài đạo đức
một đằng nhưng hành vi được nêu ra lại không liên quan.
• Hành vi được đưa ra cần thường gặp, gần gũi với các em; tránh những
hành vi xa lạ, ít gặp đối với học sinh, không phù hợp với cuộc sống
thường nhật của các em.
 Ví dụ: Ở bài: “ Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Nếu đưa tình huống: “ Dũng cùng mẹ đi tham quan lễ hội hoa anh đào. Khi
đến đó Dũng nhìn thấy một số khách thăm quan bẻ những cành hoa anh đào .
Nếu em là Dũng em sẽ làm gì? Vì sao?”. Tình huống này không phù hợp với
học sinh miền núi hoặc vùng nông thôn vì ở nơi các em sinh sống không có
những lễ hội như vậy.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×