Tải bản đầy đủ

Nhận định luật cạnh tranh

LUẬT CẠNH TRANH
* Cấu trúc đề thi:
- 3 câu nhận định (3 điểm)
- 1 câu lý thuyết (3 điểm)
- 1 bài tập tình huống (4 điểm)

I. NHẬN ĐỊNH
1. Pháp luật cạnh tranh có mục đích trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
- SAI. Mục đích của luật cạnh tranh là tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền
và lợi ích của người tiêu dùng, luật cạnh tranh chỉ bảo toàn năng lực cạnh tranh, và thông
qua việc bảo toàn dán tiếp làm doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp không phụ thuộc vào sự hổ trợ của pháp luật cạnh tranh mà
phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế - kỹ thuật.
2. Khi xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp, không cần
xem xét hậu quả, thiệt hại cụ thể.
- SAI. Pháp luật cạnh tranh có 2 loại hành vi cạnh tranh, trong đó hành vi hạn chế cạnh
tranh không nhất thiết phải xem xét có hậu quả hay không, chỉ cần thỏa mản yếu tố hành vi
thì có thể xem xét, tuy nhiên không nhất thiết chứ không phải là không cần xem xét hậu quả.
Còn đối với việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì xem xét hậu quả, thiệt hại là
1 yếu tố quan trọng để quyết định xử lý, xem xét quyết định hình phạt chính hay hình phạt

bổ sung …
3. Năm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh khi thị phần kết hợp của chúng
chiếm trên 75% trên thị trường liên quan.
- SAI. Luật CT chỉ xem trường hợp 4 doanh nghiệp có tổng thị phần trên 75% trở lên trên
thị trường liên quan mới xem là nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (theo
điểm c Khoản 2 Điều 11 LCT). Luật CT quan niệm rằng trường hợp có 5 doanh nghiệp thì
nó đã đủ để tạo nên sự cạnh tranh nên chỉ quy định 4 doanh nghiệp kết hợp với nhau và có
tổng thị phần trên 75% mới xem là nhóm Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
4. Bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh
tranh.
- SAI. Xem khoản 1 điều 58 LCT. “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của Luật này (sau đây gọi chung là bên
khiếu nại) có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh”. Như vậy không phải bất kỳ
cá nhân tổ chức nào cũng có quyền khiếu nại.
5. Nhận thấy (thể hiện hành vi đã biết) công ty A sản xuất loại gạch men AKIRA rất
nổi tiếng trên thị trường, một công ty chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng khi thành
lập đã lấy tên là TAKIRA Co.Ltd. Công ty A vi phạm LCT.
- ĐÚNG. Có vi phạm theo Điều 40 LCT. Vì AKIRA là doanh nghiệp nổi tiếng nên công ty
A phải biết điều này và thực tế công ty A đã nhận thấy điều này, đây là hành vi cố ý, (trường
hợp vô ý thì không xem xét) đồng thời có hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về tên
thương mại và mục đích nhằm làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hành hóa dịch vụ
1


nhằm mục đích cạnh tranh. Bản thân công ty A là doanh nghiệp nên hành vi của A hoàn toàn
cấu thành hành vi vi phạm về chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tài Điều 40 LCT.
6. Công ty X sản xuất nước giải khát có ga có thị phần 40% trên thị trường liên quan
đã đưa ra chương trình khuyến mại cho các đại lý là mua 2 thùng nước giải khát có ga
sẽ được tặng 1 thùng. Điều tra cho thấy khi thực hiện chương trình này, giá bán lẻ một
chai nước giải khát có ga của công ty X sẽ thấp hơn giá thành toàn bộ. Công ty X vi
phạm LCT.
- Xét 2 trường hợp sau: Nếu giá thấp hơn giá thành toàn bộ là có lý do chính đáng (hạ giá
bán hàng hóa tươi sống, hạ giá bán theo mùa, hạ giá bán trong chương trình khuyến mãi
theo quy định của pháp luật) thì không xem là bán phá giá  Công ty không vi phạm. Ngược
lại thì bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. (Xem k2 điều 23 NĐ 116/2005). Mục đích suy
đoán từ biểu hiện hành vi, không cần chứng minh.
7. Pháp luật cạnh tranh là loại pháp luật chủ yếu mang tính ngăn cấm, can thiệp.
- ĐÚNG. Mục đích của LCT là nhằm ngăn cản, hạn chế các hành vi liên quan đến cạnh
tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh nhằm mục đích tạo môi trường bình đẳng trong
cạnh tranh và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Pháp luật cạnh tranh không có tính mở mà nó


mang tính ngăn cấm, can thiệp.
8. Mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều nhằm vào đối thủ cạnh tranh của DN.
- SAI. Hành vi tại khoản 3 điều 45 LCT về việc quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho
khách hành, hoặc hành vi quy định tại Điều 43 LCT. Đây là những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh nhưng không nhằm vào đối thủ cạnh tranh.
9. Tất cả các trường hợp tập trung kinh tế đều phải được kiểm soát bởi cơ quan quản
lý cạnh tranh.
- SAI. Xem khoản 1, khoản 2 Điều 19, xem đoạn 2 khoản 1 điều 20 LCT.
10. Hội đồng cạnh tranh quốc gia là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong xử lý vi
phạm pháp luật cạnh tranh.
- SAI. HDCT chỉ có thẩm quyền xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, trong khi Cục quản
lý cạnh tranh là cơ quan quản lý cạnh tranh theo quy định của pháp luật có chức năng xem
xét điều tra, giải quyết các hành vi cạnh tranh không lành mạnh … xử lý các hành vi khác,
bảo vệ người tiêu dùng, chống trợ cấp, tự vệ. Thẩm quyền điều tra các vụ việc liên quan đến
cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh thuộc về cơ quan quản lý cạnh tranh, tức
là Cục quản lý cạnh tranh (khoản 2 Điều 49 LCT 2004 và Điều 5 NĐ số 06/2006 NĐ-CP).
Như vậy thẩm quyền cao nhất vẫn thuộc về cơ quan quản lý cạnh tranh (CQQLCT).
11. Công ty A có thị phần 35% trên thị trường liên quan đã đưa ra quyết định về tỷ lệ
giảm giá khác nhau cho các đại lý ở các địa bàn khác nhau. Công ty A vi phạm LCT.
- ĐÚNG. Có vi phạm vì: Thị phần 35% (thống lĩnh thị trường khoản 1 điều 11 LCT) quyết
định đưa ra tỉ lệ giảm giá khác nhau trong các giao dịch như nhau giữa các đại lý đã tạo ra
sự cạnh tranh bất bình đẳng (xem khoản 4 điều 13 LCT).
12. Sáu công ty sản xuất, lắp ráp máy tính ở VN có thị phần 30% trên thị trường liên
quan đã ký thỏa thuận hợp tác lắp ráp máy tính giá rẻ với thương hiệu chung và ấn
định giá bán loại máy tính này phải dưới 4 triệu đồng. Vi phạm LCT.
- SAI. Không vi phạm. Sáu công ty có thị phần 30% không thuộc các trường hợp nhóm
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường quy định tại khoản 2 điều 11 LCT, do đó việc
thỏa thuận chung ấn định giá bán dưới 4tr không thuộc các hành vi bị cấm tại điều 13 LCT
2


vì các hành vi này chỉ cấm đối với các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trường.
13. Mọi hành vi có mục đích hạn chế cạnh tranh đều bị cấm.
- SAI. Trường hợp thỏa thuận không cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại, đại diện
cho thương nhân … không bị xem là bất hợp pháp. Hoặc có trường hợp thỏa thuận mang
tính chất hạn chế cạnh tranh nhưng nó cũng có tác động tích cực đến thị trường chẳng hạn:
thỏa thuận phụ là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng thỏa thuận này nhăm mục đích bổ
trợ cho thỏa thuận chính, và thỏa thuận chính này lại có ích cho kinh tế, xã hội … thì lúc
này không xem thỏa thuận có tính chất cạnh tranh là bất hợp pháp.
14. Việc bên mời thầu tiết lộ thông tin trong hồ sơ dự thầu của 1 bên dự thầu cho một
bên dự thầu khác để bên này chỉnh sửa hồ sơ dự thầu nhằm mục đích thắng thầu bị
coi là hành vi thông đồng trong đấu thầu quy định tại khoản 8 điều 8 Luật cạnh tranh.
- SAI. Trường hợp bên mời thầu không phải là doanh nghiệp thì việc tiết lộ này không thuộc
phạm vi khoản 8 Điều 8 Luật cạnh tranh. Hơn nữa trường hợp này không thuộc các hành vi
quy định tại Điều 21 NĐ 116/2005.
15. Mọi hành vi sáp nhập doanh nghiệp đều phải tiến hành thủ tục tập trung kinh tế
tại cơ quan quản lý cạnh tranh.
- SAI. Điều 19 LCT quy định 1 số hành vi tập trung kinh tế bị cấm theo Điều 18 LCT nhưng
lại được cho hưởng sự miễn trừ bao gồm 2 trường hợp sau:
+ Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc
lâm vào tình trạng phá sản;
+ Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh
tế-xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ.
- Bên cạnh đó đoạn 2 Điều 20 Luật Cạnh tranh cũng đưa ra trường hợp tập trung kinh tế
nhưng không phải làm thủ tục khai báo tập trung kinh tế đối với trường hợp sau: Trường
hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị
trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn
thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.
16. Pháp luật cạnh tranh chủ yếu dùng để nhằm bảo vệ quyền lợi của các doanh
nghiệp.
- SAI. Mục đích chủ yếu là tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo lưu khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, nếu doanh nghiệp
có hành vi hạn chế CT, CT không lành mạnh thì bị xử lý theo PL CT. Như vậy không chỉ
bảo vệ doanh nghiệp mà còn bảo vệ cả người tiêu dùng.
17. Hành vi của doanh nghiệp dùng vũ lực để ép buộc khách hàng phải giao dịch với
mình là hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Điều 42 Luật cạnh tranh năm 2004.
- SAI. Nhận định này là sai vì hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Đ.42 LCT năm 2004
là hành vi “ép buộc khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc
cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó”.
- Như vậy đối tượng bị doanh nghiệp vi phạm tác động đến là khách hàng hoặc đối tác kinh
doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục đích của hành vi này nhằm để gây thiệt hại cho đối thủ
cạnh tranh cụ thể là khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh không giao dịch hoặc ngừng giao
dịch với doanh nghiệp đó.
- Trong khi đối tượng bị tác động trong câu nhận định chỉ nói là khách hàng mà không xác
định rõ khách hàng của ai, đó cũng có thể là khách hàng tự do mà không phải là khách hàng
3


của đối thủ cạnh tranh, mục đích của doanh nghiệp là nhằm buộc khách hàng giao dịch với
mình, hành vi này chỉ gây thiệt hại cho khách hàng chứ không ảnh hưởng đến tình hình kinh
doanh của đối thủ.
- Trường hợp dùng vũ lực buộc giao dịch nhằm tác động đến khách thể là tài sản của người
khác thì hành vi đó tùy theo tính chất mức độ có thể cấu thành các tội theo quy định trong
BLHS.
18. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị cấm khi thị phần kết hợp trên thị trường
liên quan của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận từ 30% trở lên.
- SAI. Ngoại lệ Điều 10 LCT (Các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 10 LCT).
19. Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh năm 2004 đều có thể được hưởng miễn trừ
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- SAI. Khoản 1 điều 9 LCT đã quy định các trường hợp cấm tuyệt đối khi vi phạm pháp luật
cạnh tranh và không được hưởng miễn trừ, nếu doanh nghiệp nào rơi vào các trường hợp
này thì không xem xét miển trừ (Cấm tuyệt đối).
20. Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng
cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.
- SAI. Xem đoạn 2 Khoản 1 điều 20 LCT. “Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp
doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
theo quy định của pháp luật”.
21. Một DN chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên
trên thị trường liên quan.
- SAI. Trường hợp dưới 30% nhưng có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể theo
quy định tại khoản 1 Điều 11 LCT thì cũng xem là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường mặc dù thị phần không trên 30%. Điều 22 NĐ 116/2005 NĐ-CP quy định chi tiết
LCT có quy định để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh.
22. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh
tranh tham gia.
- SAI. Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 LCT thì Hội đồng cạnh tranh có từ 11 đến 15
thành viên do thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại.
Khoản 3 Điều 54 quy định tiếp “Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất 5 người …”. Như vậy nói Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia là không có cơ sở.
23. Bộ trưởng bộ Công thương có quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh.
- SAI. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hai loại: một là của cơ quan quản lý cạnh
tranh hoặc hai là của Hội Đồng Cạnh Tranh. Căn cứ Khoản 2 Điều 107 Luật Cạnh Tranh
2004, Điều 113 Luật Cạnh Tranh 2004 thì Bộ trưởng Bộ Công Thương có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại với quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh, còn đối với Hội Đồng Cạnh
Tranh thì không có thẩm quyền. Câu nhận định cho rằng “có quyền”, “các quyết định” như
vậy đây là câu nhận định mang tính nguyên tắc chung, áp dụng cho mọi khiếu nại. Nhưng
như đã phân tích ở trên, các cơ sở pháp lý trong quy định của pháp luật thì quyền giải quyết
khiếu nại của Bộ Công Thương là quyền có giới hạn, chỉ áp dụng cho khiếu nại quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh.

4


24. Trong tố tụng vụ việc cạnh tranh, nếu có yêu cầu về bồi thường thiệt hại không quá
100 triệu đồng thì Hội đồng cạnh tranh và cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ giải quyết
cùng với việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
- SAI. Điều 6 NĐ 116/2005 quy định. Như vậy nếu có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì thực
hiện theo luật dân sự, và không quan tâm đến số tiền yêu cầu là trên hay dưới 100 triệu. Hơn
nữa yêu cầu bồi thường thiệt hại không được xem là biên pháp khắc phục hậu quả và không
thể áp dụng đồng thời với việc xử lý vi phạm.
25. Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh 2004 có thể được hưởng miễn trừ theo quyết
định của Bộ trưởng Bộ công thương.
- SAI. Các hành vi quy định tại khoản 1 điều 9 LCT bị cấm tuyệt đối, không được hưởng
miễn trừ, Bộ trưởng bộ công thương không xem xét cho hưởng miễn trừ đối với các trường
hợp này.
26. Tất cả các thỏa thuận giữa 03 doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau về gia
bán hàng hóa, dịch vụ đều là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
- SAI. Nếu thỏa thuận đó không trái với các quy định tại điều 14 NĐ 116/2005 thì không
xem là thỏa thuận HCCT.
27. Luật Cạnh tranh (2004) không áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.
- SAI. LCT điều chỉnh cả những quan hệ phát sinh trong quá trình cạnh tranh nên những chủ
thể tham gia quá trình giải quyết cạnh tranh, như cơ quan quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnh
tranh (Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội) cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh
tranh.
28. Theo Luật Cạnh tranh (2004), các hành vi hạn chế cạnh tranh đều có thể được
hưởng miễn trừ.
- SAI. Khoản 1 điều 9 LCT quy định các trường hợp bị cấm tuyệt đối và không được hưởng
sự miễn trừ.
29. Khi một hành vi kinh doanh cùng được điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh (2004) và
các Luật khác thì Luật Cạnh tranh sẽ được ưu tiên áp dụng.
- ĐÚNG. Xem khoản 1 Điều 5 LCT.
30. Pháp luật hiện hành của Việt Nam cấm doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp
bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
- SAI. Chỉ Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có đầy đủ các tiêu chí về thị phần theo khoản
1 điều 11 LCT và có hành vi bán hàng cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm mục
đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh mới bị cấm, doanh nghiệp không đủ thị phần thì không thuộc
hành vi này, không bị cấm.
31. Các doanh nghiệp được tự do tập trung kinh tế nếu sau khi thực hiện vẫn thuộc
diện doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.
- ĐÚNG. Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 20 Luật cạnh tranh quy định “Trường hợp
doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc laoij doanh nghiệp nhỏ và vừa
theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo”. Với quy định này Luật Cạnh tranh
cho phép doanh nghiệp được tự do thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp này.

5


32. Những thông tin có đủ các điều kiện quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh
và đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được coi là bí mật kinh doanh
của doanh nghiệp.
- SAI. Chỉ cần thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh, không
cần đăng ký.
33. Mọi hành vi quảng cáo bằng cách đưa ra các thông tin so sánh sản phẩm được
quảng cáo với sản phầm cùng loại khác trên thi trường đều vi phạm luật cạnh tranh.
- SAI. Phải nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh đồng thời phải là so sánh trực tiếp,
nếu không nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh thì không xem là vi phạm và không
áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 45 LCT.
34. Mọi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ chỉ bị cấm khi thị phần kết hợp của các
doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.
- SAI. Khoản 2 Điều 9 LCT quy định rằng “Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy
định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 8 LCT khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết
hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Tuy nhiên ngay sau đó khoản 1 Điều 10 LCT
quy định tiếp “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 2 Điều 9 được miễn trừ có
thời hạn (có nghĩa là không bị cấm khi thị phần kết hợp trên 30%) nếu đáp ứng các điều
kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng … (Xem các khoản a, b, c, d, đ,
e,).
35. Cơ quan cạnh tranh sẽ chỉ tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh khi có đơn yêu cầu
của một hoặc một số doanh nghiệp có liên quan. / Cơ quan quản lý Cạnh tranh chỉ tiến
hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu.
- SAI. Căn cứ Điều 65, khoản 2 điều 86 LCT 2004. Từ đó ta có thể kết luận rằng Cơ quan
quản lý Cạnh tranh ngoài việc tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu thì
còn có thể tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi phát hiện dấu hiệu vi phạm quy định
của Luật Cạnh tranh.
36. Mọi hành vi hạn chế cạnh tranh đều có thể được xem xét để được hưởng miễn trừ.
- SAI. Các hành vi tại khoản 1 điều 9 LCT bị cấm tuyệt đối.
37. Mọi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đều có thể bị khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ
Công Thương.
- SAI. Khoản 2 điều 107 quy định “Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội
dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các
bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ công thương”. Như vậy chỉ khi không đồng ý với
quyết định của Thử trưởng cơ quan QLCT thì mới khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương.
38. Cục quản lý cạnh tranh có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền và buộc cải chính
công khai đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật cạnh tranh.
- ĐÚNG. Theo Điều 119 LCT 2004, khoản 10 điều 2 NĐ 06/2006, điều 40 NĐ 71/2014:
Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh.
39. Mọi hành vi tổ chức lại doanh nghiệp đều là tập trung kinh tế.
- SAI. Theo Điều 35 NĐ 116/2005 thì trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp thực hiện
việc tổ chức lại và trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được múc đích bán lại đó, và trong
khoảng thời gian là 1 năm thì không bị xem là tập trung kinh tế.

40. Mọi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh đều có quyền đề nghị hưởng miễn trừ.
6


- SAI. Khoản 1 điều 9 LCT quy định 3 trường hợp không được miễn trừ trong mọi trường
hợp bao gồm:
+ Ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh
doanh.
+ Loại bỏ doanh nghiệp khác (các DN ngoài thỏa thuận).
+ Thông đồng đấu thầu.
41. Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết các vụ việc về hành vi vi phạm pháp
luật cạnh tranh theo sự phân cấp của Chính phủ.
- SAI. Khoản 2 điều 53 LCT quy định “Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải
quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo
quy định của pháp luật”. Theo tinh thần của điều luật này thì nếu có khiếu nại làm phát sinh
vụ việc cạnh tranh và cá nhân, tổ chức thực hiện việc khiếu nại như quy định tại khoản 1
Điều 58 Luật Cạnh tranh thì lúc này Hội đồng cạnh tranh sẽ xem xét, thụ lý giải quyết mà
không quan tâm đến sự phân cấp của chính phủ, đồng thời chỉ giải quyết đối với các hành vi
hạn chế cạnh tranh chứ không phải là đối hầu hết các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
(gồm hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh).
42. Hành vi quảng cáo hàng hóa, dịch vụ có nội dung so sánh trực tiếp với sản phẩm
cùng loại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- ĐÚNG. Theo quy định tại khoản 1 điều 45 Luật Cạnh tranh “Cấm doanh nghiệp thực hiện
các hoạt động quảng cáo sau: So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa,
dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”.
43. Ba doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh khi thị phần kết hợp của chúng
chiếm trên 75% trên thị trường liên quan.
- SAI. Phải thỏa mãn về thị phần, cùng nhau hành động … (Khoản 2 điều 11 LCT).
44. Khi phát hiện thấy có dấu hiệu rõ ràng về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh,
cơ quan cạnh tranh có thể ra quyết định điều tra chính thức mà không cần tiến hành
điều tra nội bộ. / Khi có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh, thủ truởng cơ quan quản
lý Cạnh tranh sẽ ra ngay quyết định chính thức điều tra.
- SAI. Thủ truởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định điều tra chính thức nếu kết quả
điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm quy định Luật cạnh tranh tại khoản 2 Điều 88
LCT 2004; tức là phải qua việc điều tra sơ bộ nếu kết quả cho thấy có vi phạm Luật cạnh
tranh thủ truởng cơ quan quản lý cạnh tranh mới ra quyết định điều tra chính thức.
45. Phiên điều trần xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh là 1 phiên tòa xét xử vụ
việc cạnh tranh.
- ĐÚNG. Điều 98 Luật cạnh tranh quy định rằng “Vụ việc cạnh tranh phải được xem xét, xử
lý thông qua phiên điều trần”. Sau khi nhận đủ hồ sơ, kết quả điều tra 30 ngày thì Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh có thể ra quyết định mở phiên điều trần. Tại phiên điều trần có sự
tham gia của các bên liên quan, có sự trình bày ý kiến, tranh luận và sau đó Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kiến và quyết định theo đa số kết quả xử lý
vụ việc cạnh tranh. Quyết định này có hiệu lực sau 30 ngày nếu không có khiếu nại tố cáo
(Điều 106).
46. Khi điều tra về vụ việc hạn chế cạnh tranh, nếu kết luận điều tra chính thức là
không có hành vi vi phạm, thủ trưởng cơ quan cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều
tra.
7


- SAI. Thủ trưởng cơ quan cạnh tranh chỉ quyết định đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra
sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm quy định của Luật cạnh tranh (Khoản 1 điều 88).
Còn nếu sau khi điều tra chính thức thì thủ trưởng cơ quan cạnh tranh phải chuyển báo cáo
điều tra cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Hội đồng cạnh tranh mà không ra quyết định đình
chỉ điều tra.
47. Khi nhận được kết quả điều tra từ cục quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh
phải tổ chức phiên điều trần để xem xét kết quả điều tra và ra quyết định xử lý vụ việc.
- SAI. XEM ĐIỀU 88 LCT.
48. Cục quản lý cạnh tranh sẽ chỉ tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh khi có đơn yêu
cầu của ít nhất một doanh nghiệp có liên quan.
- SAI. Khoản 2 điều 86 LCT.
49. Hội đồng cạnh tranh chỉ điều tra và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh.
- SAI. Khoản 2 điều 53 chỉ xử lý, không có điều tra vụ việc.
50. Căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp trên thị
trường liên quan là thị phần của doanh nghiệp đó.
- SAI. Khả năng gây hạn chế cạnh tranh với trường hợp doanh nghiệp dưới 30% nhưng có
khả năng gây ra hạn chế cạnh tranh.
51. Hành vi bán hàng đa cấp bất chính là hành vi bán hàng trái với quy định của pháp
luật điều chỉnh hoạt động này. / Hành vi bán hàng đa cấp bất chính là hành vi của DN
tổ chức bán hàng đa cấp trái với quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với
bán hàng đa cấp.
- SAI. Vì thuật ngữ bán hàng đa cấp bất chính được quy định tại Điều 48 LCT được điều
chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, chứ không được điều chỉnh bởi pháp luật về quản lý Nhà
nước về bán hàng đa cấp. Pháp luật cạnh tranh và pháp luật về quản lý bán hàng đa cấp là
khác nhau. Vì vậy, hành vi bán hàng đa cấp bất chính không phải là hành vi vi phạm pháp
luật về quản lí bán hàng đa cấp. (cspl: Điều 48 LCT 2004, Điều 5 NĐ 42/2014.)
52. Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan quản lý cạnh tranh và xử lý hành vi vi phạm
pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.
- SAI. Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan cạnh tranh nhưng chỉ có thẩm quyền điều tra các
vụ việc cạnh tranh bao gồm hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên
Cục quản lý cạnh tranh lại chỉ có thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
còn hành vi hạn chế cạnh tranh lại thuộc về Hội đồng cạnh tranh. Tóm lại, nói Cục quản lý
cạnh tranh là cơ quan cạnh tranh là chính xác không sai, nhưng nói Cục quan lý cạnh tranh
xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh (Hạn chế CT và CT không lành mạnh) thì đúng.
53. Căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của nột DN trên thị trường liên quan
là thị phần của DN đó. / Thị phần là căn cứ duy nhất để xác định quyền lực thị trường.
- SAI. Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại “quyền lực thị trường là khả năng của một
doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả và thị trường của
một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua.” Vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc
quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trên
thị trường. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền là đem lại cho doanh nghiệp
những lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp khác và khả năng chi phối mối quan hệ với
khách hàng.

8


- Những yếu tố làm cho doanh nghiệp có được những lợi thế đó rất đa dạng, mỗi một nước
quy định trong pháp luật của mình những cơ sở khác nhau để xem xét vị trí thống lĩnh này.
Thông thường là có hai phương pháp áp dụng đó là:
+ Phương pháp định lượng: sử dụng công cụ thị phần, bằng cách ấn định một con số
cụ thể được luật hoá trong các văn bản pháp luật. Giá trị con số này tuỳ thuộc vào cách nhận
định của mỗi quốc gia phù hợp từng thời kỳ.
+ Phương pháp định tính: khi đưa ra các yếu tố, các khái niệm xung quanh việc khả
năng doanh nghiệp có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Đó là các yếu tố về
năng lực doanh nghiệp mang tính đặc thù
- Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành thì căn cứ vào Khoản 1 Điều 11 Luật
Cạnh Tranh 2004 và Điều 22 Nghị định 116/2005 thì ta thấy rằng pháp luật cạnh tranh Việt
Nam hiện hành áp dụng đồng thời cả hai phương pháp trên.
- Câu nhận định đề bài cho rằng “thị phần” là cơ sở duy nhất là một nhận định không chính
xác. Theo những phân tích ở trên và căn cứ quy định pháp luật của nước ta, có thể thấy
ngoài thị phần còn áp dụng các tiêu chí khác để xác định quyền lực thị trường.
54.Trong tố tụng cạnh tranh, CQ quản lý cạnh tranh chỉ cần sử dụng các chứng cứ do
các bên cung cấp để điều tra về vụ việc cạnh tranh.
- SAI. Theo Điều 100 Luật cạnh tranh thì không phải lúc nào cũng chỉ sử dụng “vẻn vẹn”
chứng cứ do các bên cung cấp là đủ, mà quên đi các nguồn chứng cứ khác. Có nhiều trường
hợp Cơ quan quản lý cạnh tranh phải tự thu thập và chứng minh. Hơn nữa việc các bên cung
cấp chứng cứ có trung thực, khách quan hay không, chứng cứ có thỏa mãn các điều kiện
quy định tại Điều 76 NĐ 116/2005 hay không, nếu không thỏa mãn thì không áp dụng.
Ngoài ra theo quy định tại K3 Đ74 NĐ 116/2005/NĐ-CP quy định trong trường hợp vụ việc
cạnh tranh do bị cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện thì cơ quan quản lý cạnh tranh có
nghĩa vụ chứng minh. Ví dụ: Theo quy định tại K1 Đ80 và K4 Đ76 NĐ 116/2005/NĐ-CP
thì cơ quan quản lý cạnh tranh phải ra quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám định
này là chứng cứ.
55. Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng
cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.
- SAI. Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy định “Trường hợp thị
phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường
liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại
doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo”.
56. Một DN chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên
trên thị trường liên quan.
- SAI. Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh thì “Doanh nghiệp được coi là có
vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có
khã năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể”. Như vậy nếu một doanh nghiệp có thị phần dưới
30% nhưng có khả năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể thì vẫn coi là có vị trí thống lĩnh thị
trường.
57. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh
tranh tham gia.
- SAI. Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 LCT thì Hội đồng cạnh tranh có từ 11 đến 15
thành viên do thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại.
Khoản 3 Điều 54 quy định tiếp “Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội
9


đồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất 5 người … Như vậy nói Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia là không có cơ sở.
58. Chủ tịch hội đồng cạnh tranh có quyền tạm đình chỉ phiên điều trần khi phát hiện
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm tố tụng cạnh tranh.
- SAI. Vì Căn cứ Điều 79 Luật Cạnh tranh 2004 thì Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh chỉ có
thẩm quyền thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thay đổi thành viên Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh, thư ký phiên điều trần, người giám định, người phiên dịch trước khi
mở phiên điều trần, có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chính khi
tiếp nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh. Vậy khi phát hiện Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có
dấu hiệu vi phạm tố tụng cạnh tranh thì Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh không có quyền tạm
đình chỉ phiên điều trần.
59. Bộ trưởng bộ Công thương có quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh.
- SAI. Xem khoản 2 điều 107 LCT (chỉ vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý
cạnh tranh.
60. Hành vi bán hàng dưới giá vốn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- SAI. Căn cứ theo khoản 4 điều 3, điều 39 LCT 2004. Căn cứ hai điều luật kể trên thì các
hành vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các đặc điểm sau:
+ Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp. Khái niệm doanh nghiệp trong
luật Cạnh tranh không chỉ bao gồm tất cả các chủ thể được gọi là doanh nghiệp theo pháp
luật doanh nghiệp mà còn bao gồm tất cả các loại chủ thể kinh doanh khác được phép tiến
hành các hoạt động kinh doanh ở Viêt Nam.
+ Thứ hai, mục đích của hành vi là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh. Điều đó, có
nghĩa là doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh nhất định so với đối thủ cạnh tranh
thông qua hành vi.
+ Thứ ba, tính chất của hành vi phải trái với các chuẩn mực đạo đức thông thường của
kinh doanh. Có nghĩa là hành vi bán hàng dưới giá vốn phải vi phạm các chuẩn mực đạo
đức trong kinh doanh.
+ Thứ tư, hậu quả của hành vi có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng.
- Nếu hành vi bán hàng dưới giá vốn trong trường hợp này thỏa những điều kiện mới có đủ
cơ sở kết luận rằng nó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Ví dụ: nếu “hành vi bán hàng dưới giá vốn” nhằm thanh lý tài sản, hàng hóa để rút khỏi thị
trường, hành vi này không nhằm mục đích cạnh tranh trong kinh doanh so với doanh nghiệp
khác thì không bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
61. Thoả thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạn chế cạnh
tranh.
- SAI. Về khái niệm của hạn chế cạnh tranh được quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh
Tranh 2004, có thể rút ra đặc điểm của hạn chế cạnh tranh như sau:
+ Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là doanh nghiệp hoặc nhóm
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này thường có vị trí nhất định trên thị trường hoặc sự kết
hợp của các các doanh nghiệp này có khả năng hạn chế cạnh tranh.
+ Thứ hai, hoạt động trên cùng một thị trường liên quan.
+ Thứ ba, mục đích của các hành vi hạn chế cạnh tranh là nhằm cản trở và làm sai lệch
cạnh tranh trên thị trường.
10


- Theo quy định tại điều 146 của Luật doanh nghiệp 2005 thì tập đoàn kinh tế là một hình
thức của nhóm công ty. Cũng theo quy định này, nhóm công ty là tập hợp các công ty có
mối quan hệ gắn bó lâu dài về các lợi ích nhất định. Hay nói cách khác là chưa có sự phân
biệt các loại tập đoán kinh tế ở các dạng khác nhau, vì thế các doanh nghiệp trong tập đoàn
kinh tế theo cách hiểu của pháp luật Việt Nam có thể là đối thủ cạnh tranh, hoặc cũng có thể
là doanh nghiệp trong cùng một kênh hỗ trợ. Bởi chính lí do trên, ta thấy rằng các thoả
thuận của các doanh nghiệp này có thể tồn tại ở hai dạng thoả thuận:
+ Thoả thuận ngang: thoả thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh.
+ Thoả thuận dọc: thoả thuận giữa các chủ thể trong cùng một chu trình sản xuất, phân
phối, lưu thông hàng hoá.
- Với dữ kiện đề bài cho là thoả thuận của doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạn
chế cạnh tranh, thì câu nhận định này là không có cơ sở. Nếu hai doanh nghiệp trong cùng
tập đoàn là đối thủ cạnh tranh thì có thể cấu thành hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh.
Nếu trường hợp, hai doanh nghiệp không là đối thủ cạnh tranh và đồng thời 1 trong 2 doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền thì sẽ cấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Khi các thoả thuận của các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn thoả mãn các dấu hiệu cấu
thành của lạm dụng thì đó là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
62. Các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn không phải là đối thủ cạnh tranh.
- SAI. Theo Điều 149 Luật Doanh Nghiệp năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là một
thành phần trong nhóm công ty : “nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn
bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh
khác”. Tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập. Vì vậy
mà các doanh nghiệp khi kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ có
cùng tính chất, cùng công dụng và có thể thay thế cho nhau trong những điều kiện cạnh
tranh như nhau nhằm ganh đua, kình địch tranh giành thị trường, mở rộng thị phần thì được
coi là đối thủ cạnh tranh.
63. Các cơ quan hành chính có thể tác động đến Luật cạnh trạnh.
- ĐÚNG. Theo khoản 10 Điều 39 Luật cạnh tranh thì Chính phủ có quyền quy định các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí đã được xác định bởi định nghĩa quy
định tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh. Hay tại khoản 1 Điều 25 Luật cạnh tranh thì Bộ
trưởng Bộ Công thương xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy định tại Điều
10 và khoản 1 Điều 19 đối với trường hợp miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
Đồng nghĩa với những quy định này thì các cơ quan hành chính trong một số trường hợp cụ
thể có thể tác động tới luật cạnh tranh.
64. Hội Đồng Cạnh Tranh có quyền huỷ quyết định xử lý của thủ trưởng cục quản lý
cạnh tranh.
- SAI. Vì hội đồng cạnh tranh và Cục quản lý cạnh tranh mặc dù đều là những cơ quan có
trách nhiệm giải quyết các vụ việc cạnh tranh nhưng trách nhiệm, quyền hạn cũng như thẩm
quyền, phạm vi quyền lực của hai cơ quan này là khác nhau. Hội đồng cạnh tranh thuộc cơ
quan xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại NĐ
05/2006/NĐ-CP. Còn Cục quản lý cạnh tranh thuộc cơ quan quản lý cạnh tranh theo quy
định của NĐ 06/2006/ NĐ-CP. Hơn nữa, theo K2, Đ 107, LCT trường hợp không nhất trí
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh thì các bên
có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công Thương và theo Đ 113 LCT thì Bộ trưởng Bộ
Công Thương có quyền hủy quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và yêu cầu cơ quan quản lý
cạnh tranh giải quyết lại.
11


65. Mọi vụ việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn trước khi đưa ra trước
hội đồng cạnh tranh để giải quyết.
- ĐÚNG. Vì theo LCT 2004 điều tra được chia làm hai giai đoạn: điều tra sơ bộ và điều tra
chính thức. Kết quả của giai đoạn điều tra chính thức là cơ sở để Cục quản lí cạnh tranh ra
quyết định đưa vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo khoản 2 Điều 53 LCT
năm 2004 hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết những vụ việc liên quan đến cạnh
tranh không lành mạnh, vì thế mọi vụ việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn đó
là thủ tục cũng như cơ sở lựa chọn Hội đồng cạnh tranh giải quyết vụ việc.
66. Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng
cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.
- SAI. Theo khoản 1, điều 20 LCT, trường hợp tập trung kinh tế mà thỏa một trong hai điều
kiện:
+ Thị phần kết hợp thấp hơn 30% trên thị trường liên quan;
+ Doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo
quy định của pháp luật. (khoản 1 Điều 3 NĐ 56/2009)
Thì không phải thông báo cho cơ quan quản lí cạnh tranh.
- Như vậy, không phải mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải báo cho cơ quan quản lí
cạnh tranh.
67. Một doanh nghiệp chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ
30% trở lên trên thị trường liên quan
- SAI. Theo khoản 1, điều 11 LCT, thì một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thì
chỉ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện:
+ Có thị phần 30%; hoặc
+ Có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
- Ngoài ra tại Điều 22 Nghị định số 116/2005/NĐ–CP xác định cơ sở để xác định khả năng
gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan dựa
vào một hoặc một số căn cứ chủ yếu. Như vậy, không chỉ những trường hợp có thị phần
30% trở lên trên thị trường liên quan mới xét là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh.
68. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được miễn trừ.
- SAI. Vì có 2 trường hợp được miễn trừ là trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh bị cấm (Điều 10 LCT) và trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm
(Điều 19 LCT). Bản chất của xét miễn trừ là vì tuy xét về hình thức thì một số hành vi tập
trung kinh tế và một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết
luận là hành vi vi phạm luật cạnh tranh nhưng không gây ra nhiều tác động tiêu cực mà
ngược lại có lợi cho người tiêu dùng, có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần cho sự
phát triển kinh tế.
- Còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong
quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt
hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp khác hoặc người tiêu dùng (Điều 3 Khoản 4 LCT).
- Việc miễn trừ đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm và tập trung kinh tế bị cấm
được pháp luật nước ta dựa trên sự cân nhắc đến hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế để cho
xem xét cho phép thực hiện những hành vi này mà về bản chất có hạn chế cạnh tranh nhưng
có thể được sử dụng như một trong các biện pháp góp phần đạt được hiệu quả của nền kinh
tế. Còn đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi ích
12


Nhà nước, các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, xâm hại đến trật tự quản lí cạnh tranh
mà không có bất kì tác động tích cực nào nên không có bất kì điều luật hoặc văn bản nào qui
định được miễn trừ.
- Đồng thời theo Điều 26 LCT thì đối tượng nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ là các bên dự
định tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế, không có qui định đến
các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Vì vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được miễn trừ.
69. Không phải thỏa thuận cạnh tranh nào cũng được miễn trừ.
- ĐÚNG. Bởi vì tại khoản 1 điều 9 Luật Cạnh tranh 2004 quy định về các trường hợp thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối (tức không áp dụng miễn trừ), bên cạnh đó các
thỏa thuận cạnh tranh quy định tại khoản 2 Điều 9 LCT 2004 nếu không đáp ứng được một
trong các điều kiện quy định tại khỏan 1 Điều 10 LCT 2004 thì cũng không đuợc áp dụng
miễn trừ.
70. Cơ quan quản lý Cạnh tranh không điều tra đối với thị phần doanh nghiệp trong
cạnh tranh không lành mạnh.
- ĐÚNG. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây
thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
- Như vậy, trong vụ việc cạnh tranh liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan
quản lý cạnh tranh, tức Cục quản lý cạnh tranh có thẩm quyền điều tra quy định tại điểm c,
khoản 2, điều 49 LCT 2004 và điểm b, khoản 4, điều 2 Nghị định 06/2006/NĐ-CP đối với
các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh. Nội dung điều tra chỉ cần chứng minh rằng bên bị
điều tra đã hay đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà không cần phải xác
định thị phần của bên bị điều tra theo khoản 2 điều 89 LCT 2004.
71. Bộ trưởng Bộ Công Thương là người duy nhất có thể giải quyết khiếu nại về cạnh
tranh.
- SAI. Khiếu nại về cạnh tranh bao gồm: khiếu nại vụ việc cạnh tranh và khiếu nại quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh.
- Đối với khiếu nại vụ việc cạnh tranh (điều 58 LCT), nếu vụ việc cạnh tranh liên quan đến
cạnh tranh không lành mạnh thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về thủ trưởng cơ
quan quản lý cạnh tranh (khoản 11, điều 76 LCT); nếu vụ việc cạnh tranh liên quan đến hạn
chế cạnh tranh thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Hội đồng xử lý cạnh tranh (khoản 2, điều
80 LCT).
- Đối với khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (điều 107 LCT), nếu khiếu nại quyết
định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh thì thẩm
quyền giải quyết thuộc về Hội đồng cạnh tranh (khoản 1, điều 107; điều 112 LCT); nếu
khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh thì
thẩm quyền thuộc Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương; khoản 2, điều 107;
điều 113 LCT)
- Như vậy, Bộ trưởng Bộ Công Thương không phải là người duy nhất có thể giải quyết
khiếu nại về cạnh tranh.
72. Phiên điều trần là Phiên toà.
- SAI. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất
bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn,
13


khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân.
- Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định
trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra.
- Phiên điều trần được Hội đồng xét xử quyết định mở để xem xét , quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh nếu không có căn cứ để trả hồ sơ hay đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh.
Phiên điều trần là một giai đoạn xử lý vụ việc (tài phán, xét xử) mà không bao gồm các
hoạt động thụ lý, điều tra.
- Như vậy, với bản chất là một cơ quan thuộc hành pháp, quyết định của hội đồng xử lý vụ
việc cạnh tranh trong phiên điều trần có hiệu lực như một quyết định hành chính khác với
bản chất của Phiên tòa.

II. LÝ THUYẾT
1. Phân tích các căn cứ xác định thị trường liên quan của LCT?
- Với sự phát triển của thị trường như hiện nay, nhất là đối với nền kinh tế thị trường, cạnh
tranh là một yếu tố không thể thiếu, đồng thời là một nhân tố quan trọng làm động lực thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ thể tham
gia thị trường, mặt trái của hiện tường này là sự cạnh tranh không lành mạnh của các chủ
thể hay nhóm chủ thể dẫn đến những bất lợi cho nền kinh tế; chẳng hạn những hành vi làm
giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy thị trường như thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường… Do đó những hành vi này được kiểm
soát, hạn chế bởi luật cạnh tranh.
- Luật cạnh tranh quy định những hành vi nào là hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
Một trong những yếu tố quan trọng để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật của hầu hết các
hành vi hạn chế cạnh tranh đó chính là thị trường liên quan, do đó việc xác định thị trường
liên quan có một ý nghĩa hết sức quan trọng để biết rằng doanh nghiệp có vi phạm pháp luật
cạnh tranh hay không.
- Theo điều 3 Luật Cạnh tranh quy định thì thị trường liên quan bao gồm hai thị trường đó là
thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Việc phân tích, xác định các
yếu tố cấu thành của tường thị trường giúp ta đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá một doanh
nghiệp có đang hoạt động trong thị trường liên quan hay không, từ đó mới xác định sự có
hay không có vi phạm luật cạnh tranh của doanh nghiệp đó.
* Đối vời thị trường sản phẩm liên quan:
- Theo Điều 4 NĐ 116/2005/NĐ-CP thì “thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của
những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính, mục đích sử dụng và giá
cả.” Vậy thế nào là tính thay thế cho nhau của sản phẩm?
- Khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm là khả năng một sản phẩm này có thể đáp ứng
nhu cầu tương tự một sản phẩm khác trên thị trường. Theo khoản 5, điều 4 NĐ 116 thì thuộc
tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hóa, dịch vụ thì căn cứ để xác định khả năng thay
thế của sản phẩm là tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua tiêu chí về đặc tính, mục đích
sử dụng và giá cả của sản phẩm.
- Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu
như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều đặc tính giống nhau. Ở đây ta có hai vấn đề cần
lưu ý:
+ Thứ nhất, về khả năng thay thế cho nhau về mục đích sử dụng. Việc sử dụng sản
phẩm là hành vi của người tiêu dùng, các sản phẩm cho dù khác nhau nhưng nếu có chung
một mục đích sử dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau. Do đó, khi
14


phân tích dấu hiệu này cần phải nhìn nhận dưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịch
vụ.
+ Thứ hai, về đặc tính của sản phẩm. Điểm a khoản 5 Điều 4 NĐ 116 quy định rõ đặc
tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ như: tính chất vật lý,
tính chất hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ.
Xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố trong cấu
tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụ đối với người sử dụng …
Bởi lẽ, các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế
cho nhau, ví dụ các loại vitamin không thể thay thế cho nhau vì các thành phần dinh dưỡng,
đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hoá khi sử dụng… của chúng không giống nhau. Có thể
nói, việc xác định sự tương đồng về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quan
trọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn đề này, cơ
quan điều tra mới có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thị
trường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo.
+ Thứ ba, về giá cả sản phẩm: căn cứ điểm c khoản 5 điều 4 NĐ 116.
- Giả sử trên thị trường có các mặt hàng có khả năng thay thế cho nhau về các mặt chất
lượng, tính năng, mẫu mã và kểu dáng. Mặc định rằng, cả ba mặt hàng này có mức giá lần
lượt từ cao đến thấp tùy vào nhà sản xuất và thị trường ấn định. Khi người tiêu dùng lựa
chọn sản phẩm, sẽ có rất nhiều yếu tố tác động vào quyết định lựa chọn của họ như: xuất xứ,
chất lượng, mẫu mã, giá thành, thói quen tiêu dùng… Trong đó, giá cả nổi lên như một yếu
tố có vai trò quyết định tiên quyết khi cân nhắc chọn mua sản phẩm vì ban đầu, chúng ta
mặc định là các sản phẩm có khả năng thay thế cho về mặt tính năng, chất lượng… Vì mọi
thứ hầu như giống nhau nên khách hàng sẽ có xu hướng chọn món đồ có mức giá chấp nhận
được so với khả năng thu nhập và kế hoạch chi tiêu của họ. Một khi trên thị trường có sự
biến động về giá cả, các mặt hàng cũng theo đó mà có sự điều chỉnh về giá cả cho phù hợp
với thị trường và kế hoạc sản xuất của doanh nghiệp. Từ đó, sự lựa chọn của khác hàng
cũng sẽ thay đổi theo mức giá và theo quy định thì mức độ thay đổi sẽ được đo lường dựa
trên tỉ lệ giữa những người chuyển qua sự dụng sản phẩm khác khi có sự biến động về giá
và một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan.
Nếu có sự chênh lệch lớn xảy ra, tức là trên 50% thì có thể kết luận về mức độ cạnh tranh
của sản phẩm đó.
* Đối với thị trường địa lý liên quan:
- Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người
sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩm được sản xuất hoặc được mua
bán tại những địa điểm khác nhau. Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được
sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác
để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó hai địa điểm được
xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác
là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại.
- Theo khoản 1 Điều 3 của Luật cạnh tranh quy định về “thị trường địa lý liên quan”. Chính
tại “thị trường địa lý liên quan”, các điều kiện cạnh tranh về mặt thực tế có cơ hội được phát
huy sự ảnh hưởng thông qua một loạt các hệ thống dịch vụ cung ứng và lực lượng người
tiêu dùng đông đảo tại khu vực địa lý đó. Đồng thời, rào cản gia nhập, thời gian vận chuyển
và chi phí vận chuyển phát sinh khi đưa hàng hóa ra khu vực địa lý để tiêu thụ cũng là một
trong những điều làm ảnh hưởng tới giá bán lẻ của hàng hóa.
- Theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP, mức chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển giữa
các địa điểm trong khu vực được suy đoán là người tiêu dùng chấp nhận nếu nó không làm
15


giá bán lẻ sản phẩm tăng quá 10%. Do đó, nếu chi phí vận chuyển hoặc thời gian vận
chuyển có thể làm giá bán lẻ tăng quá 10% thì việc thay đổi nhu cầu tiêu dùng sẽ không thể
xảy ra…
- Vậy nên, ta có thể kết luận rằng: Cùng với thị trường sản phẩm liên quan, thị trường địa lý
liên quan cũng góp phần vào việc tạo nên những yếu tố cạnh tranh cho sản phẩm của các
doanh nghiệp, góp phần hình thành nên thị trường liên quan, nơi mà các doanh phiệp có thị
phần khác nhau có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trong phạm vi sản phẩm mà họ đang
sản xuất và kinh doanh.
2. So sánh “lạm dụng hạn chế sản xuất” và “thoả thuận hạn chế sản xuất”?
* Giống nhau:
- Chủ thể thực hiện đều là doanh nghiệp kinh doanh theo Luật Cạnh Tranh.
- Đều tác động lên thị trường liên quan.
- Đều cắt giảm khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường liên quan so với lượng
hàng hóa dịch vụ cung ứng trước đó.
- Đều là cách thức mà Doanh nghiệp bóc lột khách hàng, gây bất lợi cho khách hàng.
- Người tiêu dùng không thể chủ động phản ứng lại hành vi của doanh nghiệp
- Mất cân bằng cung cầu thị trường .
- Đều làm lãng phí nguồn lực xã hội.
* Khác nhau:
Tiêu chí
Cơ sở pháp lý
Chủ thể

Hình
hiện

thức

Hành vi

Tính chất

Thỏa thuận hạn chế sản xuất
- Khoản 3 Điều 8 LCT 2004.
- Ít nhất 2 chủ thể với tư cách pháp lý
độc lập tham gia thỏa thuận. Các doanh
nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau,
không phải là những người liên quan của
nhau theo pháp luật doanh nghiệp, không
cùng một tập đoàn kinh doanh, không là
thành viên của tổng công ty.
thể - Thể hiện dưới hình thức hợp đồng,
cũng có thể thể hiện dưới hình thức các
thiết chế, quy chế nghề nghiệp, nội quy
của hiệp hội hành nghề, nghiệp đoàn
hoặc cũng có thể là các thỏa thuận ngầm.
- Các bên thống nhất cắt, giảm khối
lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa cung
ứng dịch vụ trên thị trường liên quan so
với lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa
cung ứng dịch vụ trước đó. (Điều 16 NĐ
116/2005)
- Có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa
các chủ thể cạnh tranh trong 1 thị trường
liên quan.

Mức độ điều tiết

Lạm dụng hạn chế sản xuất
- Khoản 3 Điều 13 LCT 2004.
- Doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh, doanh nghiệp có
vị trí độc quyền.

- Thể hiện qua hành động,
phản ứng, chiến lược… của
doanh nghiệp.

- Chủ thể giảm khả năng cung
ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường liên quan so với lượng
hàng hóa dịch vụ cung ứng
trước đó. (Đ 28 NĐ
116/2005)
- Có tính chất đơn phương áp
đặt ý chí của doanh nghiệp
nắm quyền lực chi phối thị
trường.
- Là hành vi bị cấm trong trường hợp các - Là hành vi bị cấm (Điều 13,
16


bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết 14 LCT)
hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở
lên (Điều 9 LCT)
Hệ quả
- Không ảnh hưởng đến vị thế của mỗi - Doanh nghiệp củng cố vị
doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
thế của mình.
3. Anh/chị hãy xác định và phân biệt các hành vi lạm dùng quyền lực thị trường gây
thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ để duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp thực
hiện hành vi.
- Theo quy định tại điều 13 Luật Canh Tranh 2004 có 6 hành vi như sau:
+ Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
+ Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hai cho khách hàng.
+ Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
+ Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất
bình đẳng trong cạnh tranh.
+ Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối
tượng hợp đồng.
+ Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
- Từ 6 hành vi đó được khoa học luật cạnh tranh phân thành các nhóm hành vi đặc thù dựa
vào đối tượng tác động:
+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm bóc lột khách hàng (hay hành vi lạm dụng mang tính
bóc lột- Exploitative abuses).
+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (hay hành vi lạm dụng
mang tính độc quyền- Exclusive abuses).
+ Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng.
- Yêu cầu đề bài là các hành vi tác động tới đối thủ cạnh tranh nên chúng ta có thể phân biệt
thành 2 nhóm:
Tiêu chí

Đối tượng
động

Nhóm hành vi lạm dụng Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho
nhằm loại bỏ đối thủ cạnh đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho
tranh
khách hàng
tác Đối thủ cạnh tranh

Vừa đối thủ cạnh tranh, vừa khách hàng

Các hành vi cụ - Bán hàng hoá, cung ứng
thể
dịch vụ dưới giá thành toàn
bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
- Ngăn cản việc tham gia thị
trường của những đối thủ
cạnh tranh mới
17

- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp
khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng
hoá, dịch vụ.
- Áp dụng điều kiện thương mại khác
nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo
bất bình đẳng trong cạnh tranh.
- Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận


các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp
đến đối tượng hợp đồng
- Chúng ta sẽ đi phân tích, xác định các đặc điểm của từng hành vi trong từng nhóm để thấy
được các đặc điểm khác biệt của từng hành vi:
* Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh:
- Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
(còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt, hành vi định giá huỷ diệt)
+ Căn cứ Điều 23 Nghị Định 116/2004 ta thấy rằng hành vi doanh nghiệp có quyền
lực thị trường sẽ bán hàng, cung ứng hàng hoá dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhắm loại bỏ
đối thủ cạnh tranh. Hành vi này gọi là định giá huỷ diệt (huỷ diệt đối thủ) hay định giá cướp
đoạt (cướp đoạt thị phần) hay bán phá giá độc quyền. Việc định giá thấp này không phải dựa
trên những hiệu quá sản xuất tốt, hoặc chấp nhận thu lợi nhuận thấp, hành vi này định giá
dựa vào “khả năng chịu lỗ” gây ra phản cạnh tranh.
+ Để xác định hành vi này chúng ta phải thực hiện những bước như sau: Thứ nhất,
xác định giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ giá bán thực tế
của doanh nghiệp trong các giao dịch với khách hàng. Thứ hai, xác định giá thành sản xuất
toàn bộ. Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành tự các chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông...của sản phẩm và được doanh nghiệp sử dụng làm
căn cứ xác định giá bán hàng hoá, dịch vụ của mình. So sánh giá bán thực tế và giá thành
toàn bộ của sản phẩm để xác định hành vi. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện
hành việc ấn định mức giá gây lỗ mặc nhiên bị coi là vi phạm không cần quan tâm tới các
yếu tố khách quan khác.
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
+ Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tao ra
những rào cản về giá hoặc về nguồn tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu... trên thị trường liên
quan. Để xác định cần thực hiện những bước sau: Thứ nhất, cần xác định rõ đối thủ cạnh
tranh mới. Thứ hai, xác định các rào cản của sự gia nhập. Theo kinh tế học có hai loại rào
cản:
 Rào cản cơ cấu: những nhân tố ngăn chặn sự nhập cuộc của doanh nghiệp tiềm
năng.
 Rào cản chiến lược: hành vi trong chiến lược của các doanh nghiệp đang hoạt
động trên thị trường nhằm ngăn cản sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng.
+ Theo điều 31 Nghị Định 116/2004 các hành vi cụ thể như sau:
 Các chiến lược tẩy chay khách hàng bằng cách yêu cầu khách hàng của mình
không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới.
 Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược thiết lập rào cản chiều dọc bằng cách
đe doạ và cưỡng ép nhà phân phối, các của hàng bán lẻ không chấp nhận phân phối những
mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới.
 Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược ngăn cản qua giá bằng cách bán hàng
hoá với mức giá đủ đế đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập thị trường nhưng không thuộc
trường hợp của hành vi định giá dưới giá thành toàn bộ.
+ Thứ ba, mặc dù một trong những căn cứ để xác định vi phạm là đã ngăn cản sự gia
nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, nhưng thực tế cơ quan có thẩm quyền chỉ cần
xác định được đã thực hiên hay chưa không cần quan tâm đã hoàn thành hay chưa.
* Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng:
18


- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch vụ.
+ Căn cứ Khoản 1 Điều 30 Nghị Định 116/2004, cấu thành pháp lý của hành vi này
gồm các yếu tố sau: Thứ nhất, doanh nghiệp đã buộc khách hàng khi mua, bán hàng hoá,
dịch vụ phải chấp các điều kiện có nội dung hạn chế cạnh tranh. Thứ hai, các điều kiện được
đưa ra phải là điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ.
- Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng
hợp đồng
+ Căn cứ khoản 2 điều 30 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi này
gồm các yếu tố sau: Thứ nhất, hành vi này đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm.
Việc mua bán kèm là điều kiện tiên quyết để khách hàng mua hàng. Thứ hai, đối tượng
chính và đối tượng phụ trong hợp đồng mua bán không liên quan trực tiếp với nhau.
- Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh
+ Căn cứ Điều 29 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi này gồm các
yếu tố sau: Thứ nhất, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua bán,
giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng khác nhau trong những giao dịch như nhau. Thứ hai,
hành vi gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các khách hàng. Nhưng một cách
gián tiếp tác động tới lợi ích của doanh nghiệp cạnh tranh.
* Phân biệt:
- Giống nhau:
+ Các hành vi gây thiệt hại cho các doanh nghiệp đối thủ để duy trì, củng cố vị trí của
doanh nghiệp.
+ Không đem lại lợi ích vật chất trực tiếp nhưng tạo cơ hội cho doanh nghiệp củng cố
địa vị khi đối thủ rút lui.
- Khác nhau:

Đối tượng
chịu thiệt hại
là đối thủ
cạnh tranh

Đối tượng
chịu thiệt hại

Căn cứ điều 23 NĐ 116/2005. Những đặc điểm nhận
diện:
- Đặt giá thấp hơn giá thành, chấp nhận thua lỗ trong
Bán hàng, cung một khoảng thời gian.
ứng dịch vụ dưới - Việc đặt giá thấp không vì lý do chính đáng.
giá thành
- Mục đích để loại bỏ đối thủ, chiếm lĩnh thị trường
sau đó thu hồi lỗ thông quá việc tăng giá.
- Hành vi độc lập, không cần liên hệ với đối tượng nào
khác.
Căn cứ điều 31 NĐ 116/2005. Tạo ra rào cản:
- Yêu cầu khách hàng không giao dịch với đối thủ.
Ngăn cản việc
- Tạo ra sự uy hiếp đối với bên phân phối tạo ra rào
tham gia thị
cản tiêu thụ.
trường của những
- Đạt giá thấp vừa đủ để đối thủ không thể gia nhập thị
đối thủ cạnh
trường.
tranh
- Hành vi tác động tới chủ thể khác, mà cụ thể là các
nhà phân phối.
Áp đặt các điều Căn cứ điều 29 NĐ 116/2005:
kiện thương mại
19


- Điều kiện đầu tiên phải thỏa mãn là các khách hàng
bị phân biệt đối xử phải là đối thủ cạnh tranh của
nhau.
khác nhau cho
- Đây là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán,
những giao dịch tạo bất lợi cho những người mua khác. Những chủ thể
như nhau
không là các bên trong thỏa thuận vừa mất đi lợi ích
trên cương vị một khách hàng; vừa bị hạn chế ưu thế
khi cạnh tranh với bên mua trong thỏa thuận, gián tiếp
tạo rào cản chi phí, ảnh hưởng tới cạnh tranh sau này.
Áp đặt cho giao Căn cứ điều 30 NĐ 116/2005:
là cả đối thủ
dịch khác điều
và khách
- Buộc khách hàng chấp nhận những điều kiện ký kết
kiện ký kết hợp hợp đồng, lợi dụng vị thế thống lĩnh độc quyền để ép
hàng, cơ hội
đồng mua bán
lựa chọn bị
buộc các chủ thể khác hạn chế khả năng lựa chọn và
hàng
hóa,
dịch
vụ
hạn chế.
đáp ứng nhu cầu của mình.
Căn cứ khoản 2 điều 30 nđ 116/2005:
- Hành vi này chỉ mang bản chất của sự lợi dụng vị trí
thống lĩnh hay vị trí chiếm lĩnh trong một thị trường để
bóc lột khách hàng đồng thời hạn chế cạnh tranh trên
Lạm dụng ràng
thị trường liên quan của hàng hoá, dịch vụ ràng buộc
buộc kèm theo
kèm thêm.
- Đối với doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh hành vi
tác động trực tiếp tới khách hàng về nhu cầu, lựa chọn
sản phẩm. Và gián tiếp với đối thủ cạnh tranh.
4. So sánh “ Loại bỏ doanh nghiệp khác” và “Ngăn cản doanh nghiệp khác” ?
* Cơ sở pháp lý: Được quy định taị Điều 19, 20 Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
* Giống nhau:
- Loại bỏ doanh nghiệp khác và ngăn cản doanh nghiệp khác đều là doanh nghiệp tham gia
thỏa thuận thống nhất hành động tẩy chay, từ chối giao dịch với các doanh nghiệp mới, các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh.
- Cách thức thực hiện:
+ Gián tiếp thông qua sử dụng công cụ giá.
+ Trực tiếp thông qua việc kêu gọi khách hàng không giao dịch, mạng lưới phân phối
không chấp nhận phân phối hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp không phải là các bên
thỏa thuận.
- Hệ quả:
+ Các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận bị phân biệt đối xử trong hoạt động
phân phối, tiếp cận khách hàng và khó cạnh tranh về giá cả.
+ Tham vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường sẽ bị cản trở một cách
đáng kể.
+ Ảnh hưởng đến tính cạnh tranh quyết liệt trên thị trường.
* Khác nhau:
- Hậu quả pháp lí:
+ Mục đích của thỏa thuận loại bỏ là nguy hại hơn mục đích của thỏa thuận ngăn cản.
Thỏa thuận ngăn cản là cản trở sự gia nhập hoặc mở rộng kinh doanh của đối thủ còn thỏa
20


thuận loại bỏ lại nhằm đến việc “trừ khử” các doanh nghiệp đang hoạt động nhưng không
tham gia thỏa thuận ra khỏi thị trường.
+ Sự tồn tại của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận:
 Đối với ngăn cản, kìm hãm: Đã gia nhập thị trường, có thị phần.
 Đối với loại bỏ: Đang chuẩn bị gia nhập thị trường.
5. Phân tích khả năng gây hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận phân chia thị trường
tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ.
- Theo khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi làm
giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Còn thỏa thuận phân chia thị trường tiêu
thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là một trong những thỏa thuận nhằm hạn
chế cạnh tranh của doanh nghiệp. Thỏa thuận này nguy hiểm cho cạnh tranh trên thị trường
ở chỗ có thể tạo ra vị thế độc quyền cho doanh nghiệp đó trên thị trường được phân chia
hoặc ít nhất là giảm bớt số lượng, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đã được phân chia
trên thị trường đó. Thông qua việc thỏa thuận phân chia cho từng doanh nghiệp những khu
vực thị trường, những nhóm khách hàng hoặc nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Bao
gồm:
+ Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ: Theo khoản 1 điều 15 nghị định
116/2005/NĐ-CP thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ là việc thống nhất về số lượng
hàng hóa, dịch vụ; địa điểm mua bán hàng hóa dịch vụ; nhóm khách hàng đối với mỗi bên
tham gia thỏa thuận. Thỏa thuận này xác định phạm vi thị trường của mỗi bên và thông qua
đó xác lập vị thế độc quyền trên thị trường được phân chia. Hậu quả là triệt tiêu cạnh tranh
trên thị trường đó.
+ Thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ: Theo khoản 2
điều 15 nghị định 116/2005/NĐ-CP thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung
ứng dịch vụ là việc thống nhất mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa dịch vụ
từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định. Đây là thỏa thuận phân chia thị trường
nguyên liệu. Theo đó mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ một
hoặc một số nguồn cung cấp nhất định.
- Cạnh tranh trong kinh doanh là các hành động thể hiện nổ lực của các chủ thể kinh doanh
cùng một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản
phẩm, hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn trên thị
trường. Như vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ để giảm chi phí
sản xuất, giảm giá thành sản phẩm; đa dạng hóa chất lượng, dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Về mặt bản chất, cạnh tranh đảm bảo cho người mua, người sử dụng dịch vụ được quyền
lựa chọn hàng hóa, dịch vụ từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau. Sự lựa chọn đó không
những giúp cho người mua thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của mình mà còn tạo động lực cho
mỗi nhà cung cấp nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Nếu diễn ra một cách công bằng,
cạnh tranh là động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là phương tiện để các chủ thể kinh
doanh có khả năng thích nghi với thị trường, có tiềm lực về tài chính, công nghệ và quản lý
lớn mạnh hơn, phát huy hiệu quả hoạt động của mình trong nền kinh tế.
- Ngược lại, quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp diễn ra một cách không công bằng,
thông qua việc các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau để loại bỏ đối thủ cạnh tranh khác ra
khỏi thị trường hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác xâm nhập thị trường thì sẽ gây ra tình
trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, độc quyền hay độc quyền nhóm. Các doanh
nghiệp thoả thuận với nhau để phân chia địa bàn hoạt động, thị trường tiêu thụ hàng hoá làm
cho sự lưu thông hàng hoá trên thị trường bị gián đoạn, bị chia cắt, dẫn tới việc độc quyền
21


chi phối một số mặt hàng trong thời gian nhất định làm cho giá cả một số mặt hàng tăng
cao. Mà hậu quả cuối cùng thuộc về doanh nghiệp bị loại bỏ và người tiêu dùng đồng thời
làm rối loạn thị trường kinh tế.
- Cụ thể, trong trường hợp các doanh nghiệp thỏa thuận với nhau thị trường tiêu thụ bao
gồm phân chia khu vực địa lý để khai thác nguồn hàng, số lượng khách hàng hoặc cung cấp
hàng hóa, dịch vụ hay bất kỳ hình thức tương tự nào khác thì lúc này giữa các doanh nghiệp
sẽ có sự thỏa thuận về giá cả, địa bàn kinh doanh gây sức ép đối với các doanh nghiệp khác
không có thỏa thuận. Mà ta đã biết, trong kinh doanh thì thị trường tiêu thụ là mục tiêu mà
các doanh nghiệp luôn hướng tới, luôn mong muốn dành được để tìm kiếm lợi nhuận.
- Hay trong trường hợp thỏa thuận nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nguồn cung cấp là
tiền đề giúp các doanh nghiệp có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Phải có nguồn cung cấp
thì mới có sản phẩm, dịch vụ để kinh doanh, vì vậy nó đóng một vai trò quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhưng khi có sự thỏa thuận phân chia nguồn
cung cấp của các doanh nghiệp thì mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa,
dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định.
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này được coi là hành vi có mức độ nguy hiểm và độc hại
cao nhất và khó nhận dạng nhất bởi nó thường được diễn ra ngầm qua các thỏa thuận của
các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đó, có khả năng làm biến dạng thị trường, thay đổi cơ
cấu “cung”, lũng đoạn “cầu” phá vỡ giá trị điều tiết theo quy luật cung - cầu của thị trường,
gây nguy hại không chỉ cho các đối tượng cạnh tranh, người tiêu dùng mà toàn thị trường
cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
- Các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá luôn muốn định đoạt giá cả hàng hoá cao hơn nhiều
lần so với giá thành mà không bị giảm doanh thu. Tuy nhiên, thị trường cạnh tranh không
cho phép họ làm như vậy. Từ đó, tâm lý chung của các doanh nghiệp là muốn tìm cách xoá
bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh, thiết lập vị thế độc quyền. Khi có vị thế độc quyền hoặc vị trí
thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp không cần quan tâm đến việc cải tiến máy móc kỹ thuật,
không cần tìm cách nâng cao năng suất lao động mà vẫn không bị giảm doanh thu. Thiết
nghĩ, những hậu quả mà nó để lại cho thị trường cũng như đối với doanh nghiệp liên quan,
người tiêu dung là nghiêm trọng vì vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải xác
định đúng đắn và chính xác các hành vi này để có biện pháp xử lý phù hợp. Để có thể giải
quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh đó, cơ quan quản lý cạnh tranh không chỉ dựa vào các
căn cứ xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh. Mà cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể,
khả năng thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh trên thực tế của các doanh nghiệp để đề phòng ,
ngăn chặn cũng như xử lý theo pháp luật cạnh tranh bởi tính tinh vi và nghiêm trọng của
thỏa thuận thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ nhằm
đảm bảo lợi ích của các bên bị ảnh hưởng do thỏa thuận này gây ra.
6. So sánh “lạm dụng giới hạn thị trường” và “thỏa thuận giới hạn thị trường”.
* Giống nhau:
- Đều là hành vi hạn chế cạnh tranh
- Chủ thể thực hiện các hành vi trên chỉ có thể là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp
trên cùng một thị trường liên quan
- Làm sai lệch, làm giảm và cản trở cạnh tranh trên thị trường
- Đều làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh
trên thị trường liên quan.
* Khác nhau:
Lạm dụng giới hạn thị trường
22

Thỏa thuận giới hạn thị trường


Chủ thể thực hiện hành vi là doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị
trường liên quan.

Diễn ra giữa các doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh của nhau và
giữa các chủ thể này có sự thống
Chủ thể
nhất cùng hành động (thỏa thuận
ngang).
Số lượng Là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một Không bị giới hạn, ít nhất là hai
chủ thể nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4).
doanh nghiệp trở lên.
tham gia
Là những hành vi được luật Cạnh tranh Có sự thống nhất cùng hành động
liệt kê. Vì vậy, một hành vi bị xem là giữa các doanh nghiệp có thể
lạm dụng khi đủ tất cả các dấu hiệu mà công khai hoặc không công khai
Luật đã quy định.
về các yếu tố cơ bản của quan hệ
thị trường mà giữa họ đang cạnh
tranh..
Là hành vi bị cấm tuyệt đối.
Một số hành vi bị cấm và một số
hành vi cấm có điều kiện.
Hành vi
Không được miễn trừ.
Có thể được miễn trừ.
Được chứng minh bằng những thiệt hại Không cần xác định chính xác đối
cụ thể mà các doanh nghiệp khác hoặc tượng cũng như mức độ thiệt hại
người tiêu dùng phải gánh chịu.
cụ thể.
7. Cho 4 ví dụ, mỗi ví dụ có 4 sản phẩm có cùng thị trường sản phẩm liên quan.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh Tranh 2004 và Điều 4 Nghị Định 116/2004 thì thị
trường sản phẩm liên quan được quy định và xác định theo các tiêu chí về khả năng thay thế
của sản phẩm như sau:
+ Đặc tính: Các yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm về các yếu tố lý hoá như:
vật lý, hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ với người sử dụng, khả năng hấp thụ.
+ Mục đích sử dụng: Sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó vào việc gì, ứng dụng của nó trong
thực tế với chủ thế sử dụng.
+ Giá cả: Việc phân tích các yếu tố thay thế về tính chất của sản phẩm không phải là
chuyện đơn giản. Một số sản phẩm có thể về mặt chủ quan có thể thay thế cho nhau nhưng
khi áp dụng theo nhiều tiêu chí, hoặc các cơ sở để phân tích khác thì chúng lại không thể
thay cho nhau một cách luật định chính xác nhất.
- Sau đây là các ví dụ về sản phẩm trên thị trường liên quan:
* Ví dụ 1: Thị trường nước giải khát có gas hương cola gồm 4 sản phẩm: Cocacola, Pepsi,
BigCola, Bidrico.
 4 sản phẩm này đều là nước giải khát có gas hương cola, có tác dụng giải khát khá giống
nhau, về hương vị về cơ bản không có sự khác biệt nhau qua nhiều khi sử dụng. Về các tính
chất hoá học, vật lý cũng khá tương đồng. Mức giá các sản phẩm giao động từ 6000đ đến
9000đ.
* Ví dụ 2: Thị trường xe tay ga phân khúc giá tầm trung ( từ 28.5 đến 40 triệu đồng)
+ Honda Airblade. Mức giá bán lẻ là: khoảng 37.2 triệu
+ Yamaha Nouvo SX STD. Mức giá bán lẻ là: khoảng 34.5 triệu
+ Suzuki Hayate SS - FI. Mức giá bán lẻ là: khoảng 21.9 triệu
+ SYM Joyride. Mức giá bán lẻ là: khoảng 28.5 triệu
23


 Cả 4 sản phẩm này đều là xe tay ga ở phân khúc thị trường giá tầm trung. Mức giá dao
động từ. Hệ thống động cơ là từ 108cc tới 134cc nhưng không có sự khác biệt quá nhiều về
vì tất cả xe tay ga dưới 175cc đều được quy định là xe dành cho nữ, mục đích sử dụng là
giống nhau. Kiểu dáng của cả 4 xe này theo phong cách thể thao.
* Ví dụ 3: Thị trường sữa đặc có đường có 4 sản phẩm: Sữa Ông Thọ của VinaMilk, Sữa
Trường Sinh, Sữa Sao Việt, Sữa Hoàn Hảo
 Cả 4 sản phẩm sữa này đều là sữa đặc, có mục đích sử dụng giống nhau, tính chất vật lý,
hoá học về cơ bản là giống nhau.Về mức giá dao động từ 13.800đ tới 17.000đ
* Ví dụ 4: Thị trường nước tương: Chinsu, Maggi, Vifon, Mekong
 Cả 4 sản phẩm nước tương về tính chất, mục đích sử dụng là giống nhau, các yếu tố vật
lý, hoá học cơ bản là giống nhau.
- Trên đó là 4 ví dụ về các sản phẩm liên quan, việc xác định các sản phẩm này đã xét tới
các yếu tố thay thế về cung, cầu khi giá thay đổi. Những sản phẩm
8. Phân tích khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng quyền lực thị trường
để áp đặt doanh nghiệp khác kí kết, mua bán hàng hóa, dịch vụ?
- Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh
tranh trên thị trường, bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế (khoản 3 Điều 3 LCT).
- Vị trí thống lĩnh thị trường: Theo Điều 11 LCT 2004, vị trí thống lĩnh trên thị trường được
xác định dựa trên thị phần hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh của một doanh nghiệp
hoặc một nhóm doanh nghiệp. Theo đó, Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị
trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn
chế cạnh tranh một cách đáng kể. Một nhóm doanh nghiệp cũng có thể được coi là có vị trí
thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong
các trường hợp sau:
+ Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan
+ Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan
+ Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
- Việc xác định doanh thu, doanh số, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan
được quy định chi tiết trong Điều 10, 11, 12 và 13 của Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
- Khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên
quan được xác định trên cơ sở xem xét các yếu tố:
+ Năng lực tài chính của doanh nghiệp
+ Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp
+ Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động
của của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp
+ Năng lực tài chính của công ty mẹ
+ Năng lực công nghệ
+ Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
+ Quy mô của mạng lưới phân phối
(Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP)
- Về hành vi lạm dụng thị trường để áp dụng doanh nghiệp khác kí kết, mua bán hàng hóa,
dịch vụ có nhiều vụ việc đã xảy ra, diễn biến khá phức tạp trên thị trường nước ta. Để phân
24


tích rõ hơn về vấn đề này, xét một ví dụ điển hình là vụ việc Megastar lợi dụng vị trí thống
lĩnh để nâng giá thuê phim được cho là vi phạm pháp luật về cạnh tranh.
- Hiện nay, các doanh nghiệp nhập phim chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: Công ty TNHH
Truyền thông Megastar (Megastar), Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy), Công ty
TNHH Bình Hạnh Đan (BHD) và Công ty TNHH Lotte Cinema Việt Nam (Lotte). Các
doanh nghiệp này sau khi nhập phim sẽ phân phối lại cho các rạp chiếu phim trên phạm vi
cả nước.
- Mỗi hãng phim nước ngoài chỉ ký hợp đồng với một hãng phát hành tại một quốc gia.
Megastar là một doanh nghiệp liên doanh giữa công ty văn hóa Phương Nam (sở hữu 10%
vốn điều lệ) và công ty Envoy Media Limited của British Virgin Island (BVI) (sở hữu 90%
vốn điều lệ) có công nghệ và vốn đầu tư, rạp lớn, giá vé cao nên có vị trí thuận lợi khi nói
chuyện với các hãng phim lớn trên thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, 4 trong số 5 hãng phim
lớn tại Hollywood đã ký hợp đồng với Megastar.
- Do có lợi thế nắm trong tay số lượng phim nhập áp đảo, Megastar quay trở lại nâng giá
thuê phim cho các rạp với lý do doanh thu cao thì chi phí thuê phim cũng phải tăng lên. Rõ
ràng là Megastar đã vi phạm hai điều cấm của Điều 13 Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường: áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn
định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng và áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp
khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ. Bất kì một doanh nghiệp nào khi kinh
doanh cũng nhằm mục đích cuối cùng là lợi nhuận cao, chiếm lĩnh vị trí độc tôn trên thị
trường, lấn át các đối thủ kinh doanh khác. Do đó, Luật cạnh tranh 2004 đã cấm các hành vi
lợi dụng này để tránh việc ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
khác cũng như tác động tiêu cực đến lợi ích của khách hàng.
- Hậu quả của hành vi nói trên là các rạp chiếu phim hiện nay, đáng kể nhất là cụm rạp
Cinebox, Tân Sơn Nhất, Galaxy và nhiều doanh nghiệp điện ảnh nhà nước như Tháng Tám,
Công ty Cổ phần Truyền thông Điện ảnh Sài Gòn… đều bị sụt giảm 25 - 50% doanh thu,
hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ từ quý 2 năm 2009 đến nay. Đối với các doanh nghiệp
nhỏ thì đây có thể là hành vi “cá lớn nuốt cá bé”, dẫn đến việc loại bỏ các doanh nghiệp này
khỏi thị trường, vì khiến cho họ không còn sức cạnh tranh, thua lỗ không thể tiếp tục kinh
doanh. Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp đối thủ, doanh nghiệp vừa cũng không kém.
- Không dừng lại ở đó, Megastar còn đưa ra nhiều điều kiện áp đặt lên các doanh nghiệp
khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
- Megastar còn tận dụng thế mạnh của phân phối độc quyền, không chỉ ép các rạp về mức
giá thuê phim mà cả về các điều kiện phát hành, đảm bảo cho phim của Megastar được
chiếu ở phòng chiếu lớn nhất, giờ chiếu tốt nhất, tần suất cao nhất có thể, các phim “bom
tấn” phải thuê kèm phim khác… Ví như, để có Transformers, Công ty Cổ phần phim Thiên
Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim hoạt hình Ice Age.
- Thông qua ví dụ về vụ việc Megastar ta thấy rõ hơn phần nào về khả năng hạn chế cạnh
tranh của hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để áp đặt doanh nghiệp khác kí kết, mua
bán hàng hóa, dịch vụ.
9. Phân tích bản chất của thủ tục thông báo về tập trung kinh tế?
- Tập trung kinh tế là hành vi làm giảm các số lượng doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên
thị trường thông qua các hành vi sáp nhập hoặc thông qua tăng cường nội sinh của doanh
nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất. Khoa học pháp lý không có định nghĩa cụ thể
nào về tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế theo điều 16
Luật Cạnh tranh.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×