Tải bản đầy đủ

Phát triển hoạt động đầu tư tại ngân hàng Công thương Việt nam

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Hoạt động đầu tư là một trong những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động
ngân hàng, việc tăng cường hoạt động đầu tư là cần thiết cho sự phát triển
ngân hàng, trong đó đầu tư là một trong những hoạt động cơ bản nhằm bảo
đảm sự phát triển và tăng cường cho kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
- Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các hoạt động tín dụng ngày càng chặt
chẽ, hoạt động đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng cường khả năng
kinh doanh của ngân hàng, trong đó vai trũ đầu tư trên thị trường là hết sức
cần thiết, thúc đẩy khả năng luân chuyển tiền tệ, tránh khả năng để các nguồn
vốn vào tỡnh trạng nhàn rỗi, tăng cường tính thanh khoản và hỗ trợ cho các
hoạt động khác tại Ngân hàng
Vỡ những lý do trên, đề tài “phát triển hoạt động đầu tư tại ngân hàng
Công thương Việt nam” đó được tác giả chọn để nghiên cứu luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư, những kết quả đạt được và
những hạn chế trong hoạt động đầu tư, nguyên nhân của những hạn chế trong
hoạt động đầu tư tại ngân hàng Công thương Việt nam.
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động đầu tư

tại ngân hàng Công thương Việt nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại

-

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động đầu tư tại Ngân hàng Công thương

Việt nam giai đoạn từ năm 2003-2006 tại phũng Đầu tư.


2
4. Phương pháp nghiờn cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biên chứng, phương pháp
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp thống kê, so sánh
phân tích tổng hợp để diễn giải mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động đầu tư , từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để tăng cường và phát
triển hoạt động đầu tư .
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư tại ngân hàng Công thương

Việt nam
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư tại ngân hàng Công

thương Việt nam


3

CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngừn hàng là loại hỡnh tổ chức tớn dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chất và các mục tiêu hoạt động, cỏc loại hỡnh Ngừn hàng gồm Ngừn hàng


thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác và các loại hỡnh ngừn hàng khỏc.
Hoạt động ngân hàng theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước là: hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận
tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán..
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liờn quan vỡ mục tiờu lợi
nhuận, gúp phần thực hiện cỏc mục tiờu kinh tế của Nhà nước.
Như vậy, về bản chất, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc
thù, tính chất đặc thù thể hiện ở chỗ đối tượng tác nghiệp là tiền tệ. Ngân
hàng thương mại không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất – kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trỡnh sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xó hội bằng cỏch
cung ứng vốn tớn dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mở
rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
1.1.2. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại
Căn cứ vào tính chất các hoạt động và vị trí tài chính của ngân hàng
thương mại trong quan hệ với khách hàng, hoạt động ngân hàng thương mại
được chia thành ba nhóm cơ bản như sau:


4
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại bao giờ cũng bắt đầu hoạt động của mỡnh bằng
việc huy động nguồn vốn. Đối tượng huy động của ngân hàng thương mại là
tất cả các nguồn tiền nhàn rỗi trong các doanh nghiệp, các tổ chức Chính phủ
và dân cư với bất kỳ hỡnh thức, quy mụ và thời hạn nào. Bổ sung thờm cho
nguồn vốn huy động, các ngân hàng thương mại có thể đi vay của ngân hàng
Trung Ương và từ cỏc ngõn hàng khỏc bằng nhiều hỡnh thức.
Bên cạnh đó vốn chủ sở hữu cũng là một bộ phận quan trọng trong
nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Nguồn vốn này tuy chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động song quy mô vốn chủ sở hữu lại quyết
định khả năng huy động vốn và uy tín NHTM tiến hành huy động nguồn vốn
bằng các cách sau:
- Cung cấp các tài khoản giao dịch cho khách hàng. Với tư cách là trung
gian tài chính, NHTM thu hút một số lượng lớn các tổ chức, cá nhân mở tài
khoản tại ngân hàng. Ngân hàng trở thành người thủ quỹ cho khỏch hàng,
thực hiện thu chi theo lệnh của chủ tài khoản. Khi nền kinh tế phỏt triển thỡ
càng cú nhiều khỏch hàng mở tài khoản ở ngừn hàng, ngừn hàng cỳ cơ hội để
huy động nguồn vốn này và mở rộng các hoạt động kinh doanh của mỡnh.
- Nhận tiền gửi của khách hàng. Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng
bằng hai phương thức chính là tiền gửi tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi. Nguồn
vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM. Tiền
gửi tiết kiệm có loại không kỳ hạn và loại có kỳ hạn. Tài khoản này nhằm
mục đích chính là huy động nguồn tiền tiết kiệm của các chủ thể trong xó hội.
Chứng chỉ tiền gửi cũng cú nhiều kỳ hạn, cú thể đến hơn 5 năm. Về thực
chất, chứng chỉ tiền gửi được coi như những công cụ vay nợ của NHTM (như
kỳ phiếu, trái phiếu...) và là một nguồn vốn quan trọng của NHTM, nó có thể
được phát hành trên thị trường tài chính.


5
- Đi vay vốn. Ngoài nguồn vốn huy động trên, các NHTM cũn cú thể đi
vay vốn trên thị trường liên ngân hàng, vay các định chế tài chính hoặc vay
Ngân hàng Trung ương.
- Tăng vốn tự có. Vốn tự có của một NHTM đóng vai trũ rất quan trọng
trong việc duy trỡ cỏc hoạt động hàng ngày và bảo đảm ngân hàng đó phát
triển lâu dài. Quy mô vốn tự có quyết định quy mô huy động vốn, đi vay, quy
mô tài sản và một số hoạt động khác của ngân hàng. Vấn đề đáng lưu tâm của
các NHTM là thường xuyên phải duy trỡ được lượng vốn tự có ở mức hợp lý.
Để tăng vốn tự có, NHTM có thể phát hành cổ phiếu, phát hành công cụ nợ
dài hạn có khả năng chuyển đổi và nâng cao năng lực tự tích lũy từ lợi nhuận
của ngừn hàng. n của một ngừn hàng trờn thương trường.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn đầu tiên và chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân
hàng thương mại là cho vay. Các sản phẩm cho vay có thể phân chia theo
nhiều tiêu thức khác nhau như thời gian, đối tượng vay vốn, tính chất sử dụng,
vv...Thu nhập từ hoạt động cho vay cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất và phụ thuộc
vào khả năng hoàn trả cả gốc và lói đúng hạn của khỏch hàng.
So với hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
có quy mô và tỷ trọng nhỏ hơn, song cũng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt
thu nhập và tạo điều kiện cho các ngân hàng thâm nhập sâu rộng vào nền kinh
tế, đồng thời góp phần làm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh ngừn hàng.
Cách sử dụng vốn khác của ngân hàng thương mại bao gồm mua sắm tài
sản cố định, thực hiện các hoạt động tài trợ, quảng cáo, v.v...thường chiếm tỷ
trọng nhỏ và không ngay lập tức mang lại lợi nhuận cho ngân hàng song lại
góp phần quan trọng vào việc phát triển và quảng bá hoạt động ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn cho nền kinh tế của NHTM có thể được chia
thành 2 mảng chủ yếu sau:


6
- Cấp tín dụng: đây là giao dịch về tài sản (bằng tài sản hoặc bằng tiền)
giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là các doanh nghiệp, hộ gia đỡnh
và cỏc chủ thể khác, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vốn gốc và lói cho bờn cho vay khi đến hạn thanh toán. Cấp
tín dụng là hoạt động kinh doanh tạo ra thu nhập lớn của NHTM. Có thể phân
loại hoạt động cấp tín dụng theo các tiêu thức khác nhau như thời gian cho
vay, đối tượng vay vốn, mục đích vay vốn, tính chất bảo đảm khoản vay...
- Đầu tư: Bao gồm đầu tư dưới những hỡnh thức khỏc nhau như chứng
khoán, hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, góp vốn liên doanh mua cổ
phần trong đó đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh quan trọng của
NHTM, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho ngân hàng. Các NHTM đầu tư
chứng khoán bằng cách mua các loại giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ,
công trái, trái phiếu chính quyền địa phương, tín phiếu kho bạc, trái phiếu
doanh nghiệp và các loại chứng khoán khác.
1.1.2.3. Hoạt động trung gian
Song song với các hoạt động huy động và cho vay nói trên, ngân hàng
thương mại cũn thực hiện hoạt động trung gian. Hoạt động trung gian bao
gồm: hoạt động trung gian thanh toán, hoạt động chuyển tiền, ủy thỏc, tớn
thỏc, v.v...
Hoạt động của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào cũng bao gồm ba
nghiệp vụ cơ bản như trên, song đến đầu thế kỷ thứ 19, với sự phát triển của
phân công lao động xó hội trong ngành ngừn hàng, cỏc ngừn hàng thương
mại đó được chuyên môn hóa vào các lĩnh vực hoạt động khác nhau và trở
thành những ngân hàng chuyên doanh. Có những ngân hàng chuyên huy động
và cho vay ngắn hạn, trong khi một số ngân hàng khác lại chuyên về hoạt
động đầu tư trung và dài hạn, v.v...Sự chuyên môn hóa này giúp cho các ngân


7
hàng thương mại có thể thâm nhập một cách sâu sắc vào sự phát triển từng
lĩnh vực chuyên biệt của nền kinh tế - xó hội. Quỏ trỡnh chuyờn mụn húa núi
trờn của hệ thống cỏc ngừn hàng thương mại cũng chính là tiền đề cho giai
đoạn phát triển tiếp theo - giai đoạn phát triển tổng hợp. Từ đầu thế kỷ thứ 20
đến nay, các NHTM chuyên môn hóa truyền thống đó trở thành những NHTM
đa năng hiện đại. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa năng chủ đạo dựa
trên những thế mạnh đó được chuyên môn hóa, kết hợp với tất cả các hoạt
động ngân hàng thương mại khác theo yêu cầu của từng nhóm khách hàng, và
trải rộng trên cả ba nghiệp vụ huy động nguồn vốn, sử dụng vốn và hoạt động
tài chính trung gian.
Trong hoạt động sử dụng vốn, cho vay vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng có
sự thay đổi các đối tượng và cơ cấu cho vay. Nếu như các ngân hàng thương
mại cổ điển tập trung chủ yếu cho vay các doanh nghiệp để phục vụ cho mục
đích sản xuất kinh doanh thỡ cỏc ngừn hàng hiện đại quan tâm đến việc cho
vay tất cả các đối tượng khách hàng kể cả cá nhân và cho vay lẫn nhau. Ngân
hàng có thể cho các cá nhân vay tiền để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hiện
tại. Các hoạt động này đó đánh dấu một bước phát triển mới trong sử dụng
vốn của ngân hàng, thực hiện đa dạng hoá các hỡnh thức cho vay. Quan trọng
hơn nữa, các hoạt động sử dụng vốn đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh ngoại hối, kinh doanh bất động sản, v.v…cũng rất được chú trọng và
ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong danh mục Tài sản của các NHTM.
Tương ứng, thu nhập mang lại từ các hoạt động này ngày càng chiếm tỷ trọng
cao trong tổng thu nhập của các ngân hàng hiện đại.
Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc
chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores).


8
Tổng quát chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay là:


9
Sơ đồ 1.1. Chức năng cơ bản của ngân hàng hiện đại
Chức năng
ủy thỏc

Chức năng
tớn dụng

Chức năng
bảo hiểm

Chức năng
mụi giới
Chức năng
NH đầu tư
và bảo lỳnh

Ngừn hàng hiện đại

Chức năng quản lý tiền mặt

Chức năng lập
KH đầu tư

Chức năng
thanh toỏn
Chức năng
tiết kiệm

(Nguồn: Peter S.Rose, Quản trị ngừn hàng thương mại, NXB Tài chớnh,
HN 2004)
Trờn bỡnh diện chung nhất, cỳ thể nờu lờn danh mục cỏc hoạt động
nghiệp vụ chủ yếu của NHTM bao gồm: Huy động tiền gửi của khách hàng,
cấp tín dụng cho khách hàng bằng tiền hay dưới dạng chấp nhận hối phiếu,
chiết khấu hối phiếu và séc, cam kết mua lại các khoản tín dụng chưa đến hạn,
nhận bảo đảm và bảo lónh cho khỏch hàng, thực hiện thanh toỏn bự trừ và
thanh toỏn khụng dựng tiền mặt, thu nhận, giữ hộ tài sản và cỏc giấy tờ cỳ
giỏ.
1.2. Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khỏi niệm
Đầu tư là hoạt động kinh doanh quan trọng của NHTM, mang lại
nguồn thu nhập ổn định cho ngân hàng. Các NHTM đầu tư bằng cách mua
các loại giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, công trái, trái phiếu chính
quyền địa phương, tín phiếu kho bạc, trái phiếu doanh nghiệp và các loại
chứng khoán khác; đầu tư trên thị trường liên ngân hàng, góp vốn liên


10
doanh mua cổ phần….
Hoạt động đầu tư bỏ vốn thường xuyên, lâu dài hoặc là trong ngắn hạn
vào các danh mục đầu tư có mức độ rủi ro khác nhau để mong kiếm được
thu nhập từ quyền sở hữu các khoản đầu tư đó.
Cỏc hỡnh thức đầu tư bao gồm: Giao dịch trên thị trường liên ngân hàng,
đầu tư kinh doanh giấy tờ có giá, góp vốn liên doanh cổ phần…
1.2.2. N ội dung hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại
Hoạt động đầu tư bỏ vốn thường xuyên, lâu dài hoặc là trong ngắn hạn
vào các danh mục đầu tư có mức độ rủi ro khác nhau để mong kiếm được
thu nhập từ quyền sở hữu các khoản đầu tư đó . Trong đó, hoạt động đầu tư
thường gồm những bước sau:
Thiết lập mục tiêu đầu tư: Đây là bước đầu tiên và cũng là bước có ý
nghĩa quyết định đến các khâu tiếp theo. Thông thường, mục tiêu đầu tư bao
gồm: Mức sinh lời kỳ vọng trong một thời kỳ nhất định; Mức rủi ro tối đa có
thể chấp nhận được; Thời gian đầu tư làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả của
hoạt động đầu tư.
Như vậy, 2 khía cạnh quan trọng nhất của mục tiêu đầu tư là lợi nhuận và rủi ro.
Thiết lập chiến lược đầu tư: Việc thiết lập chiến lược đầu tư nhằm đáp
ứng cao nhất những mục tiêu đầu tư đó đặt ra. Để làm được điều này nhà
quản lý danh mục đầu tư phải tỡm hiểu kỹ cỏc điều kiện kinh tế, tài chính
hiện tại và dự báo được những xu thế sẽ diễn ra trong tương lai, từ đó kết hợp
những dự báo về thị trường với nhu cầu đầu tư để lập ra chiến lược thích hợp.
Thông thường các nhà quản lý danh mục đầu tư sẽ lựa chọn giữa chiến lược
quản lý danh mục chủ động và chiến lược quản lý danh mục thụ động hoặc là
kết hợp giữa các chiến lược này.
Xừy dựng danh mục: Căn cứ vào lược đầu tư đó được thiết lập, người


11
quản lý danh mục sẽ cụ thể hoỏ chiến lược đó, đưa ra quyết định về việc phân
bổ cho các danh mục khác nhau, theo đó sẽ đưa ra quyết định cụ thể là sẽ đầu
tư vào lĩnh vực nào , tỷ trọng của mỗi loại trong danh mục đầu tư.
Giỏm sát, đo lường và đánh giá kết quả hoạt động đầu tư: Nhà quản lý
danh mục đầu tư cần liên tục theo dừi những biến động của thị trường để có
những điều chỉnh kịp thời và thích hợp về chiến lược đầu tư, mà cụ thể hơn là
bản thân danh mục đầu tư. Việc đánh giá kết quả của danh mục đầu tư thường
được đánh giá trên 2 khía cạnh: Người quản lý và bản thừn danh mục. Người
quản lý danh mục tốt đáp ứng được hai yêu cầu: có khả năng kiếm được mức
lợi nhuận cao hơn trung bỡnh ứng với một loại rủi ro nhất định; có khả năng
đa dạng hoá danh mục hoàn toàn để loại bỏ tất cả các rủi ro không hệ thống so
với chuẩn của danh mục. Kết quả của danh mục đầu tư hay mức sinh lời tổng
thể của danh mục thường được đem so sánh với kết quả của một danh mục
đầu tư chuẩn.
1.3. Cỏc nhừn tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của NHTM
1.3.1. Nhừn tố chủ quan
1.3.1.1.Quy trỡnh nghiệp vụ
Quy trỡnh quản lý DMĐT là các bước thực hiện trong quá trỡnh quản lý
của NHTM. Một quy trỡnh được xây dựng khoa học, phù hợp với điều kiện
cụ thể của mỗi ngân hàng sẽ là cơ sở để triển khai các nội dung quản lý một
cách khoa học, có căn cứ lý luận và thực tiễn. Ngược lại việc quản lý DMĐT
được thực hiện mà không có quy trỡnh cụ thể hoặc quy trỡnh chưa hoàn thiện,
cũn nhiều bất cập sẽ gặp nhiều khú khăn trong quá trỡnh quản lý, chất lượng
và hiệu quả quản lý không được đảm bảo, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Sự quan từm của lúnh đạo NHTM ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư
chứng khoỏn của cỏc NHTM. Bởi vỡ trước hết sự quan tâm của lónh đạo


12
Ngân hàng chớnh là cơ sở cho các định hướng lớn theo đú cỏc chương trỡnh
hành động, cỏc biện phỏp thực hiện đều nhằm hướng tới mục tiờu chiến lược,
nú gần như là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của NHTM. Nếu NHTM chỳ
trọng và quan từm đến việc phỏt triển hỡnh thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư nào thỡ
lĩnh vực ấy sẽ phỏt triển. Nếu NHTM quan từm đẩy mạnh việc mua cổ phần của
cỏc TCTD hơn là mua cổ phần của cỏc doanh nghiệp khỏc thỡ tất yếu trong
danh mục đầu tư của NHTM, tỷ trọng vốn đầu tư vào cỏc TCTD sẽ lớn hơn tỷ
trọng vốn đầu tư vào cỏc doanh nghiệp. Nếu NHTM đạt mục tiờu sinh lời lờn
trờn cỏc mục tiờu khỏc thỡ tất yếu danh mục đầu tư chứng khoỏn của NHTM sẽ
là danh mục đem lại mức sinh lời lớn và cỏc mục tiờu khỏc bị coi nhẹ.
Lónh đạo Ngân hàng có quan điểm ủng hộ cho việc phát triển hoạt động
đầu tư chứng khoán sẽ có những đầu tư đúng mức về nhân lực, cơ sở vật chất
kỹ thuật, hệ thống thông tin, cơ chế chính sách góp phần cho sự phát triển của
hoạt động đầu tư chứng khoỏn.
1.3.1.2.Cụng tỏc tổ chức
Các NHTM được tổ chức hoạt động theo các mụ hỡnh khỏc nhau: mụ
hỡnh đa năng và mô hỡnh chuyờn doanh. Trong mụ hỡnh đa năng bao gồm đa
năng toàn phần và mô hỡnh đa năng một phần.
- Mụ hỡnh đa năng toàn phần : Đây chính là mô hỡnh phổ biến ở cỏc
nước Châu Âu. Theo mô hỡnh này cỏc ngừn hàng đa năng được thực hiện
đồng thời tất cả các nghiệp vụ như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền
tệ, các dịch vụ bảo hiểm và tài chính khác. Các ngân hàng thương mại hoạt
động với tư cách vừa là chủ thể kinh doanh chứng khoán, vừa là chủ thể kinh
doanh bảo hiểm và vừa là chủ thể kinh doanh tiền tệ.


13
Sơ đồ 1.2: Mô hỡnh đa năng toàn phần
NGÂN HÀNG

TIỀN TỆ

CHỨNG KHOÁN

BẢO HIỂM

- Mụ hỡnh đa năng một phần: Trong mô hỡnh này cỏc tổ chức kinh
doanh dịch vụ tài chớnh ngừn hàng được hỡnh thành dưới hỡnh thức cỏc tập
đoàn với các công ty con kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ (ngân hàng thương
mại), trong lĩnh vực chứng khoán (công ty chứng khoán) và các công ty bảo
hiểm, công ty quản lý tài sản...
Sơ đồ 1.3: Mô hỡnh đa năng một phần
TẬP ĐOÀN
(HOLDING
COMPANY)

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CễNG TY QUẢN Lớ QUỸ

CễNG TY CHỨNG KHOÁN

CễNG TY BẢO HIỂM

- Mụ hỡnh chuyờn doanh: Đây là loại hỡnh NHTM chỉ thực hiện một hoặc
một số nghiệp vụ nhất định. Ví dụ như ngân hàng đầu tư, ngân hàng bất động
sản...
Hiện nay, ở Việt Nam các NHTM VN thực hiện theo mụ hỡnh đa năng
một phần, các NHTM không được trực tiếp kinh doanh chứng khoán. Để thực


14
hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán hay bảo hiểm, cho thuê tài chính...
các NHTM phải thành lập các Công ty dưới hỡnh thức là TNHH 1 thành
viờn, cụng ty cổ phần, cụng ty liờn doanh.

Tuỳ thuộc vào mụ hỡnh tổ chức

của NHTM mà hoạt động đầu tư chứng khoán được tổ chức khác nhau, hoặc
là trực tiếp hoặc là gián tiếp. Hoạt động đầu tư trực tiếp được thực hiện thông
qua việc thành lập các tổ chức đầu tư chuyên biệt như: Phũng Đầu tư . Đầu tư
gián tiếp thực hiện thông qua uỷ thác đầu tư qua các tổ chức đầu tư khác:
Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoỏn
Mụ hỡnh tổ chức của Ngừn hàng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tập
trung hoá, chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Nếu hoạt động
đầu tư chứng khoán là chức năng nhiệm vụ của nhiều phũng, ban hoặc chỉ là
một trong nhiều nhiệm vụ của một phũng ban nào đó sẽ rất khó có được hiệu
quả cao nhất trong đầu tư, hơn nữa nếu các chi nhánh của ngân hàng đều
được quyền thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán sẽ dẫn đến việc rất khó
quản lý, tập trung thành đầu mối, các khoản đầu tư sẽ trở nên vụn vặt và có
quy mụ nhỏ... đặc biệt trong những trường hợp trên hoạt động đầu tư sẽ
không được chuyên môn hoá, đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động đầu tư bị
chi phối bởi nhiều hoạt động khác...
Các NHTM trong xu hướng phát triển thành tập đoàn tài chính thỡ sẽ
chỳ trọng hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát và tỷ trọng của loại đầu tư
này sẽ cao hơn so với các NHTM khác
1.3.1.3. Con người và công nghệ
Thực tế đó chứng minh trong bất kỳ cụng việc nào từ nhỏ đến lớn, từ
đơn giản đến phức tạp thỡ con người là yếu tố quyết định sự thành công. Đối
với quản lý DMĐT của NHTM, chất lượng của đội ngũ nguồn nhân lực là yếu
tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý DMĐT.
Đừy luụn là yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động đầu tư, mặc


15
dự đến nay, trong cỏc NHTM thỡ cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy
đủ và hiện đại, song để sử dụng một cỏch cú hiệu quả cỏc trang thiết bị này
vẫn phải cú một đội ngũ cỏn bộ cú năng lực trong thẩm định, dự đoỏn xu
hướng thị trường và cú năng lực xừy dựng, quản lý một danh mục đầu tư tốt.
Nếu như cán bộ tác nghiệp là người trực tiếp thực hiện các công việc cụ
thể liên quan đến hoạt động đầu tư thỡ cỏn bộ quản lý là người sắp xếp phân
bổ cán bộ tác nghiệp vào những công việc cụ thể, phù hợp; là người bao quát,
định hướng toàn bộ hoạt động đầu tư.
Cũng như các hoạt động nghiệp vụ khác, hoạt động đầu tư đũi hỏi một
đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, không những thế để
phát huy sức mạnh và sự sáng tạo của đội ngũ này cũng đũi hỏi một chớnh
sỏch đào tạo thường xuyên, liên tục kèm theo chính sách đói ngộ hợp lý.
Cơ sở vật chất kỹ thuật đúng vai trũ rất quan trọng, nú trợ giỳp cho cỏc
NHTM trong quỏ trỡnh thẩm định, quyết định, thực hiện hoạt động đầu tư.
Bờn cạnh đú, cơ sở vật chất kỹ thuật tiờn tiến hiện đại giỳp cỏc NHTM tổ
chức quản lý, giỏm sỏt hoạt động đầu tư một cỏch cú hiệu quả, cho phộp cỏc
NHTM đầu tư vào rất nhiều loại danh mục khác nhau như: cổ phiếu, trái
phiếu với các thời hạn khác nhau, phương thức trả lói khỏc nhau, lói suất
khỏc nhau, từ đú theo dừi và quản lý được hiệu quả của việc đầu tư, thời gian
đáo hạn của các trái phiếu, tín phiếu..., liên doanh góp vốn mua cổ phần, trên
thị trường liên ngân hàng…
1.3.1.4 Sự phát triển các hoạt động khác của Ngân hàng
Mức độ phát triển của các hoạt động khác của Ngân hàng một mặt tạo
sự hỗ trợ cho hoạt động đầu tư , một mặt tạo sức ép phát triển hoạt động
đầu tư , tuy nhiên có hoạt động tạo cơ hội cho đầu tư chứng khoán n ói ri
êng n và hoạt động tín dụng của Ngân hàng phát triển sẽ hỗ trợ rất nhiều


16
cho hoạt động đầu tư, đặc biệt trong việc đầu tư vào cổ phiếu của các
doanh nghiệp, trong một số trường hợp tạo cơ hội cho hoạt động đầu tư,
bởi vỡ trờn cơ sở quan hệ tín dụng sẵn có giữa Ngân hàng và doanh nghiệp,
doanh nghiệp sẽ mời Ngân hàng mua cổ phiếu khi doanh nghiệp cổ phần
hoá, tăng vốn điều lệ với tư cách là cổ đông chiến lược, cổ đông
lớn...Trong những thời điểm hoạt động tín dụng tăng trưởng chậm trong khi
nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt sẽ tạo sức ép cho việc tăng trưởng
hoạt động đầu chứng khoán nhằm tận dụng nguồn vốn dư thừa mà tín dụng
không thể đầu tư cho các doanh nghiệp.
1.3.2. Nhừn tố khỏch quan
1.3.2.1. Nhừn tố phỏp lý
Nền kinh tế có sự tăng trưởng và phát triển ổn định, hệ thống luật pháp,
cơ chế, chính sách được hoàn thiện, không có tỡnh trạng thiếu đồng bộ và
không ổn định trong các quy định pháp lý là mụi trường thuận lợi cho các chủ
thể trong nền kinh tế tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, điều đó lại
càng có ý nghĩa đối với hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, là lĩnh vực
kinh doanh cú mức độ nhảy cảm cao khi yếu tố môi trường kinh tế, pháp lý
thay đổi. Như vậy, môi trường kinh tế, pháp lý là yếu tố vĩ mụ cỳ tỏc động
đến hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động quản lý DMĐT nói riờng
của NHTM. Cỏc chớnh sỏch và chiến thuật quản lý được xây dựng trước hết
phải tính đến nhân tố này và thường xuyên đánh giá lại để điều chỉnh kịp thời
một khi có sự tác động của chúng.
Ngoài những nhân tố cơ bản được trỡnh bày ở trờn, cũn cú những nhừn
tố khỏc ảnh hưởng đến quản lý DMĐT của NHTM, cụ thể như: sự phát triển
của thị trường tài chính; sự phát triển của hệ thống thông tin; mức độ cạnh
tranh trong hoạt động kinh doanh giữa các NHTM với nhau, giữa NHTM với
các tổ chức kinh doanh trái phiếu khác; sự quan tâm của Chính phủ và bộ


17
ngành liên quan đối với sự phát triển của thị trường .
Những nhân tố trên tác động đến quản lý DMĐT theo nhiều hướng với
mức độ khác nhau. Vấn đề là ở chỗ các nhà quản lý DMĐT phải nắm vững
và phát huy tốt tác động tích cực, hạn chế tác động ngược chiều để đạt hiệu
quả tối đa trong kinh doanh trái phiếu.
Để hoạt động đầu tư cú thể phỏt triển, đũi hỏi phải cú một hệ thống văn
bản quy phạm phỏp luật điều chỉnh cỏc quan hệ phỏt sinh trong hoạt động đầu
tư . Khung phỏp lý phải đảm bảo tớnh đồng bộ, thống nhất, tạo được cỏc cơ
sở phỏp lý cơ bản cho hoạt động đầu tư chứng khoỏn. Đồng thời cỏc quy định
phải liờn tục được hoàn thiện nhằm đỏp ứng thực tiễn của hoạt động đầu tư
chứng khoỏn.
Trờn cơ sở khung phỏp lý, cỏc nhà đầu tư biết và nắm rừ mỡnh được
phộp và khụng được phộp làm gỡ và cỏc chế tài được ỏp dụng khi cỏc nhà
đầu tư vi phạm quy định, đồng thời vẫn phải đảm bảo được sự cụng bằng và
khuyến khớch cỏc chủ thể tham gia hoạt động đầu tư chứng khoỏn.
Hoạt động đầu tư của NHTM bị chi phối bởi các quy định của Luật các
tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư... và
các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của
Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Uỷ Ban chứng khoán…do vậy một môi
trường pháp lý hoàn thiện, thụng thoỏng, minh bạch sẽ thỳc đẩy sự phát
triển của hoạt động đầu tư và ngược lại sẽ kỡm hóm sự phỏt triển của hoạt
động đầu tư .
1.3.2.2 Định chế tài chính
Chớnh sỏch quản lý thắt chặt hay mở rộng cũng ảnh hưởng tới hoạt động
đầu tư . Với mô hỡnh kinh doanh chứng khoỏn như hiện nay, đặc biệt thời
gian qua cùng với hàng loạt các quy định hạn chế về việc đầu tư kinh doanh


18
chứng khoán của Ngân hàng Nhà nước, ví dụ như quy định hạn chế việc các
NHTM cho vay các công ty chứng khoán mà mỡnh nắm quyền kiểm soỏt đầu
tư chứng khoán, trong khi đó NHTM không thể thực hiện được hoạt động tạo
lập thị trường do quy định của pháp luật hiện hành, hạn chế rất nhiều hoạt
động đầu tư chứng khoán của NHTM. Chính phủ có Nghị định số
141/2006/NĐ-CP quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu của các NHTM trong
lộ trỡnh đến năm 2010, tuy nhiên đứng trước tỡnh hỡnh tăng trưởng của thị
trường chứng khoán trong thời gian qua thỡ NHNN lại cú chủ trương xem xét
cẩn trọng nhu cầu tăng vốn của các NHTM.


19

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA
NGÂN HÀNG CễNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Công thương VN
2.1.1 Khỏi quỏt về Ngân hàng Công thương Việt Nam
Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển
NHCT VN được thành lập từ năm 1988, trên cơ sở tách ra từ NHNN
VN, theo Quyết định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng về việc đổi mới tổ chức và hoạt động ngân hàng theo mô hỡnh 2 cấp
và thành lập cỏc Ngừn hàng chuyờn doanh: NHNN làm chức năng quản lý
nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; Ngân hàng chuyên doanh trực tiếp
kinh doanh itền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Đây là bước ngoặt quan
trọng, mang tính đột phá trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nói chung và hệ
thống ngõn hàng VN núi riờng.
Trong chặng đường phát triển NHCT VN, từ buổi ban đầu mới ra đời
với xuất phát phát điểm rất thấp trên mọi phương diện, từ vốn liếng, cơ sở vật
chất, mạng lưới tổ chức và cán bộ, nhân viên hầu hết được đào tạo và trưởng
thành trong cơ chế cũ chuyển sang..., song NHCT VN đó vượt qua nhiều khó
khăn, thử thách đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp phần
tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước; không
ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị thế là một trong những NHTM
hàng đầu ở VN, có bước phát triển và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều
thành tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh - dịch vụ ngân hàng, phát
triển đồng đều cả kinh doanh đối nội và kinh doanh đối ngoại, công nghệ
ngân hàng tiên tiến, có uy tín với khách hàng trong và ngoài nước.


20
Để có tầm vóc NHCT VN như ngày hôm nay là cả một chặng đường
gian nan vất vả mà bao thế hệ cán bộ đó và đang công tác trong hệ thống
NHCT VN cùng nhau góp sức làm nên những thành tích đáng tự hào.
NHCTVN đó gúp phần đắc lực trong việc thực thi hiệu quả chính sách
tiền tệ quốc gia, thúc đẩy nền kinh tế VN tăng trưởng trong thũi kỳ đổi mới,
thực hiện Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, nâng cao năng lực sản
xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quá trỡnh
hỡnh thành và phỏt triển của NHCT VN trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (tháng 7/1988-1990)
NHCT VN được thành lập trên cơ sở tách ra từ một bộ phận của NHNN.
Bộ máy của NHCT TW chủ yếu gồm 2 Vụ là Vụ tín dụng công nghiệp và Vụ
tín dụng thương nghiệp, các chi nhánh được thành lập trên cơ sở Phũng tớn
dụng cụng nghiệp – NHNN tỉnh, thành phố và một số chi nhỏnh NHNN
quận, huyện, thị xó nơi có kinh tế công thương nghiệp, dịch vụ phỏt triển.
NHCT TW làm cụng tỏc quản lý đầu mối, các chi nhánh trực tiếp hạch toán
kinh doanh, quan hệ vay vốn và thanh toỏn qua cỏc chi nhỏnh NHNN tỉnh,
thành phố. Đây là giai đoạn bắt đầu triển khai mô hỡnh mới nờn hệ thống văn
bản pháp lý về cơ chế kinh doanh chưa đầu đủ và thiếu nhất quán, cơ sở vật
chất kỹ thuật kém, đội ngũ cán bộ chưa kịp đào tạo lại, hoạt động kinh doanh
thuần tuý là tớn dụng bằng đồng Việt nam.
- Giai đoạn 2 ( 1991-1996):
Thỏng 10/1990 Phỏp lệnh NHNN và Phỏp lệnh Ngừn hàng, hợp tỏc xú
tớn dụng và cụng ty tài chớnh cỳ hiệu lực thi hành đánh dấu bước phân định
rừ chức năng của NHNN và Ngân hàng kinh doanh. Ngày 14/11/1990 Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng đó ký Quyết định 402/QĐ thành lập lại NHCT VN,
khẳng định NHCTVN là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có các


21
thành viên là các chi nhánh hạch toán phụ thuộc. Công tác quản trị và điều
hành được đổi mới, thực hiện vai trũ quản lý, điều hành tập trung của Hội sở
chính về vốn kinh doanh, về tài chính và các cơ chế chính sách..., đồng thời
phát huy lợi thế và vai trũ chủ động của chi nhánh trong khuôn khổ phân cấp,
uỷ quyền của Ban lónh đạo. Chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất trong
giai đoạn này đối với hoạt động ngân hàng là thực hiện cơ chế lói suất dương.
- Giai đoạn 3 ( 9/1996 đến nay)
NHCT VN được tổ chức lại theo mô hỡnh Tổng Cụng ty Nhà nước theo
Quyết định 285/QĐ-NH5 ngày 21/09/1996 của Thống đốc NHNN. Tháng
10/1998 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành. về cơ bản mô hỡnh tổ
chức và quản trị điều hành của NHCT VN không thay đổi.
Từ năm 2001, NHCTVN tiếp tục đổi mới toàn diện hoạt động kinh
doanh, tổ chức quản lý, quy trỡnh nghiệp vụ, hiện đại hoá ngân hàng, phát
triển sản phẩm dịch vụ theo đề án cơ cấu lại NHCT VN được Chính phủ phê
duyệt, nhằm chuẩn bị cho tiến trỡnh hội nhập trong khu vực và quốc tế.
Hiện nay, NHCT VN đang tiến hành các công việc và thủ tục cấn thiết để
cổ phần hoá NHCT VN, tăng cường năng lực tài chính để đáp ứng yêu cầu
hội nhập và phát triển.
Cơ cấu, tổ chức và mạng lưới
Hệ thống mạng lưới của NHCT VN gồm Trụ sở chớnh, 02 văn phũng đại
diện, 02 Sở giao dịch lớn (tại Hà Nội và TP HCM), 140 Chi nhỏnh cấp 1 và
cấp 2, 150 Phũng giao dịch, 425 điểm giao dịch và Quỹ tiết kiệm, 336 mỏy
rỳt tiền tự động, Trung từm cụng nghệ thụng tin và Trường Đào tạo và phát
triển nhân lực. Tuy nhiên cho đến nay, NHCT VN đó hoàn thành việc nừng
cấp tấtcả cỏc chi nhỏnh cấp 2 trực thuộc chi nhỏnh cấp 1 thành chi nhỏnh cấp


22
1.
NHCT VN cũng là chủ sở hữu của 03 Cụng ty con : Cụng ty Cho thuờ
tài chớnh NHCT, Cụng ty Chứng khoỏn NHCT, Cụng ty Quản lý nợ và
khai thỏc tài sản NHCT. Ngoài ra, NHCT VN cũn là cổ đụng sỏng lập và là
cổ đụng lớn trong cỏc liờn doanh : Ngừn hàng INDOVINA, Cụng ty Cho
thuờ tài chớnh quốc tế, Cụng ty liờn doanh Bảo hiểm Chừu Á-NHCT,
NHTM CP Sài Gũn Cụng thương, Cụng ty Cổ phần chuyển mạch tài chớnh
quốc gia Việt Nam.
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương 31/12/2006

2.1.2. Hoạt động kinh doanh tại NHCT VN
Trong những năm qua NHCT VN đó đạt được những kết quả đỏng
khớch lệ trong hoạt động kinh doanh, điều này thể hiện ở sự tăng trưởng của
một loạt cỏc chỉ tiờu như quy mụ tổng tài sản, dư nợ cho vay nền kinh tế, dư
đầu tư chứng khoỏn, tổng vốn huy động, vốn chủ sở hữu. Chi tiết như sau :


23

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT VN
Đơn vị: triệu đồng
STTChỉ tiờu
1
2
3

31/12/2003

Tổng tài sản
Dư nợ cho vay
nền
kinh tế
Dư đầu tư
chứng khoỏn

31/12/2004

31/12/2005

31/12/2006

80 887 100

93 270 804

116373 386 137089 698

51 778 532

64 159 522

75 885 674

79 276 813

7 920 500

10 230 410

12 522 039

15 139 069

100571 938 103524 307

4

Vốn huy động

71 146 192

81 596 865

5

Vốn chủ sở hữu

4 154 083

4 908 773

5 071 631

5 604 626

6

Lợi nhuận sau thuế

205 186

206 869

403 177

573 713

(Nguồn: Bỏo cỏo tổng kết NHCT VN)
Tổng tài sản đến cuối năm 2006 đạt 137.089 tỷ đồng, tăng 17,8% so với
đầu năm, đạt mức cao nhất từ năm 2003 đến nay.
Dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 79.276 tỷ đồng tại cuối năm 2006, tăng
4,47% so với đầu năm. Năm 2006 là năm NHCT VN có tốc độ tăng trưởng tín
dụng thấp.
Dư đầu tư chứng khoán đạt 15.139 tỷ đồng vào 31/12/2006, tăng 26,57%
so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 11,04% trờn tổng tài sản.
Vốn huy động đến 31/12/2006 đạt 103.524 tỷ đồng, tăng 2,94% so với
đầu năm.
Vốn chủ sở hữu đạt 5.604 tỷ đồng vào cuối năm 2006, tăng 10,51% so
với đầu năm.


24
Lợi nhuận sau thuế năm 2006 đạt 573,7 tỷ đồng, tăng 42,3% so với năm 2005.
Cho vay và đầu tư
Tại thời điểm 31/12/2006, tổng dư nợ cho vay (dư nợ cho vay nền kinh
tế - là cỏc khoản cấp tớn dụng cho doanh nghiệp) và đầu tư (đầu tư ở đừy bao
gồm cỏc khoản cho vay/gửi vốn tại cỏc định chế tài chớnh và cỏc khoản đầu
tư chứng khoỏn) đạt 125.089 tỷ đồng, tăng 21.684 tỷ đồng so với năm 2005,
tốc độ tăng 21% và chiếm tỷ trọng 92,4% tổng tài sản, trong đú: dư nợ cho
vay nền kinh tế đạt 80.152 tỷ đồng, tốc độ tăng 7,4%, chiếm 12% thị phần
toàn ngành ngừn hàng; dư nợ đầu tư kinh doanh đạt 44.937 tỷ đồng, tốc độ
tăng 56%, chiếm tỷ trọng 36% tổng dư nợ cho vay và đầu tư.
Nhỡn chung, hoạt động cho vay và đầu tư của NHCT đó và đang thực
hiện theo mục tiờu chiến lược đề ra, đú là: tăng trưởng bền vững, phỏt triển an
toàn và hiệu quả, từng bước cơ cấu lại danh mục tài sản sinh lời theo hướng
đa dạng húa và tăng dần tỷ trọng dư nợ đầu tư kinh doanh.
Bảng 2.2: Huy động vốn và cho vay- đầu tư năm 2003 – 2006

Đơn vị: tỷ đồng
2003

2004

2005

% +/- Số dư

2006

Số dư

% +/- Số dư

% +/- Số dư

% +/-

1. Huy động vốn

87.416

23,5

92.530

5,8

108.605

17

126.624

16,6

- VNĐ

74.206

30

76.869

3,6

91.179

18,6

104.805

15

- Ng.tệ quy VNĐ

13.210

- 4,5

15.661

18

17.426

11

21.819

25

84.261

21

90.703

7

103.405

14,6

125.089

21

- CV nền kinh tế

62.414

13

69.239

11

74.632

7,8

80.152

7,4

- Đầu tư

21.847

53

20.947

-4

28.773

37

44.937

56

2. Cho vay +đầu


(Nguồn: Bỏo cỏo thường niờn của NHCT năm 2003 – 2006)


25
2.2. Thực trạng hoạt động đầu tư của NHCT VN
2.2.1. Quy mô hoạt động đầu tư chứng khoán
Số dư đầu tư chứng khoỏn qua cỏc năm đó khụng ngừng tăng lờn, đến
31/12/2006 số dư đầu tư chứng khoỏn của NHCT VN đạt 15.139,069 tỷ
đồng, chiếm tỷ trọng 11,04% trên tổng tài sản và đây mức cao nhất từ năm
2003 tới nay.
Biểu đồ 2.1: Số dư đầu tư chứng khoán từ năm 2003-2006
Triệu đồng

16 000 000
14 000 000

4 000 000
2 000 000

10 230 410

6 000 000

7 920 500

8 000 000

2003

2004

11 961 139

10 000 000

2005

15 139 069

12 000 000

2006

năm

(Nguồn:
cỏo3 tổng
NHCT VN)của đầu tư chứng
Tốc độ tăng trưởng
bỡnhBỏo
quừn
năm kết
từ 2004-2006
khoỏn đạt 24,1%, trong đó năm 2006 đạt tốc độ tăng trưởng 26,57%/năm.
Trong năm 2006, khi nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay nền ninh tế tăng
trưởng chậm lại rất nhiều so với năm 2005 thỡ dư đầu tư chứng khoỏn vẫn đạt
được tốc độ tăng trưởng khỏ cao.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×