Tải bản đầy đủ

KỊCH KABUKI CỦA NHẬT BẢN

KABUKI


1. Khái niệm

Kabuki

Là một loại hình
sân khấu truyền
thống của Nhật
Bản
Là một hình thức
biểu diễn tổng
hợp cả âm nhạc
và vũ điệu


. Lịch sử hình thành và phát triển

2


Bắt đầu từ năm 1603 với sự kiện cô gái tên Okuni phục vụ trong nhà thờ thần đạo ở
Izumo Taisha bắt đầu biểu diễn kịch với phong cách mới ở Tokyo. Toàn bộ vai diễn đều
do nữ thực hiện-> Ngay lập tức trở nên nổi tiếng và được nhiều đoàn kịch mô phỏng.
3 thập niên đầu TK XVII, tất cả các diễn viên đều là nữ giới, tuy nhiên từ 1629 phụ nữ
bị cấm diễn do diễn xuất của họ ít nhiều mang tính nhục thể thu hút nhiều khan giả
nam giới không đúng đắn.
Vì kabuki quá nổi tiếng nên sau đó các nam diễn viên trẻ (Wakashu) tiếp tục biểu diễn> Tuy nhiên vào năm 1652 chính quyền cấm các nam diễn viên trẻ diễn kịch.
Từ 1653, chỉ có đàn ông trưởng thành mới được diễn kịch Kabuki.( Yaro KabukiKabuki nam giới). Tất cả các vai diễn đều do đàn ông đóng


Các diễn viên Nam chuyên đóng vai nữ được gọi: Onnagata hay Oyama. Diện mạo
bên ngoài của Onnagata rất giống phụ nữ nhờ cách trang điểm.
Kabuki đạt đến đỉnh cao vào thời Genroku (1673-1735). Trong thời kì này, Kabuki đi
đến hoàn chỉnh về cấu trúc kịch, vai trò của các nhân vật, yếu tố khác trong nghệ
thuật diễn xuất. (Vở Chikamatsu Monzaemon)
Giũa thế kỉ XVIII. Kabuki bị Bunraka thế chỗ trên sân khấu dành cho tầng lớp bình
dân cho đến khi đưuọc phục hồi sau cải cách Minh Trị 1868.
Sau chiến tranh TG thứ 2, kịch Kabuki được trình bày theo những hướng cách tân
và được công chúng đón nhận nồng nhiệt.
Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân
loại (24/11/2015).


3. Đặc trưng của Kabuki
3.1 Thiết kế sân khấu
Sân khấu kabuki có một chỗ nhô ra gọi là "hanamichi" ( 花花 "hoa đạo"), một
đường đi bộ mở rộng về phía khán giả và đó là lối vào và ra của diễn viên.
Okuni biểu diễn trên một sân khấu hanamichi cùng với đoàn tùy tùng của mình.
Mawari-butai (sân khấu xoay) được phát triển dưới thời Kyōhō. Ban đầu thực
hiện kỹ thuật này bằng cách đẩy sân khấu theo một vòng tròn nhờ một đường
bánh xe ở phía dưới giúp di chuyển thuận tiện hơn. Khi đèn sân khấu mờ đi lúc
dịch chuyển, người ta gọi đó kuraten ("chuyển tối"). Sân khấu này rất hữu dụng
vì nó giúp chuyển cảnh mà không làm đứt quãng vở diễn.
Seri dùng để chỉ các cửa sập trên sân khấu được dùng cho kabuki từ giữa thế
kỷ 18. Các cửa sập này có thể mở lên và kéo hạ diễn viên xuống hay sắp đặt
sân khấu.
Chūnori (bay giữa không trung) là một kỹ thuật, xuất hiện vào khoảng giữa thế
kỷ 19, theo đó trang phục của diễn viên được gắn vào một dây thép và anh/cô
ta có thể "bay lượn" trên dân khấu và/hay một số phần của khu khán giả.



3.2 Các thể loại kịch Kabuki chủ yếu
Có ba thể loại kịch kabuki chính: jidai-mono ( 花花花 , truyện trước thời đại
Sengoku), sewa-mono ( 花花花 , sau thời đại Sengoku), và shosagoto ( 花花花 ,
sở tác sự).
Jidaimono, hay kịch lịch sử, thường được lấy bối cảnh từ rất nhiều sự
kiện trong lịch sử Nhật Bản. Phần lớn các jidaimono, lấy bối cảnh là Chiến
tranh Gempei vào những năm 1180, những cuộc chiến Nanboku-chō vào
những năm 1330, hay các sự kiện lịch sử khác.
sewamono chủ yếu lấy đối tượng phản ánh là thường dân, cụ thể là thị
dân và nông dân. Sewamono nói chung lấy chủ đề gia đình hay lãng
mạn. Một số trong các vở sewamono nổi tiếng nhất là các vở diễn về tự
sát vì tình.


3.4 Cấu trúc vở kịch
Giống như cấu trúc của chính những vở kịch, bắt nguồn từ quy tắc của
bunraku và Nō, các quy tắc cũng xuất hiện trong vô số các loại hình nghệ
thuật truyền thống Nhật Bản khác. Cấu trúc gồm 3 yếu tố: jo-ha-kyū ( 花花花 )
(Tự phá cấp)
Gần như mọi vở kịch dài đều được chia làm 5 màn, màn đầu gọi là jo,
mào đầu chậm và mang tính chất giới thiệu với khán giả về nhân vật và
kịch bản. Ba màn sau gọi là ha, tiết tấu được đẩy nhanh, tình huống
chuyện được đẩy lên cao độ đầy kịch tính và chất bi kịch trong màn ba
hay bốn và có thể có một trận đánh ở màn hai hoặc bốn. Màn cuối, gọi là
kyu, thường rất ngắn, với một kết thúc nhanh và có hậu.


3.5 Các vở kịch nổi tiếng
a) Kanadehon Chūshingura ( 花花花花花花花 , Kho báu của trung thần) là câu chuyện nổi tiếng nhất về
47 Ronin truy tìm kẻ sát hại chủ nhân mình, báo thù cho ông, rồi mổ bụng tự sát (seppuku) chết
theo chủ nhân mình.


b) Yoshitsune Senbon Zakura
( 花花花花花 , Yoshitsune và ngàn cây hoa anh đào)
về Minamoto no Yoshitsune khi ông chạy trốn
khỏi các đặc vụ của anh trai mình Yoritomo. Ba
vị tướng của gia tộc Taira được cho là đã chết
trong Chiến tranh Genpei được nhắc đến nổi
bật, vì cái chết của họ đánh dấu chấm hết cho
chiến tranh và chính thức mang lại hòa bình,
giống nội dung của câu chuyện dân gian
Genkurō


c) Sugawara Denju Tenarai Kagami
( 花花花花花花花 , Sugawara và những bút
tích truyền lại) dựa trên cuộc đời của
học giả nổi tiếng Sugawara no
Michizane (845–903), người bị lưu đày
khỏi Kyoto, và cái chết của ông mang
đến nhiều tai ương cho thủ đô. Ông
sau đó được phong làm thần Tenjin,
kami (thần) của học vấn, và thờ phụng
để làm nguôi linh hồn giận dữ của ông.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×