Tải bản đầy đủ

TÁC ĐỘNG của CẠNH TRANH tới sự ổn ĐỊNH tài CHÍNH của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM (tt)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN LƯU TUYỀN

TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH TỚI SỰ ỔN ĐỊNH
TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lâm Thị Hồng Hoa
TS. Lê Hồ An Châu

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018



1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Bối cảnh thực tiễn và lý do lựa chọn đề tài
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế, đồng thời đảm bảo sự
ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam, là một trong những mục tiêu quan
trọng của ngành tài chính ngân hàng của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2016.
Trong những năm qua, việc mua bán, sáp nhập và cơ cấu lại hoạt động của các ngân
hàng đã diễn ra vô cùng sôi động, theo đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín
dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
01/03/2012, trong đó ưu tiên xử lý các TCTD yếu kém; triển khai sáp nhập, hợp
nhất, mua lại TCTD trên nguyên tắc tự nguyện; tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu của
các TCTD và từng bước tái cơ cấu hoạt động, quản trị, điều hành. Điều này dẫn đến
hệ quả giảm số lượng ngân hàng trong hệ thống khi các ngân hàng yếu kém đã buộc
phải sáp nhập. Việc mua bán, sáp nhập các NHTM cũng làm dấy lên mối lo ngại về
khả năng suy giảm mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng, đồng thời tác động
đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào
năm 2015, hay việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng giữa
Việt Nam/ ASEAN với Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia & New Zealand,
Chi-lê, liên minh Á – Âu, thì xu hướng cũng như yêu cầu nâng cao năng lực cạnh
tranh của các NHTM Việt Nam đồng thời đảm bảo sự ổn định tài chính của các
NHTM là một trong những yếu tố quan trọng hỗ trợ quá trình này.
Xu hướng và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo ổn định tài
chính của các NHTM đang ngày càng được quan tâm trên các thị trường khác nhau
và là đề tài của nhiều cuộc tranh luận.Trong những năm gần đây xuất hiện các cuộc
tranh luận trong lý thuyết ngân hàng có liên quan đến tác động của cạnh tranh tớisự
ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng (Beck, 2008; Carletti, 2008). Các cuộc
tranh luận về mối quan hệ này đã hình thành hai quan điểm trái ngược nhau là quan
điểm "cạnh tranh –dễ vỡ", và quan điểm "cạnh tranh - ổn định". Theo quan điểm
"cạnh tranh –dễ vỡ", cạnh tranh ngân hàng càng tăng sẽ làm giảm sức mạnh của thị


2

trường, giảm lợi nhuận biên của ngân hàng và kết quả là làm giảm giá trị thương
hiệu của ngân hàng (Berger và cộng sự, 2009). Điều này khuyến khích các ngân
hàng chấp nhận nhiều rủi ro hơn để tìm kiếm lợi nhuận và do đó gây ra sự bất ổn
định của hệ thống ngân hàng (Marcus, 1984; Keeley, 1990; Carletti và Hartmann,
2003).


Ngược lại, quan điểm "cạnh tranh - ổn định" cho rằng có mối quan hệ tích
cực giữa cạnh tranh ngân hàng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Cạnh tranh
gia tăng sẽ dẫn đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và ngược lại(Fu và cộng sự,
2014). Trong thị trường có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thấp thì có thể dẫn đến
nhiều rủi ro hơn khi các ngân hàng lớn thường được coi là quá lớn để thất bại và do
đó khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh các ngân hàng này thường nhận
được các khoản hỗ trợ từ Chính phủ (Mishkin, 1999). Thêm vào đó, trong một thị
trường cạnh tranh thấp, các ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn sẽ đưa ra các
mức lãi suất cho vay cao hơn, điều này gây ra khó khăn cho khách hàng vay vốn
trong việc trả nợ và gia tăng rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu (Fu và cộng sự,
2014). Ngược lại trong thị trường có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cao, mức lãi
suất cho vay thường thấp, vấn đề quá lớn để thất bại ít được quan tâm và do đó sẽ
có tác động tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng (Boyd và De Nicoló,
2005; Beck, 2006; Schaeck, 2006; Turk-Ariss, 2010).
Các nghiên cứu ủng hộ hai quan điểm trên cho thấy tác động của cạnh tranh
đến ổn định của hệ thống ngân hàng không nhất quán giữa các quốc gia khác nhau.
Ngoài ra, rất ít nghiên cứu trước đã được lược khảo xem xét tác động của cạnh tranh
tới sự ổn định trước và sau giai đoạn khủng hoảng tài chính(Fu và cộng sự, 2014;
Boyd và De Nicoló, 2005; Beck, 2006; Schaeck, 2006; Turk-Ariss, 2010).
Do đó, luận án này mang tính cấp thiết, có ý nghĩa bổ sung các bằng chứng
thực nghiệm đồng thời củng cố thêm cơ sở lý thuyết về tác động của cạnh tranh tới
sự ổn định tài chính của các NHTM. Luận án đánh giá tác động của cạnh tranh tới
sự ổn định của ngân hàng thương mại tại Việt Nam cho giai đoạn cập nhật từ 2008 2016. Đồng thời, luận án cũng xem xét tác động này trong điều kiện khủng hoảng


3

tài chính 2008, 2009.
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là cơ sở để giúp cho những nhà hoạch định chính
sách cùng các bên liên quan có thể hiểu rõ hơn về tác động của cạnh tranh tới sự ổn
định tài chính của các ngân hàng, từ đó có những chiến lược và giải pháp để nâng
cao năng lực cạnh tranh, đồng thời đảm bảo sự ổn định tài chính của các NHTM
Việt Nam.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến sự
ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua kiểm định mối quan hệ "cạnh
tranh - ổn định" và "cạnh tranh – dễ vỡ". Từ kết quả nghiên cứu, luận án cũng sẽ
thảo luận những hàm ý chính sách phù hợp.
Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án sẽ lần lượt giải quyết ba mục tiêu cụ
thể:
 Đo lường mức độ cạnh tranh và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ
cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.
 Đo lường mức độ ổn định tài chính và phân tích các yếu tố tác động đến
mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
 Kiểm địnhtác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam thông qua kiểm định 2 giả thuyết: “cạnh tranh - ổn định” và
“cạnh tranh – dễ vỡ”.
 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
 Mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016
như thế nào?
 Các yếu tố nào tác động đến mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt
Nam?
 Mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 20082016 như thế nào?


4

 Các yếu tố nào tác động đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM
Việt Nam?
 Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các NHTM Việt
Nam ủng hộ giả thuyết: “cạnh tranh - ổn định” hay “cạnh tranh – dễ vỡ”?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của
cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của NHTM. Trong đó, mức độ cạnh tranh được
đại diện bằng chỉ số Lener và ổn định tài chính được đại diện bằng mức độ rủi ro
phá sản của ngân hàng thông qua chỉ số Z-score dựa trên cơ sở lý thuyết và các
nghiên cứu có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giới hạn ở 24 ngân hàng thương mại cổ
phầnViệt Nam. Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2008-2016.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên số liệu Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, bản cáo bạch của
các NHTM Việt Nam từ 2008 – 2016, luận án xây dựng chỉ số cạnh tranh
Lernerđược đo lường theo công thức của Abba Lerner (1934) để ước tính và so sánh
mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2016. Tiếp
theo đó, luận án kế thừa phương pháp tính toán Z-score cho các ngân hàng được sử
dụng trong các nghiên cứucủa Boyd & Graham (1986), Hannan & Hanweck (1988),
Boyd & ctg (1993) nhằm đo lường mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt
Nam. Sau đó, nghiên cứu sử dụng các mô hình được đề xuất bởi Raúl Osvaldo
Fernández et al (2015) nhằm kiểm định mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài
chính của các NHTM Việt Nam . Để khắc phục hiện tượng nội sinh tiềm ẩn trong
mô hình, luận án sử dụng kỹ thuật biến công cụ với ước lượng DGMM, nhằm tìm
kiếm bằng chứng về tác động của cạnh tranh đến sự ổn định tài chính của ngân hàng
thương mại Việt Nam trong điều kiện bình thường và trong điều kiện khủng hoảng
1.5. Đóng góp của luận án
Những đóng góp chính của luận án bao gồm:


5

Đóng góp về mặt khoa học:Luận án sẽ bổ sung các bằng chứng thực
nghiệm về mức độ cạnh tranh và sự ổn định tài chính của các NHTM tại Việt Nam
trong giai đoạn 2008 – 2016, đồng thời đánh giá và kiểm định mối quan hệ “cạnh
tranh - ổn định” và “cạnh tranh – dễ vỡ” cho hệ thống các NHTM Việt Nam. Đây là
nghiên cứu mới tại Việt Nam khi đa số các đề tài hiện nay chủ yếu tập trung nghiên
cứu và đánh giá riêng lẻ về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam hoặc mức
độ ổn định tài chính của NHTM Việt Nam. Trong khi các nghiên cứu sâu và cụ thể,
mang tính định lượng về tác động của cạnh tranh đến sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, mặc dù một số nghiên cứu hiện có
trên thế giới đã đánh giá tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính, nhưng
phần lớn là các nghiên cứu cho các nước phát triển như Châu Âu và Châu Mỹ. Luận
án là công trình nghiên cứu mới, cập nhật cho hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn
2008 – 2016, một đại diện cho quốc gia đang phát triển hoặc là thị trường cận biên
(frontier market) trong đó hệ thống tài chính phát triển chủ yếu dựa trên hệ thống
ngân hàng.
Đóng góp về mặt thực tiễn: kết quả phân tích sẽ giúp các NHTM Việt Nam
hiểu rõ hơn về hiện trạng mức độ cạnh tranh, mức độ ổn định, các yếu tố tác động,
chiều hướng và mức độ tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016, từ đó có những chiến lược và giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự ổn định tài chính.
Đồng thời,kết quả nghiên cứu cũng sẽ giúp các cơ quan quản lý đánh giá rõ
hơn về mức độ cạnh tranh, sự ổn định tài chính và tác động của cạnh tranh tới sự ổn
định tài chính trong điều kiện bình thường và trong điều kiện có khủng hoảng, từ đó
có những chính sách điều hành phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
NHTM Việt Nam và góp phần đảm bảo sự ổn định về tài chính của các NHTM tại
Việt Nam.
1.6. Cấu trúc luận án
Kết cấu của luận án gồm có 5 chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu


6

Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm bối cảnh thực hiện và lý
do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án và kết cấu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về cạnh tranh ngân
hàng, sựổn định tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính
Đưa ra các lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan đã được thực
hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thiết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Trình bày phương pháp nghiên cứuvà mô tả dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích thực nghiệm vềcạnh tranh ngân hàng, sự ổn định tài
chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chínhcủa các NHTM Việt Nam
giai đoạn 2008 – 2016
Trình bày kết quả nghiên cứu về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn định tài chính
và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam giai
đoạn 2008 – 2016
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trình bày kết luận chính của luận án và đưa ra các hàm ý chính sách.


7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM VỀ CẠNH TRANH NGÂN HÀNG, SỰ ỔN ĐỊNH
TÀI CHÍNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH ĐẾN ỔN
ĐỊNH TÀI CHÍNH
2.1. Cơ sở lý thuyết.
2.1.1. Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh NHTM
2.1.1.1. Khái niệm
Theo Porter (1998), cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh
là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi
(1980).
Nguyễn Thanh Phong (2010) định nghĩa năng lực cạnh tranh của NHTM là
khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế
vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng
chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra,
duy trì và phát triển những lợi thế nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi
nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi
trường kinh doanh.
2.1.1.2. Phương pháp đo lường
Các nghiên cứu trên thế giới đo lường cạnh tranh ngân hàng bằng nhiều
phương pháp khác nhau, có thể kể đến như phương pháp cấu trúc thị trường dựa
trên lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP: structure – conduct –
performance) và phương pháp phi cấu trúc dựa trên các chỉ số tập trung
(concentration ratios).
 Phương pháp cấu trúc thị trường (market structures)
 Phương pháp phi cấu trúc


8

2.1.2. Cơ sở lý thuyết về ổn định tài chính của các NHTM
2.1.2.1. Khái niệm ổn định tài chính
Theo Buiter (2008), ổn định tài chính sẽ được đảm bảo nếu không có các yếu
tố sau: (i) Bong bong giá tài sản; (ii) Tình trạng thiếu thanh khoản; (iii) Tình trạng
vỡ nợ của các thể chế tài chính đe dọa sự ổn định hệ thống.
Theo Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB (2014), ổn định tài chính là trạng
thái các tổ chức tài chính có khả năng hấp thụ được các cú sốc, giảm thiểu được
những đổ vỡ nghiêm trọng có thể gây nguy hại đáng kể cho quá trình phân bổ
nguồn lực đầu tư đến các kênh hiệu quả hơn. ECB cho rằng, một tổ chức tài chính
được cho là ổn định nếu hội tụ đủ các nội dung sau: (i) Có thể phân bổ nguồn lực
hiệu quả từ kênh tiết kiệm sang kênh đầu tư; (ii) Các rủi ro tài chính được đánh giá
và xác định một cách chính xác và hợp lý để có thể kiểm soát tốt hơn; (iii) Có thể
hấp thụ được các cú sốc tài chính cũng như những biến động trong nền kinh tế thực.
Tóm lại, mặc dù hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức cho thuật ngữ
“Ổn định tài chính”, tuy nhiên xét ở góc độ vĩ mô, ổn định tài chính là tình trạng mà
hệ thống tài chính (thị trường tài chính, các định chế tài chính, hạ tầng tài chính)
thực hiện các chức năng của nó thông suốt, góp phần phân bổ có hiệu quả nguồn lực
của nền kinh tế. Các rủi ro cấp độ hệ thống được đánh giá chính xác và quản lý hiệu
quả để tránh khả năng sụp đổ hệ thống tài chính. Ở mức độ các NHTM, ổn định tài
chính có thể được hiểu là trạng thái mà tổ chức đó vận hành trơn tru, thực hiện tốt
chức năng của nó, hoạt động hiệu quả ổn định, có khả năng hứng chịu được cú sốc
từ môi trường bên ngoài, và tự bản thân nó không gây ra cú sốc ảnh hưởng đến nền
kinh tế.
2.1.2.2. Ổn định tài chính và bất ổn tài chính của các NHTM
Hiện nay, chưa có một sự đồng thuận về định nghĩa chính xác cho khái niệm
ổn định tài chính của các ngân hàng. Các nghiên cứu về ổn định tài chính của
NHTM thường xem xét và đánh giá “mức độ bất ổn tài chính” như một cách tiếp
cận để đánh giásự “ổn định tài chính”, và bất ổn tài chính là trạng thái ngược lại với
ổn định tài chính.


9

Bất ổn tài chính của các NHTM thường gắn liền với một cơn hoảng loạn
ngân hàng nói chung có liên quan đến một cú sốc của một ngân hàng bị phóng đại
bởi hành vi của những người gửi tiền không có đầy đủ thông tin, họ nghi ngờ giá trị
tài sản của ngân hàng thấp hơn giá trị nợ của ngân hàng nên rút tiền gửi.
Khi một ngân hàng gặp phải một sự rút vốn đột ngột bởi người gửi tiền, điều
này có thểdẫn đến sự tháo chạy ngân hàng và gây ra tình trạng bất ổn. Do các ngân
hàng cho vay phần lớn khoản tiền gửi nhận được nên khi gặp tình huống khách
hàng đột ngột rút tiền với số lượng lớn, các ngân hàng không thể ngay lập tức hoàn
trả được tất cả những khoản tiền gửi cho khách hàng. Sự trì hoãn trả tiền do không
có khả năng đáp ứng này có thể dẫn đến một sự tháo chạy về tiền gửi khiến ngân
hàng lâm vào trạng thái phá sản. Hệ quả là những người gửi tiền sẽ bị thiệt hại trừ
khi họ được công ty bảo hiểm tiền gửi chi trả. Sự tháo chạy ngân hàng lan rộng làm
gia tăng tình trạng bất ổn dẫn đến khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống. Rất
nhiều ví dụ về sự tháo chạy ngân hàng đã diễn ra, chẳng hạn như sự tháo chạy khỏi
các ngân hàng Mỹ những năm 1930, sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Bear Stearns
năm 2008.
2.1.2.3. Phương pháp đo lường ổn định tài chính và bất ổn tài chính
Ổn định tài chính của các NHTM thường được đo lường một cách gián tiếp
thông qua việc đánh giá mức độ bất ổn tài chính và khủng hoảng ngân hàng một
cách hệ thống hoặc riêng lẻ.
(i) Đo lường ổn định tài chính và bất ổn tài chính mang tính hệ thống
Để đo lường ổn định tài chính hệ thống, nhiều nghiên cứu sử dụng các chỉ số
đo lường tổng hợp cho cả hệ thống (chỉ số Z-score và khoảng cách tới phá sản),
trong đó có lưu ý trung bình hay tỷ trọng của từng hệ số đánh giá theo quy mô của
mỗi ngân hàng. Điểm hạn chế của phương pháp này đó là chưa xét tới sự tương
quan qua lại giữa các tổ chức tài chính với nhau, nghĩa là khả năng lây lan khi một
tổ chức tài chính sụp đổ.
(ii) Đo lường ổn định tài chính và bất ổn tài chính riêng lẻ


10

Dựa trên nghiên cứu của Altman, đã có nhiều nghiên cứu sau đó áp dụng Zscore để đánh giá rủi ro phá sản trong nhiều ngành khác nhau. Đối với lĩnh vực
ngân hàng, có các nghiên cứu của Boyd & Graham (1986), Hannan & Hanweck
(1988),Soedarmono & ctg (2011)…
Mức độ ổn định tài chính được lượng hóa bằng Z-score trong các nghiên cứu
về lĩnh vực ngân hàng và được tính toán như sau:

ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân,
EQTA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân,
∂ROA là độ lệch chuẩn của ROA
2.1.3. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa cạnh tranh và sự ổn định tài chính
của các NHTM
Theo quan điểm mang tính truyền thống về mối quan hệ giữa cạnh tranh và
sự ổn định tài chính, hệ thống ngân hàng cạnh tranh hơn hoặc ít tập trung độc quyền
hơn thì sẽ bất ổn định hơn. Điều này được lý giải theo học thuyết giá trị thương hiệu
được nghiên cứu bởi Marcus (1984), Keeley (1990). Học thuyết giá trị thương hiệu
cho thấy cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng thực hiện các chiến lược mạo hiểm hơn.
Ngược lại, những nghiên cứu này cho thấy việc cạnh tranh ít hơn hay tập trung độc
quyền nhiều hơn của một số ngân hàng sẽ dẫn đến giá trị thương hiệu của các ngân
hàng này cao hơn, đồng thời có thể ngăn chặn các quyết định nguy hiểm quá mức
của các nhà quản lý điều hành của ngân hàng. Bởi vì khi giá trị thương hiệu cao hơn
thì chi phí cơ hội nếu bị phá sản sẽ cao hơn, dẫn đến việc các nhà quản lý điều hành
và các cổ đông của ngân hàng trở nên miễn cưỡng hơn khi tham gia vào các quyết
định nguy hiểm, từ đó giúp cải thiện chất lượng tài sản của ngân hàng.
Boot và Greenbaum (1993) và Allen và Gale (2000, 2004) cho thấy rằng
trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng nhận được ít thông tin hơn từ các mối


11

quan hệ của họ với khách hàng đi vay, gây khó khăn cho việc kiểm tra hồ sơ tín
dụng và làm tăng rủi ro và nguy cơ bất ổn.
Boyd et al. (2004) cho rằng các ngân hàng có mức độ hiện diện lớn hơn hay
độc quyền cao hơn trong hệ thống ngân hàng tập trung có thể tăng lợi nhuận và do
đó làm giảm tính dễ vỡ tài chính bằng cách cung cấp "mức đệm vốn dự phòng" cao
hơn để bảo vệ hệ thống chống lại những cú sốc kinh tế vĩ mô và thanh khoản bên
ngoài.
Bên cạnh những lý thuyết cho rằng mối quan hệ giữa cạnh tranhvà sự ổn
định tài chính là ngược chiều, một số lý thuyết hiện đại lại cho rằng hệ thống ngân
hàng cạnh tranh hơn hoặc ít tập trung độc quyền hơn thì sẽ ổn định hơn hay nói
cách khác hệ thống ngân hàng ít cạnh tranh hơn hoặc tập trung độc quyền cao hơn
thì sẽ bất ổn định hơn. Điều này có thể được lý giải theo học thuyết "quá lớn để sụp
đổ" được đề xuất bởi Mishkin (1999). Học thuyết này chỉ ra rằng các nhà hoạch
định chính sách sẽ quan tâm và quan ngại hơn đến sự sụp đổ của ngân hàng khi có
quá ít các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng tập trung. Như vậy, các ngân hàng
lớn thường có nhiều khả năng nhận được bảo lãnh hoặc trợ cấp từ chính phủ, từ đó
có thể tạo ra vấn đề rủi ro đạo đức, khuyến khích các quyết định nguy hiểm và làm
gia tăng sự bất ổn định của hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, nguy cơ lây lan có thể
tăng trong hệ thống ngân hàng tập trung với các ngân hàng lớn.
Caminal và Matutes (2002) cho rằng cạnh tranh ít hơn có thể dẫn đến việc
cung cấp tín dụng dễ dàng hơn và các khoản vay lớn hơn, điều này làm tăng xác
suất sụp đổ của ngân hàng. Boyd và De Nicolo (2005) lập luận rằng hệ thống ngân
hàng độc quyền cao cho phép các ngân hàng tính lãi vay cao hơn, và có thể khuyến
khích người vay chấp nhận rủi ro lớn hơn. Do đó, khối lượng nợ xấu có thể tăng
lên, kết quả là xác suất phá sản ngân hàng cao hơn. Tuy nhiên, Martinez-Miera et al
(2010) cho thấy rằng lãi suất cho vay cao hơn cũng mang lại thu nhập từ lãi cao hơn
cho các ngân hàng. Tác động bù trừ này có thể tạo ra mối quan hệ hình chữ U giữa
cạnh tranh ngân hàng và sự ổn định.


12

2.2. Bằng chứng thực nghiệm.
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về mức độ cạnh tranh và các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ cạnh tranh của các NHTM
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đã và đang là đề tài thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Fungacova và ctg (2010) nghiên cứu mạnh thị trường của các ngân hàng ở
Nga trong giai đoạn 2001-2007 bằng cách sử dụng chỉ số Lerner.
Demirguc-Kunt và Peria (2010)nghiên cứu sức mạnh thị trường của hệ thống
ngân hàng ở Jordan giai đoạn 1994-2006.
Soedarmono và ctg (2011) nghiên cứu mức độ cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á trong giai đoạn 2001
– 2007.
Bolt và Humphrey (2012) nghiên cứu mức độ cạnh tranh của các ngân hàng
Mỹ, trong đó sử dụng ba chỉ số HHI, Lerner và H thống kê để đo lường mức độ
cạnh tranh.
Repkova (2012) nghiên cứu mức độ cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Séc
cho giai đoạn 2000-2010.
Simpasa (2013) nghiên cứu mức độ cạnh tranh và cấu trúc thị trường trong
hệ thống các ngân hàng Zambia, Châu Phi trong bối cảnh có sự chuyển dịch thị
trường một cách năng động với sự tham gia của nhiều ngân hàng ngoại mới và tư
nhân hóa các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Nghiên cứu của Laurent (2013) về cạnh tranh các ngân hàng khu vực Châu
Âu, trong đó tác giả nghiên cứu sự thay đổi mức độ cạnh tranh của các Ngân Hàng
EU trong những năm 2000 - 2010 nhằm đánh giá hành vi của các ngân hàng Châu
Âu trong giai đoạn này.
Hamza và Kachtouli (2014) nghiên cứu mức độ cạnh tranh và sức mạnh thị
trường của các ngân hàng hồi giáo và các ngân hàng thương mại khu vực Trung
Đông &Bắc Phi và khu vực Đông Nam Á cho giai đoạn 2004 – 2009.


13

Saibu (2015)nghiên cứu về cạnh tranh và mức độ tập trung của các ngân
hàng Nigeria giai doạn 2001 – 2013.
Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2015) nghiên cứu tác động của cạnh
tranh đến hiệu quả quản trị chi phí và lợi nhuận của hệ thống các NHTM Việt Nam
giai đoạn 2005 – 2014.
Võ Xuân Vinh và Dương Thị Ánh Tiên (2017) nghiên cứu ước lượng sức
cạnh tranh và xem xét các yếu tố tác động đến sức cạnh tranh của ngân hàng thương
mại Việt Nam giai đoạn 2005-2014.
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về ổn định tài chính và các yếu tố ảnh
hưởng đến ổn định tài chính của các NHTM
Hiện nay, ổn định tài chính và các yếu tố tác động đến ổn định tài chính của
các NHTM đang ngày càng được quan tâm và thu hút nhiều nghiên cứu trong nước
cũng như trên thế giới
Hesse và Cihak (2007)phân tích thực nghiệm vai trò của các ngân hàng hợp
tác trong việc ổn định tài chính.
Ivičić và ctg (2008) nghiên cứu tác động của các biến số kinh tế vĩ mô và đặc
điểm ngân hàng riêng biệt đối với rủi ro thanh toán của các ngân hàng ở 7 nước khu
vực Trung và Đông Âu từ năm 1996 đến năm 2006.
Soedarmono và ctg (2011)xem xét liệu các ngân hàng Châu Á có nguy cơ về
đạo đức trong cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997.
Rahman & ctg (2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và rủi
ro của ngân hàng và tác động của các quy định của nhà nước về vốn.
Fu & ctg (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài
chính, sử dụng thông tin và số liệu của 14 nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương từ
năm 2003 - 2010 để xem xét ảnh hưởng của cạnh tranh ngân hàng, sự tập trung, các
quy định và thể chế của các quốc gia đối với tính dễ vỡ của các ngân hàng được xác
định thông qua xác suất phá sản và Z-score của ngân hàng.
Chiaramonte & ctg (2015) đánh giá độ chính xác của chỉ số Z-score, là một
biến đại diện được sử dụng rộng rãi nhằm đo lường mức độ ổn định tài chính của


14

các ngân hàng, dựa trên mẫu nghiên cứu của các ngân hàng châu Âu từ 12 quốc gia
trong giai đoạn 2001-2011.
Strobel và Lepetit (2015) sử dụng mô hình Z-score để đánh giá và xem xét
mối liên hệ giữa Z-score và xác suất phá sản của các ngân hàng, giúp cung cấp một
biện pháp đo lường cải tiến hơn mà không áp đặt các giả định phân phối tiếp theo.
Hammami & Boubaker (2015) xem xét tác động của cơ cấu sở hữu đối với
rủi ro ngân hàng, sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của 72 ngân hàng thương
mại từ 10 nước Trung Đông và Bắc Phi (MENA) từ năm 2000 đến năm 2010.
Nguyễn Minh Hà & Nguyễn Bá Hướng (2016) xác định các yếu tố hưởng
đến rủi ro phá sản ngân hàng Việt Nam bằng phương pháp Z-score, từ đó gợi ý
chính sách phù hợp nhằm tăng cường sự ổn định và lành mạnh trong hoạt động của
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
2.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cạnh tranh tới sự ổn định
tài chính của các NHTM
Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng mức độ cạnh tranh ngân hàng càng
cao thì càng dễ dẫn đến bất ổn tài chính thông qua suy giảm sức mạnh thị trường,
mà hậu quả là làm giảm lợi nhuận, và giảm giá trị thương hiệu. Các nghiên cứu này
ủng hộ quan điểm "cạnh tranh – dễ vỡ". Theo quan điểm này, các ngân hàng được
khuyến khích chấp nhận nhiều rủi ro hơn để tăng lợi nhuận, đồng thời suy giảm chất
lượng của danh mục cho vay (nghiên cứu của Marcus, 1984; Keeley, 1990 và
Carletti và Hartmaan, 2003).
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã ủng hộ quan điểm “cạnh tranh - ổn
định”. Beck et al. (2006) nghiên cứu một nhóm 69 quốc gia và thấy rằng các nước
có mức độ tập trung của thị trường thấp hay cạnh tranh cao thì ít có khả năng bị
khủng hoảng tài chính. Boyd và De Nicolo (2005) cho rằng quyền lực thị trường
càng lớn hay cạnh tranh càng thấp trong các thị trường cho vay làm tăng rủi ro cho
ngân hàng vì các mức lãi suất cao hơn làm cho việc hoàn trả của khách hàng trở nên
khó khăn hơn. Điều này có thể làm trầm trọng thêm vấn đề rủi ro đạo đức, đồng
thời, lãi suất cao hơn thu hút những người vay có độ rủi ro cao hơn. Hơn nữa, tại


15

các thị trường tập trung độc quyền cao, các tổ chức tài chính có thể tin rằng họ là
"quá lớn để sụp đổ" và điều này có thể dẫn đến các khoản đầu tư rủi ro hơn (Berger
et al., 2008).
Các nghiên cứu khác gần đây đã áp dụng chỉ số cạnh tranh Lerner và đo
lường sự ổn định của ngân hàng thông qua chỉ số Z-score để kiểm tra mối quan hệ
giữa cạnh tranh và ổn định của hệ thống ngân hàng như Berger et al. (2008), TurkAriss (2010), Liu et al. (2010).
2.3. Đánh giá các nghiên cứu trước
2.3.1.Đánh giá các nghiên cứu trước về cạnh tranh và các yếu tố tác động đến
mức độ cạnh tranh của các NHTM
Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều nghiên cứu khác nhau với mẫu là những
quốc gia khác nhau, sử dụng các phương pháp khác nhau cho ra kết quả khác biệt
liên quan đến vấn đề đo lường mức độ cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ cạnh tranh của các NHTM.
Các nghiên cứu trước đã chỉ ra một số yếu tố tác động đến mức độ cạnh
tranh của các NHTM, bao gồm:
 Quy mô của ngân hàng
 Quy mô vốn
 Dư nợ cho vay
 Lợi nhuận
 Hiệu quả quản trị chi phí
2.3.2.Đánh giá các nghiên cứu trước về mức độ ổn định tài chínhvà các yếu tố
tác động đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM:
Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều nghiên cứu khác nhau với mẫu là những
quốc gia khác nhau, vận dụng chỉ số Z-score để đo lường mức độ ổn định tài chính
của ngân hàng, đo lường mức độ rủi ro rủi ro phá sản của ngân hàng hay bất ổn tài
chính của ngân hàng. Các nghiên cứu cho ra kết quả khác biệt liên quan đến vấn đề
đo lường mức độ ổn địnhtài chính và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ổn định tài
chính của các NHTM. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Z-score là phương


16

pháp đơn giản và hiệu quả về mặt thời gian và chi phí trong đo lường ổn địnhtài
chính trong lĩnh vực ngân hàng.
Các nghiên cứu trước đã chỉ ra một số yếu tố tác động đến mức độ ổn định
tài chính của các NHTM, bao gồm:
 Quy mô của ngân hàng
 Quy mô vốn
 Dư nợ cho vay
 Lợi nhuận
 Hiệu quả quản trị chi phí
2.3.3. Đánh giá các nghiên cứu trước về tác động của cạnh tranh tới sự ổn định
tài chính của các NHTM
Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau với mẫu là những quốc gia khác nhau, sử
dụng các phương pháp khác nhau cho ra kết quả khác biệt về mối quan hệ giữa cạnh
tranh và ổn định tài chính của các NHTM. Đây là cơ sở để phát triển hướng nghiên
cứu của luận án. Cụ thể:
Hướng nghiên cứu thứ nhất của luận án dựa trên kết quả của các nghiên
cứuMarcus (1984), Keeley (1990), Carletti và Hartmaan (2003), cho răng mức độ
cạnh tranh ngân hàng càng cao thì càng dễ dẫn đến bất ổn tài chính thông qua suy
giảm sức mạnh thị trường, mà hậu quả là làm giảm lợi nhuận, và giảm giá trị
thương hiệu. Các nghiên cứu này ủng hộ quan điểm "cạnh tranh – dễ vỡ".
Hướng nghiên cứu thứ hai của luận án dựa trên kết quả của các nghiên cứu
Boyd và De Nicolo (2005), Beck et al. (2006), Turk-Ariss (2010), Liu et al. (2010),
cho rằng mức độ cạnh tranh ngân hàng càng cao sẽ giúp các ngân hàng ổn định tài
chính hơn. Nguyên nhân là do khi quyền lực thị trường càng lớn hay mức độ cạnh
tranh ngân hàng càng thấp trong các thị trường cho vay sẽ làm tăng rủi ro cho ngân
hàng vì các mức lãi suất cao hơn làm cho việc hoàn trả của khách hàng trở nên khó
khăn hơn. Điều này có thể làm trầm trọng thêm vấn đề rủi ro đạo đức, đồng thời, lãi
suất cao hơn thu hút những người vay có độ rủi ro cao hơn. Hơn nữa, tại các thị
trường tập trung độc quyền cao, các tổ chức tài chính có thể tin rằng họ là "quá lớn


17

để sụp đổ" và điều này có thể dẫn đến các khoản đầu tư rủi ro hơn (Berger et al.,
2008).
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số Z-score để đại diện cho mức độ
ổn định tài chính và chỉ số Lerner để đại diện cho mức độ cạnh tranh của các
NHTM Việt Nam. Luận án cũng xem xét tác động của các yếu tố nội tại bên trong
các ngân hàng, và cả các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường vĩ mô, trong điều kiện
bình thường và trong điều kiện có khủng hoảng, để kiểm định hai giả thuyết trên.
Luận án nghiên cứu phân tích dữ liệu cập nhật mới nhất của các NHTM Việt
Nam cho giai đoạn 2008 – 2016. Kết quả nghiên cứu gợi ý những giải pháp nhằm
góp phần giúp cho các nhà quản lý NHTM Việt Nam và NHNN có những giải pháp
và chính sách điều hành phù hợp.


18

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với mẫu dữ liệu bao gồm 24 ngân hàng thương
mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 đến 2016. Dữ liệu tính toán các biến nội
tại bên trong ngân hàng được thu thập từ báo cáo tài chính theo năm của các ngân
hàng thương mại. Dữ liệu tính toán các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường vĩ mô
được thu thập từ các nguồn chính thống như bộ dữ liệu World Economic Outlook
(WEO) của Qũy tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF), Tổng cục
Thống kê Việt Nam.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
3.2.1. Đo lường và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh của
các NHTM Việt Nam.
3.2.1.1. Đo lường chỉ số cạnh tranh Lerner
Luận án đánh giá mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại thông
qua chỉ số Lerner được sử dụng bởi các nghiên cứu của Berger và cộng sự (2008),
Fernández de Guevara và cộng sự (2005), Berger và cộng sự (2009), Maudos and
Solís (2009), Fu và cộng sự (2014). chỉ số Lerner cho các ngân hàng được tính như
sau:

Trong đó, Pit là giá đầu ra của ngân hàng thứ i vào năm t, được tính bằng tỷ
lệ tổng thu nhập trên tổng tài sản. MCit là chi phí biên của ngân hàng thứ i vào năm
t. Tuy nhiên, chi phí biên không thể quan sát trực tiếp vì vậy được ước lượng dựa
trên hàm số của tổng chi phí ngân hàng (Ariss, 2010; Fenandez de Guevara và cộng
sự, 2005; Fu và cộng sự, 2014).
3.2.1.2. Các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh
Kế thừa các nghiên cứu liên quan, luận án xây dựng mô hình để phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh như sau:


19

Lernerit = α + β1 Lernerit-1 + β2 EQTAit + β3 LOANTAit + β4 ROEit + β5 CIRit
+ β6BANKSIZEit + β7 GDPt + β8 INFt + uit(3)
Bên cạnh đó, luận án cũng xem xét tác động của các yếu tố này đến mức độ
cạnh tranh của NHTM Việt Nam trong điều kiện bình thường và điều kiện khủng
hoảng bằng cách đưa thêm vào mô hình (3) biến giảCRISIS. Biến giả này nhận giá
trị là 1 trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009 và nhận giá trị là 0 trong
các năm còn lại. Mô hình cụ thể như sau:
Lernerit = α + β1 Lernerit-1 + β2 EQTAit + β3 LOANTAit + β4 ROEit + β5 CIRit
+ β6 BANKSIZEit+ β7 GDPt + β8 INFt + β9 CRISISt + uit (4)
3.2.2. Đo lường và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ ổn định tài chính
của các NHTM Việt Nam
3.2.2.1. Đo lường mức độ ổn định tài chính bằng Z-score
Luận án đo lường mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam bằng
chỉ số rủi ro phá sản Z-score được kế thừa từ nghiên cứu của Berger (2008), Boyd
& Graham (1986), Hannan & Hanweck (1988), Boyd & ctg (1993), tỷ lệ nợ xấu và
kiểm định sự khác biệt của các nhóm ngân hàng.
Z-score được tính toán dựa trên công thức như sau:

 ROA là lợi nhuận trên tổng tài sản trung bình ba năm cho từng ngân
hàng,
 EQTA làvốn trên tài sản trung bình ba năm cho từng ngân hàng,
 σROA là độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản trong ba năm.
3.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM
Kế thừa các nghiên cứu trước, luận án xây dựng mô hình phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam như sau:


20

𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖,𝑡 = 𝛼 + 𝛿𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖,𝑡−1 + 𝛽1 (𝐸𝑄𝑇𝐴)𝑖𝑡 + 𝛽2 (𝐿𝑇𝐷)𝑖𝑡 + 𝛽3 (𝐿𝐿𝑃)𝑖𝑡 +
𝛽4 (𝐶𝐼𝑅)𝑖𝑡 + 𝛽5 (𝑅𝑂𝐸)𝑖𝑡 + 𝛽6 (𝐵𝐴𝑁𝐾𝑆𝐼𝑍𝐸)𝑖𝑡 + 𝛽7 (𝐿𝑂𝐴𝑁𝑇𝐴)𝑖𝑡 + 𝛽8 (𝐺𝐷𝑃)𝑡 +
𝛽9 (𝐼𝑁𝐹)𝑡 + 𝛽10 (𝐶𝑅𝐼𝑆𝐼𝑆)𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (6)
3.2.3. Kiểm định tác động của cạnh tranh ngân hàng tới sự ổn định tài chính
Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡 = 𝛼𝑖𝑡 + 𝛿𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡−1 + 𝛽1 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 + 𝛽2 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡2 +
𝛽3 𝐵𝐴𝑁𝐾𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖𝑡 + 𝛽4 𝐿𝑂𝐴𝑁𝑇𝐴𝑖𝑡 + 𝛽5 𝑂𝑊𝑁𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (7)
Ngoài ra, để tìm kiếm bằng chứng về tác động của cạnh tranh đến sự ổn định
của các ngân hàng thương mại trong điều kiện khủng hoảng, nghiên cứu này đưa
thêm vào mô hình (7) biến giả CRISIS đại diện cho giai đoạn khủng hoảng tài
chính. Cụ thể, biến giả CRISIS nhận giá trị là 1 trong các năm 2008, 2009 và nhận
giá trị là 0 trong các năm còn lại. Mô hình cụ thể như sau:
𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡 = 𝛼𝑖𝑡 + 𝛿𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡−1 + 𝛽1 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 + 𝛽2 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡2 + 𝛽3 𝐶𝑅𝐼𝑆𝐼𝑆𝑡 +
𝛽4 𝐵𝐴𝑁𝐾𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖𝑡 + 𝛽5 𝐿𝑂𝐴𝑁𝑇𝐴𝑖𝑡 + 𝛽6 𝑂𝑊𝑁𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (8)
Tác động kép của mức độ cạnh tranh trong điều kiện khủng hoảng đến sự ổn
định của các ngân hàng thương mại được đánh giá thông qua biến lerner x crisis,
mô hình cụ thể như sau:
𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡 = 𝛼𝑖𝑡 + 𝛿𝑙𝑛𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖𝑡−1 + 𝛽1 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 + 𝛽2 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 × 𝐶𝑅𝐼𝑆𝐼𝑆𝑡 +
𝛽3 𝐵𝐴𝑁𝐾𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖𝑡 + 𝛽4 𝐿𝑂𝐴𝑁𝑇𝐴𝑖𝑡 + 𝛽5 𝑂𝑊𝑁𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (9)
3.2. Phương pháp ước lượng
Luận án ước lượng các mô hình (3), (4), (5), (6) bằng phương pháp SGMM.
Các kiểm định độ tin cậy của mô hình đã được tác giả thực hiện bao gồm:
Kiểm định sự tự tương quan của phần dư: Theo Arellano & Bond (1991),
ước lượng GMM yêu cầu có sự tương quan bậc 1 và không có sự tương quan bậc 2
của phần dư.
Kiểm tra tính phù hợp của mô hình và các biến đại diện: Tương tự các mô
hình khác, sự phù hợp của mô hình có thể được thực hiện thông qua kiểm định F.
Các mô hình (7), (8), (9) được ước lượng bằng phương pháp GMM sai phân
(Difference GMM – DGMM) của Arellano & Bond (1991).


21

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM VỀ CẠNH
TRANH NGÂN HÀNG, SỤ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH ĐẾN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH
CÁC NHTM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 - 2016
4.1.Tổng quan mẫu nghiên cứu
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình
Biến số

Số quan Giá trị trung

Độ lệch

Giá trị nhỏ

Giá trị lớn

sát

bình

chuẩn

nhất

nhất

Zscore

216

24,6960

12,1832

1,3217

62,1955

Lerner

216

0,2958

0,0849

0,0214

0,6085

BANKSIZE

216

17,9791

1,2564

14,6987

20,7299

LOANTA

216

0,5113

0,1564

0,0047

0,8517

CIR

216

0,8932

0,0795

0,6137

1,2187

ROE

216

0,0843

0,0866

-0,8200

0,2846

GDP

216

0,0592

0,0048

0,0525

0,0668

INF

216

0,0904

0,0693

0,0063

0,2312

EQTA

216

0,1125

0,0811

0,0241

0,9994

Biến phụ thuộc

Biến độc lập

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả từ phần mềm STATA
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình được trình bày trong
bảng sau:


22

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
zscore banksize
zscore
banksize
eqta
ltd
llp
loanta
cir
roe
gdp
inf
lerner
own
crisis

1.0000
-0.2659
0.3435
0.4107
0.0103
0.2298
-0.1197
-0.0151
-0.1419
0.2151
0.2213
-0.2320
0.1676

1.0000
-0.6333
-0.2796
0.0782
0.1380
0.0653
0.2982
0.1884
-0.3193
-0.5132
0.4664
-0.2766

eqta

ltd

1.0000
0.1407
-0.0435
-0.1442
-0.2918
-0.1733
-0.1417
0.2308
0.5292
-0.2206
0.1855

1.0000
-0.0304
0.4789
-0.2771
0.1787
-0.0528
0.2177
0.3601
-0.1299
0.2004

llp loanta

1.0000
0.0254
0.0320
-0.0029
0.0837
-0.0916
-0.0887
-0.0443
-0.0538

1.0000
-0.0446
0.1851
0.0309
-0.1263
-0.0324
0.0798
-0.0492

cir

roe

gdp

1.0000
-0.6400
0.0205
-0.1737
-0.8412
-0.1273
-0.2595

1.0000
-0.0321
0.0773
0.3823
0.1829
0.1459

1.0000
-0.2286
-0.1033
0.0477
0.1385

inf lerner

own crisis

1.0000
0.2953 1.0000
-0.1814 -0.0447 1.0000
0.5375 0.3908 -0.1877 1.0000

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả từ phần mềm STATA
4.2. Đo lường và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các
NHTMViệt Nam giai đoạn 2008-2016
4.2.1. Đo lường mức độ cạnh trạnh của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn
2008-2016
Dựa trên công thức tính toán của Abba Lerner(1934), tác giả tính toán chỉ
sốLernercho 24 NHTM Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2016. Số liệu tài chính
đượcthu thập từ 24 NHTM Việt Nam cho tổng số quan sát là 216. Kết quả tính toán
Lerner được thể hiện ở phụ lục 2, theo đó chỉ số Lerner cao nhất trong 9 năm 20082016 là 60,85% thuộc về TIENPB năm 2008, thấp nhất trong 9 năm 2008-2016 là
2,14% thuộc về TIENPB năm 2011, Lerner trung bình trong 9 năm 2008-2016 của
các NHTM Việt Nam đạt 29,58%.
Nếu so sánh với các nghiên cứu đã thực hiện tại các nước và khu vực trên thế
giới thì Lerner của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016 ở mức 29,58% cao
hơn mức 26,53% của Indonesia giai đoạn 2003-2010, 26,71% của Pakistan giai
đoạn 2003-2010 (Fu & ctg, 2014) và thấp hơn nhiều so với mức 48,89% của
Singapore, mức 43,43% của Trung Quốc giai đoạn 2003-2010 (Fu & ctg, 2014).


23

Như vậy, nếu lấy cơ sở Lerner để đo lường mức độ cạnh tranh của các NHTM thì
kết quả này cho thấy mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn
2008 -2016 là khá khốc liệt so với các nước khu vực châu Á và thế giới.
4.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranhcủa các NHTM tại Việt
Namgiai đoạn 2008-2016
Kết quả hồi quy trong bảng 4.3 cho thấy 8 biến số được đề xuất trong mô
hình có ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của NHTM Việt Nam là chỉ số cạnh
tranh năm trước,tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân, tỷ lệ
cho vay khách hàng trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt
động, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng
kinh tế, và tỷ lệ lạm phát.
4.3. Đo lường và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ ổn định tài chính
của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016
4.3.1. Đo lường ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam
Dựa trên công thức tính toán của Boyd & Graham (1986), Hannan &
Hanweck (1988), Boyd & ctg (1993), Strobel & Lepetit (2013, 2015), tác giả tính
toán chỉ số Z-score cho 24 NHTM Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2016. Số liệu tài
chính được thu thập từ 24 NHTM Việt Nam cho tổng số quan sát là 216. Theo đó
chỉ số Zscore cao nhất trong 9 năm 2008-2016 là 62,20 thuộc về SCB năm 2008,
thấp nhất trong 9 năm 2008-2016 là 1,32 thuộc về TIENPB năm 2016, Zscore trung
bình trong 9 năm 2008-2016 của các NHTM Việt Nam đạt 24,7, thấp hơn mức
32,65 trong giai đoạn 2005-2013 (Hoàng Công Gia Khánh & Trần Hùng Sơn,
2015).
Zscore của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016 ở mức 24,70. So sánh
với các nghiên cứu đã thực hiện tại các nước và khu vực trên thế giới thì Zscore của
các NHTM Việt Nam giai đoạn này chỉ cao hơn mức 23,89 của Malaysia giai đoạn
1995-2008 (Rahman & ctg, 2012) và thấp hơn nhiều so với mức 30,59 của khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2003-2009 (Fu & ctg, 2014), mức 41,78 bình
quân của 12 quốc gia Châu Á giai đoạn 2001-2007 (Soedarmono & ctg, 2011), mức


24

46,50 của các NHTM thuộc khối OECD giai đoạn 1994-2004 (Hesse & Cihák,
2007), mức 86,57 của bình quân 12 nước Châu Âu hoạt động ổn định giai đoạn
2008-2011 (Chiaramonte & ctg,2015). Mức độ ổn định tài chính của các NHTM đo
lường bằng Zscore khá thấp.So sánh với các nước khu vực châu Á và thế giới thì
hoạt động của các NHTM Việt Nam mang tính bất ổn định hơn.
4.3.2.Các yếu tố tác động đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2016
Mô hình động về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các ngân
hàng thương mại Việt Nam được tác giả thực hiện bằng phương pháp ước lượng
SGMM. Mô hình (5) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện bình thường trong khi mô hình (6)
xem xét tác động trong điều kiện khủng hoảng.
Kết quả hồi quy cho thấy 8 biến số được đề xuất trong mô hình có ảnh hưởng
đến mức độ ổn định tài chính của NHTM Việt Nam là chỉ số đo lường mức độ ổn
tài chính năm trước, tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân, tỷ
lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt
động, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng
kinh tế, tỷ lệ lạm phát. Còn 2 biến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ dự phòng rủi ro
không có ý nghĩa thống kê.
4.4. Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính trong hệ thống các
NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2016
Bảng 4.6 trình bày kết quả ước lượng các mô hình bằng phương pháp
DGMM. Biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình để đánh giá tác động của cạnh
tranh đến sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam là Z-score. Các ước
lượng với mỗi biến phụ thuộc được tiến hành theo trình tự: (i) xem xét tác động của
cạnh tranh đến sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam; (ii) xem xét ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính đến sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x