Tải bản đầy đủ

ĐỀ CƯƠNG ôn tập Ngữ văn 11 học kỳ 2

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
NGỮ VĂN 11 - HỌC KỲ II
I/ Phần đọc hiểu
1. Ôn tập kiến thức
a. Từ loại, kiểu câu, cách trình bày đoạn văn:
* Từ loại:


Danh từ: Là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…



Động từ: Là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật.



Tính từ: Là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động, trạng thái.

* Kiểu câu:
Phân loại theo cấu tạo:
Câu đơn

ĐN : Là câu chỉ có 1 cụm C - V.

Câu ghép
ĐN : Là câu có từ 2 cụm C - V trở lên.

* Các kiểu câu đơn đặc biệt :

* Các kiểu câu ghép :

- Câu đơn đặc biệt xác định trạng thái - Câu ghép chính phụ :
tồn tại của sự vật.



VD : Còn đòi mày nữa. (Ngô Tất Tố)

Quan hệ giữa các vế : Liên hệ, phụ thuộc vào
nhau, không tách rời.

- Câu đơn đặc biệt biểu thị một sự đánh



VD : Nếu tôi cố gắng, tôi sẽ đỗ đại học.

giá về sự vật.



Đặc điểm : Sử dụng các quan hệ từ hoặc cặp quan

VD : Giỏi lắm.
- Câu đơn đặc biệt xác định thời gian,

hệ từ.


nơi chốn, cảnh tượng, sự kiện.

o Nhân quả (Vì... nên...)



VD : Qua chiều rồi.
- Câu đơn đặc biệt nêu sự xuất hiện của
hiện tượng.
VD : Tiếng reo. Tiếng vỗ tay. (Nam Cao)

Một vài cặp quan hệ từ :

o Điều kiện giả thiết (Nếu... thì...)
- Câu ghép đẳng lập :


Quan hệ giữa các vế : Không phụ thuộc với nhau
mà ngang bằng nhau về nghĩa.



VD : Tôi đi học, ba tôi đi làm, má tôi đi chợ nấu
cơm.



Đặc điểm : Không sử dụng quan hệ từ hay cặp
quan hệ từ. Sử dụng dấu ( , ) (phẩy).

Phân loại theo mục đích nói :


Câu trần thuật (câu kể)
1


- Câu trần thuật là kiểu câu dùng để miêu tả, kể hoặc nêu nhận định, đáng giá, phán đoán… về
người, sự vật, sự việc, hiện tượng.
VD: Ngoài kia, bầu trời trong xanh như ngọc.
- Dấu hiệu: Câu trần thuật kết thúc bằng dấu chấm ( . ) và thường có các từ mang ý nghĩa khẳng
định hoặc phủ định (có, không, chưa…)
VD: Hoài không muốn các bạn lo lắng cho sức khỏe của cô.


Câu nghi vấn (câu hỏi)

- Câu nghi vấn là kiểu câu dùng để hỏi, tìm hiểu những thông tin chưa biết.
- Dấu hiệu: Câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi ( ? ) và có các từ để hỏi (mấy, bao nhiêu, ai,
nào, đâu, sao, bao giờ, chưa, gì…)
VD: Bạn đã ăn cơm chưa?


Câu cầu khiến

- Câu cầu khiến là kiểu câu dùng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn, mệnh lệnh, …của người nói
(người viết) với người khác.
- Dấu hiệu: Câu nghi cầu khiến kết thúc bằng dấu chấm than ( ! ) hoặc dấu chấm ( . ) và thường có
các từ ngữ thể hiện yêu cầu (hãy, đừng, chớ…).
VD : Các em hãy làm bài tập về nhà.


Câu cảm thán

- Câu cảm thán là kiểu câu dùng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm (vui mừng, thán phục, đau xót, ngạc
nhiên…) đối với người nghe hoặc sự vật, hiện tượng được nói tới trong câu.
- Dấu hiệu: Câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm cảm ( ! ) và có các từ bộc lộ tình cảm,
cảm xúc như: ôi, ối, ủa, ái chà, chao ôi,…
VD: Chao ôi! Thế là mùa xuân mong ước đã về.
* Cách trình bày đoạn văn : Diễn dịch - Quy nạp - Tổng phân hợp
b. Các biện pháp tu từ :
* So sánh:
ĐN: Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng làm tăng sức
gợi hình, gơi cảm cho sự diễn đạt.


Các kiểu so sánh
o So sánh ngang bằng (Từ nhận biết: như)
o So sánh hơn kém



Tác dụng của so sánh: So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động. Phần lớn các phép so
sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi ng ười
hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
2


* Ẩn dụ:
ĐN: Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện khác có nét tương đồng quen
thuộc nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
VD:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.”
Mặt trời thứ hai là hình ảnh ẩn dụ vì : lấy tên mặt trời gọi Bác. Mặt trời à Bác có sự tương đồng về
công lao giá trị.


Các kiểu ẩn dụ
o Ẩn dụ hình tượng là cách gọi sự vật A bằng sự vật B.
o Ẩn dụ cách thức là cách gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B.
o Ẩn dụ phẩm chất là cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B.
o Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B.



Tác dụng của ẩn dụ: Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức
mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức
diễn đạt khác nhau (thuyền – biển, mận - đào, thuyền – bến, biển – bờ). Cho nên một ẩn dụ
có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau. ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy
ra mới hiểu. Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn
người đọc người nghe.

* Nhân hóa :
ĐN: Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ
ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên
gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.


Các kiểu nhân hoá
o Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người
o Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động,
tính chất sự vật.
o Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người



Tác dụng của phép nhân hoá: Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh
động, gợi cảm ; là cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn.

* Hoán dụ:

3


ĐN: Gọi tên sự vật khái niệm bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có mối quan hệ
gần gũi với nó, tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt
Các kiểu hoán dụ
o Lấy bộ phận để gọi toàn thể: Ví dụ lấy cây bút để chỉ nhà văn
o Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng: làng xóm chỉ nông dân
o Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật: Hoa đào, hoa mai để chỉ mùa xuân
o Lấy cái cụ thể để gọi caí trừu tượng: Mồ hôi để chỉ sự vất vả
* Nói quá: Biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiện tượng được miêu tả
để gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
* Nói giảm, nói tránh: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển, tránh gây cảm
giác đau buồn ghê sợ tránh thô tục, thiếu lịch sự
* Điệp từ / ngữ / cấu trúc:


Lặp lai từ / ngữ / cấu trúc câu làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.



Điệp từ / ngữ / cấu trúc thường đi với biện pháp liệt kê.

* Liệt kê: Là việc liệt kê các sự vật, sự việc, hiện tưởng nhằm diễn tả đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về
một vấn đề nào đó.
* Chơi chữ :
ĐN: Lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm hài hước làm cho câu văn hấp
dẫn và thú vị
Các lối chơi chữ :
o Dùng từ đồng nghĩa, dùng từ trái nghĩa
o Dùng lối nói lái
o Dùng lối đồng âm:
o Chơ chữ điệp phụ âm đầu
c. Những thông tin quan trọng của văn bản về:
* Thể thơ: Tùy thuộc vào văn bản
Vội vàng - Xuân Diệu

Thể thơ tự do kết hợp thơ ngũ

Tràng Giang - Huy Cận
Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

ngôn và thơ mới tám tiếng
Thể thơ bảy chữ
Thể thơ bảy chữ
4


Từ ấy - Tố Hữu
Chiều tối - Hồ Chí Minh

Thể thơ bảy chữ
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

* Phong cách ngôn ngữ: Có 6 PCNN


PCNN sinh hoạt



PCNN nghệ thuật



PCNN chính luận



PCNN khoa học



PCNN báo chí



PCNN hành chính - công vụ

* Phương thức biểu đạt:

* Phương tiện liên kết trong văn bản: Có 3 phương tiện chính
Phép lặp:


Là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những bộ phận khác nhau.



Ngoài khả năng kết nối các bộ phận hữu quan của văn bản lại với nhau, còn có thể đem lại
những ý nghĩa tu từ như nhấn mạnh gây cảm xúc, gây ấn tượng...

Phép thế:

5




Là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương (cùng chỉ
sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất đồng chiếu) nhằm tạo tính liên kết giữa các phần văn
bản chứa chúng.



Dùng phép thế không chỉ có tác dụng tránh lặp đơn điệu, mà còn có tác dụng tu từ nếu chọn
được những từ ngữ thích hợp cho từng trường hợp dùng.

Phép nối:


Là cách dùng những từ ngữ sẵn mang ý nghĩa chỉ quan hệ (kể cả những từ ngữ chỉ quan hệ
cú pháp bên trong câu), và chỉ các quan hệ cú pháp khác trong câu, vào mục đích liên kết
các phần trong văn bản (từ câu trở lên) lại với nhau.

* Thao tác lập luận: Có 6 thao tác lập luận
Thao tác lập luận giải thích:


Là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề.



Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo lí, phẩm
chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình
cảm.



Cách giải thích: Tìm đủ lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa vấn đề đó. Đặt ra hệ thống câu hỏi để
trả lời.

Thao tác lập luận phân tích:


Là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện
về nội dung, hình thức của đối tượng.



Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêu chí, quan
hệ nhất định.

Thao tác lập luận chứng minh:


Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng.



Cách chứng minh: Xác định vấn đè chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù hợp. Dẫn
chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh, sắp xếp dẫn
chứng phải lô gic, chặt chẽ và hợp lí.

Thao tác lập luận so sánh:


Làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong mối tương quan với đối tượng khác.



Cách so sánh: Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí, nêu rõ
quan điểm, ý kiến của người viết.

Thao tác lập luận bình luận:


Bình luận là bàn bạc, nhận xét, đánh giá về một vấn đề .

6




Cách bình luận: Trình bày rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận, đề xuất và chứng tỏ
được ý kiến nhận định, đánh giá là xác đáng. Thể hiện rõ chủ kiến của mình.

Thao tác lập luận bác bỏ:


Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai



Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiến đúng; nêu từng
phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần.

d. Tìm hiểu thông tin thuộc về nội dung của văn bản ( Nhan đề, tu tưởng tác giả gửi gắm trong
văn bản; thông điệp rút ra từ văn bản; hoặc ý nghĩa, nội dung của văn bản...)
HS tự thực hiện
2. Bài tập vận dụng
Bài 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Cuộc sống bộn bề tấp nập, ta thênh thang giữa cuộc đời…thấy sao cuộc đời này rộng lớn
quá! Ai đó nói, hạnh phúc không phải là một đích đến mà là một cuộc hành trình. Ta có còn đủ sức
để tiếp tục cuộc hành trình mang tên Hạnh phúc ấy không? Đôi lúc ta thấy thèm một sự sẻ chia,
thèm một tâm hồn đồng điệu, thèm sự cảm thông, thấu hiểu từ ai đó, từ một trái tim chân thành.
Ta còn thiếu sót rất nhiều, còn chưa đủ mạnh mẽ. Dường như ta đánh mất mình trong cái xô
bồ, trong tất bật, trong dòng chảy vô tận và không đích đến. Ta thoáng nhìn về quá khứ: những việc
ta đã làm, những người ta đã gặp, những thành công ta đạt được, những thành công ta đã nếm
trải…
Lâu lắm rồi ta không khóc, vì nước mắt đong đầy khóe mi chẳng thể rơi. Ta ghét vị mặn của
nước mắt. Ta ghét phải tự mình lau khô. Ta ghét khi ta khóc, xấu xí, nguệch ngoạc vô cùng. Ta
muốn hét thật to, muốn đi thật xa, muốn kêu kên rằng: Cuộc đời ơi, ta mệt mỏi quá!
Trưa nay ở cơ quan, đêm về ở xóm trọ, ta một mình ngồi lặng. Bỗng ngân vang lên trong cõi
lòng câu thơ của Bạch Cư Dị: Thử thời vô thanh thắng hữu thanh (Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng
hay). Trong “Tì bà hành”, ngoài những lời thơ miêu tả âm thanh sống động, thần tình vang lên từ
ngón tay của người ca nữ, Bạch Cư Dị còn nắm được cả khoảnh khắc ngưng lặng kì diệu của tiếng
đàn như thế!
(Nguồn Facebook)
1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên?
2. Hãy giải thích ngắn gọn vì sao nói: hạnh phúc không phải là một đích đến mà là một cuộc hành
trình?
3. Anh/chị thích một cuộc sống như thế nào? Êm đềm , phẳng lặng hay đua chen, tranh đấu?
Bài 2: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
7


Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.
(Chiều xuân– Anh Thơ, Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục 2008, tr.51-52)
1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
2. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.
3. Các từ êm êm, im lìm, tơi bời, vu vơ, rập rờn, thong thả, chốc chốc thuộc loại từ gì?
4. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi? Tác
dụng của biện pháp tu từ đó?
5. Tìm những câu thơ có sử dụng từ chỉ màu sắc.
Bài 3: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Dân số ngày càng tăng đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc
cũng như toàn thể cộng đồng. Những ảnh hưởng đó là: không có đủ lương thực, thực phẩm cung
cấp cho bữa ăn hằng ngày, từ đó dẫn đến cảnh đói nghèo, tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến sự
suy thoái sức khỏe, giống nòi không những không phát triển mà còn dễ dàng bị thoái hóa. Dân số
tăng, trong khi việc làm, cơ sở sản xuất có hạn dẫn đến thiếu việc làm, thất nghiệp ngày càng tăng,
dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, của gia đình và cá nhân sẽ giảm
sút.
1. Nêu phong cách ngôn ngữ của đoạn văn ? Đặt tên cho đoạn văn.
2. Nêu phương thức biểu đạt chủ đạo của đoạn văn ?
3. Chỉ ra câu văn thể hiện chủ đề của đoạn văn ?
4. Nêu các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn văn trên?
Bài 4: Cho đoạn thơ sau:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
8


Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
1. Nêu phong cách ngôn ngữ của văn bản ?
2. Chỉ ra những biện pháp nghệ thuật ?
3. Em hiểu ý nghĩa 2 câu thơ đầu như thế nào ?
4. Xác định những phép liên kết trong bài thơ ?
Bài 5: Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi
Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể
sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 - 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên
tới 70 - 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con
người.
Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến
được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt
động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt
động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém,
thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…
(Trích Vai trò của nước sạch với sự sống của con người - Nanomic.com.vn)
1. Nêu nội dung của đoạn trích.
2. Thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn trích trên là gì?
3. Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt của đoạn văn bản trên.

9


II. Phần tập làm văn
VỘI VÀNG

 Xuân Diệu 

Đề 1: Phân tích 13 câu đầu bài thơ “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu.
Bài làm
Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới với hồn thơ tiêu biểu cho tiếng nói
thiết tha, tình yêu cuộc sống - con người và luôn rạo rực khao khát được giao cảm với đời. Thơ
Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, độc đáo trong chất liệu cũng như trong bút pháp thi ca. Vội vàng có thể
coi là một thi phẩm đặc sắc nhất trong tập Thơ thơ - tập thơ đầu tay Xuân Diệu dâng tặng cho thế
gian. Bài thơ vừa như một nguồn cảm xúc trào dâng, vừa là tuyên ngôn sống của một nhà thơ khát
khao yêu cuộc đời. Đặc biệt, mười ba câu đầu là đoạn thơ hay nhất thể hiện tình yêu thiết tha, niềm
say đắm mãnh liệt của thi nhân với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế.
Với Vội vàng, Xuân Diệu đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ hấp dẫn người đọc
không chỉ bởi sự kết hợp hài hòa giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch luận lý sâu sắc trong một
giọng điệu sôi nổi, đắm say mà còn mang đến những trải nghiệm mới mẻ về sự cách tân nghệ thuật
độc đáo của một hồn thơ mới.
Mở đầu bài thơ, tác giả bày tỏ khát vọng kì lạ đến ngông cuồng - khát vọng đoạt quyền của
tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên và những vận động của đất trời:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Khát khao, ước muốn của Xuân Diệu được thể hiện rất rõ ràng thông qua diệp ngữ “Tôi muốn…”
kết hợp với thể thơ năm chữ cùng tiết tấu mạnh mẽ, quyết đoán. Đó là ước muốn “tắt nắng” và
“buộc gió”. Nhưng, nắng hay gió lại là những hiện tượng của tự nhiên, luôn trường tồn bất biến
theo quy luật của thời gian. Do đó, nếu chỉ đọc qua, hẳn người đọc sẽ cảm thấy ước muốn của nhân
vật “tôi” là những ước muốn phi lí, không tuân theo cơ sở khoa học và sự vận động của đất trời.
Tuy vậy, “tắt nắng” - “buộc gió” hay cưỡng lại quy luật của tự nhiên có lẽ lại là phương thức duy
nhất để có thể lưu lại được hương sắc của thiên nhiên, của cuộc sống. Đó mới chính là ước muốn
chân chính thẳm sâu trong tâm hồn của tác giả. Phải chăng, Xuân Diệu đang muốn níu giữ thời gian
10


dừng lại ngay tại phút giây này để ông được ngắm mãi màu sắc và thưởng thức mãi hương thơm
của cuộc đời, để mùa xuân của vạn vật được trường tồn theo năm tháng. Và, đằng sau những khao
khát mãnh liệt ấy cũng chính là một tâm hồn nồng nhiệt với thái độ trân trọng, nâng niu, gìn giữ cái
đẹp của thiên nhiên và cuộc sống.
Là một nhà thơ luôn khát khao được giao cảm với đời, sự mong muốn chiếm lĩnh vẻ đẹp
thiên nhiên của Xuân Diệu phải chăng xuất phát từ bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, mơn mởn, non tơ
nơi thiên đường trần thế:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa”.
Điệp từ “này đây” được lặp lại năm lần vừa diễn tả sự giàu có, phong phú bất tận của thiên nhiên;
vừa thể hiện tâm trạng hân hoan, cảm xúc vui sướng của tác giả. “Này đây” là sự hiện hữu của
hương sắc cuộc đời, của thiên nhiên trần thế, không phải ở đâu xa xôi mà gần ngay trước mắt;
chẳng phải ở tương lai hay quá khử mà chỉ đơn giản là ở ngay lúc này! “Ong bướm”, “hoa của đồng
nội”, “lá của cành tơ” hay “yến anh” đều là những hình ảnh thực gợi lên một bức tranh vườn xuân
sáng trong, ngập tràn ánh sáng, niềm vui; có màu sắc, có sức sống mơn mởn non tơ, có âm thanh
rộn rã, có hương ngọt ngào. Hình ảnh ẩn dụ “tuần tháng mật” thể hiện sự ngọt ngào của hạnh phúc
lứa đôi, sự si mê say đắm của tình yêu. Có lẽ, trong mắt của Xuân Diệu, cái đẹp của cuộc đời thật
giống với cái đẹp của người thiếu nữ đang trong độ xuân thì. Quả thực, nhà thơ đã cho người đọc
chiêm ngưỡng một thiên đường trên mặt đất. Từ đó ta thấy rằng, ông là một người có tâm hồn yêu
đời, yêu sống tha thiết, cuồng nhiệt, đắm say với quan niệm về cái đẹp gần gũi, bình dị. Nó không ở
nơi xa chốn lạc mà ở mặt đất, ngay giữa cuộc sống này!
Câu thơ “Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa” gợi một liên tưởng hết sức thú vị và độc đáo.
Hình ảnh “thần vui gõ cửa” rất gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại Hy Lạp cổ. Hay ta
cũng có thể hiểu đó là vị thần mang niềm vui, ban tặng cho thế gian vào mỗi buổi sớm, đánh thức
mọi người dậy để tận hưởng thiên nhiên, tận hưởng cuộc sống tươi đẹp. Với Xuân Diệu, mỗi ngày
được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được tận hưởng hương sắc của vạn vật là một niềm vui
sướng hân hoan.
Và, trong niềm vui sướng hân hoan đó, ngòi bút của nhà thơ đã thực sự xuất thần khi tạo ra
một câu thơ tuyệt bút:
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.
Đây là câu thơ mới mẻ nhất, hiện đã nhất, khái quát được sự hấp dẫn của mùa xuân bằng cách so
sánh vô cùng độc đáo. Sự hấp dẫn của thiên nhiên hiện ra trong vẻ đẹp của người tình với “cặp môi
11


gần” căng mọng, tươi trẻ, đầy mê đắm và quyến rũ. Từ “ngon” được thốt lên chứa đầy khát khao.
“Tôi” đã sử dụng mọi giác quan: thị giác, thính giác, vị giác rồi đến cả xúc giác để tận hưởng thiên
nhiên mùa xuân và cuộc đời. “Tháng giêng” là một khái niệm thời gian, vốn là vô hình nhưng khi
đặt trong phép so sánh, ta lại thấy hình ảnh đó hiện lên một cách hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi của
người thiếu nữ đầy sâu sắc.
Nhưng, đương lúc ngất ngây mê đắm vô cùng trong thiên đường nơi trần thế thì cũng chính
là một khắc người thi sĩ ngừng lặng:
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”.
Câu thơ bị ngắt làm hai thể hiện một niềm vui không được trọn vẹn. Bởi lẽ, Xuân Diệu nhận ra
rằng, niềm vui sướng ấy không kéo dài được lâu. Dự cảm mơ hồ về sự mong manh, ngắn ngủi của
kiếp người đã khiến cho thi nhân phải sống “vội vàng”.
“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Câu thơ cuối tựa như một chiếc bản lề, khép mở tâm trạng vừa vội vàng đắm say vẻ đẹp hương sắc
của cuộc sống, vừa là linh cảm bất an, nỗi băn khoăn âu sầu của nhà thơ vì thời gian trôi qua mau,
vì tuổi trẻ một khi đã đi sẽ không quay trở lại. Quả thực, Xuân Diệu là một nhà thơ có cảm quan rất
tinh tế và nhạy cảm về thời gian.
Trong các tác phẩm của Xuân Diệu thời điểm trước Cách mạng thì đây có lẽ là những vần
thơ “Xuân Diệu” nhất. Bằng cách sử dụng các nghệ thuật; bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm
xúc mong manh và mạch luân lý; bằng giọng điệu say mê, sôi nổi cùng với những sáng tạo độc đáo
về ngôn từ và hình ảnh thơ; Xuân Diệu đã đem đến một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn tích cực.
Trong thế gian này, đẹp đẽ nhất, quyến rũ nhất chính là khi còn người đang trong thời xuân thì và
tình yêu, thiên đường chính là cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế. Vì vậy, hãy sống với niềm yêu tha
thiết, hãy say đắm tận hưởng và tận hiến để mỗi ngày qua đi ta lại được sống trọn vẹn trong tình
yêu và niềm hành phúc.
Đề 2: Phân tích 16 câu giữa bài thơ “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu
Bài làm
Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới với hồn thơ tiêu biểu cho tiếng nói
thiết tha, tình yêu cuộc sống - con người và luôn rạo rực khao khát được giao cảm với đời. Thơ
Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, độc đáo trong chất liệu cũng như trong bút pháp thi ca. Vội vàng có thể
coi là một thi phẩm đặc sắc nhất trong tập Thơ thơ - tập thơ đầu tay Xuân Diệu dâng tặng cho thế
gian. Bài thơ vừa như một nguồn cảm xúc trào dâng, vừa là tuyên ngôn sống của một nhà thơ khát
khao yêu cuộc đời. Đặc biệt, từ câu thơ 14 đến câu tho 29 là đoạn thơ hay nhất thể hiện quan niệm
nhân sinh mới mẻ của ông về thời gian và tuổi trẻ. .
Với Vội vàng, Xuân Diệu đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ hấp dẫn người đọc
không chỉ bởi sự kết hợp hài hòa giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch luận lý sâu sắc trong một
12


giọng điệu sôi nổi, đắm say mà còn mang đến những trải nghiệm mới mẻ về sự cách tân nghệ thuật
độc đáo của một hồn thơ mới.
Nếu như ở 13 câu đầu, thi sĩ đã tập trung thể hiện tình yêu thiên nhiên - cuộc sống tha thiết
đắm say thì ở đoạn thơ này, ông lại tập trung thể hiện những quan niệm mới mẻ về thời gian.
Với ba câu thơ đầu, người đọc thấy được những cảm nhận rất đỗi tinh tế của Xuân Diệu về
bước đi của thời gian:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”.
Ta thấy rằng, thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian “tuần hoàn”. Nghĩa là thời gian được hình
dung như một vòng tròn liên tục tái diễn, hết một vòng lại quay về vị trí ban đầu, cứ trở đi trở lại
mãi mãi. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn “tĩnh”, lấy cả sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo cho
thời gian. Còn đối với Xuân Diệu, ông nhìn đời bằng cái nhìn “động” bởi với ông, thời gian là
“tuyến tính”. Nghĩa là thời gian là một vòng chảy xuôi chiều, mỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi
vĩnh viễn. Bằng các cặp từ đối lập “tới” - “qua”, “non” - “già” và từ “xuân” được lặp lại năm lần; ta
thấy từng bước đi rất rõ ràng của thời gian. Nó như một dòng chảy không ngừng nghỉ, cái ta đang
có cũng đồng nghĩa với việc ta đang mất đi. Thông qua đó, ta cảm nhận được một nỗi lo sợ, ám ảnh
về thời gian: “tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới”. Điệp ngữ “nghĩa là” được lặp lại ba lần khiến cho
mạch thơ trở nên chặt chẽ hơn, sâu sắc hơn, cho thấy một quan niệm nhân sinh tích cực. Nếu các
nhà thơ xưa lấy sinh mệnh của vũ trụ làm thước đo cho cuộc đời thì Xuân Diệu lại lấy sinh mệnh cá
thể để đo thời gian: “xuân hết” - “tôi mất”, Từ “xuân” không chỉ để nhắc tới một mùa của trời đất
của tự nhiên mà còn là tuổi trẻ của một con người. Mùa xuân của thiên nhiên sẽ còn mãi nhưng mùa
xuân của con người chỉ có một, nếu qua đi, sẽ không thể lấy lại được nữa!
Có lẽ, cũng chính vì điều đó mà 6 câu thơ tiếp theo, người đọc có thể cảm nhận được một sự
trách móc, hờn dỗi:
“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
Bằng một hệ thống từ ngữ, hình ảnh được đặt trong thế tương phản - đối lập cao độ : “rộng” “chật”, “còn” - “chẳng còn”… tác giả đã làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối khôn nguôi. Vũ trụ là vĩnh
hằng, nhưng đời người chỉ có một. Rõ ràng, Xuân Diệu đã lấy sinh mệnh cá thể để làm thước đo
cho thời gian. Vì vậy khi nghĩ về tính hạn chế của kiếp con người, ông lại đem đến một nỗi ngầm
ngùi thật mới mẻ.
13


Hai câu thơ: “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi / Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”
tựa như một tiếng thở dài đầy bất lực của thi nhân. Và người đọc cũng nghe rất rõ cái “bâng
khuâng”, nuối tiếc phả vào trong trời đất.
Những câu thơ tiếp theo mang đậm dư vị của sự chia lìa:
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ đọ phai tàn sắp sửa”.
Mỗi khoảnh khắc giờ đây như đang vội bỏ hiện tại để trở thành quá khứ và hé mở tương lai là một
chân trời chia li, mất mát. Thời gian thấm đẫm hương vị của sự chia lìa và trải rộng ra kháp sông
núi, len lỏi tới từng cá thể. Biện pháp nhân hóa trong câu thơ khắc họa rõ nét hơn nỗi buồn thương,
nuối tiếc không chỉ riêng gì Xuân Diệu mà của cả vạn vật trong tự nhiên. Gió lùa trong lá giờ đây
không còn là những âm thanh tươi vui nữa mà là lời thì thào mang theo sự hờn giận khi phải chia
tay với cây lá. Chim chóc trên cây đang say sưa ca hát cũng chợt “đứt tiếng” vì lo sợ mùa xuân sắp
sửa trôi qua… Vì nhận thức được quy luật nghiệt ngã của tự nhiên nên có lẽ, Xuân Diệu đã đưa ra
cho không chỉ mình mà thậm chí là cả mọi người một lời gợi ý: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài
xuân”.
Đoạn thơ kết thúc băng một tiếng than, thể hiệ niềm nuối tiếc dâng đến tột cùng:
“Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa…”.
Câu cảm thám kết hợp với cách ngắt nhịp biến hóa đã làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng bâng
khuâng, vừa bối rối của thi nhân. Không thể “tắt nắng” hay “buộc gió” cũng không thể khiến thời
gian ngừng trôi, chỉ còn cách phải tranh thủ sống. Có lẽ vì vậy mà đoạn thơ tiếp theo bắt đầu bằng
những lời giục giã sống vội vàng, thể hiện một cái “tôi” luôn khao khát sống hết mình với tuổi trẻ,
với mùa xuân của cuộc đời.
Đoạn thơ sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ; giọng thơ sôi nổi nhưng không che giấu được
niềm nuối tiếc xót xa vì thời gian trôi qua đi cùng những từ ngữ, hình ảnh thơ đối lập cao độ. Tất cả
đã tạo nên một đoạn thơ đặc sắc, giàu ý nghĩa và mang đậm dấu ấn của Xuân Diệu.
Qua đoạn thơ, người đọc thêm trân trọng thông điệp mà tác giả muốn gửi tới những người
đang sống trong tuổi trẻ: Hãy sống hết mình, hãy biết trân trọng từng giây từng phút khi đang độ
xuân thì bởi một khi nó qua đi, ta không thể lấy lại được nữa. Đây hay cũng chính là tiếng lòng
chân thành của một tâm hồn nghệ sĩ luôn cháy bỏng với vẻ đẹp của cuộc sống - Xuân Diệu.
Đề 3: Phân tích 10 câu cuối trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu.
Bài làm
14


Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới với hồn thơ tiêu biểu cho tiếng nói
thiết tha, tình yêu cuộc sống - con người và luôn rạo rực khao khát được giao cảm với đời. Thơ
Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, độc đáo trong chất liệu cũng như trong bút pháp thi ca. Vội vàng có thể
coi là một thi phẩm đặc sắc nhất trong tập Thơ thơ - tập thơ đầu tay Xuân Diệu dâng tặng cho thế
gian. Bài thơ vừa như một nguồn cảm xúc trào dâng, vừa là tuyên ngôn sống của một nhà thơ khát
khao yêu cuộc đời. Đặc biệt, 10 câu cuối là đoạn thơ hay nhất, là lời giục giã sống vội vàng, cuống
quýt để tận hưởng mội giây phút tuổi xuân.
Với Vội vàng, Xuân Diệu đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ hấp dẫn người đọc
không chỉ bởi sự kết hợp hài hòa giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch luận lý sâu sắc trong một
giọng điệu sôi nổi, đắm say mà còn mang đến những trải nghiệm mới mẻ về sự cách tân nghệ thuật
độc đáo của một hồn thơ mới.
Nếu phần đầu và phần giữa bài thơ, tác giả bày tỏ ước muốn của một cái “tôi” táo bạo với
khát khao cưỡng lại quy luật của tự nhiên, đoạt quyền của tạo hóa để níu giữ lấy hương sắc của
cuộc đời; rồi chợt nhận ra mình không thể chiến thắng được dòng chảy của thời gian. Thì trong
đoạn thơ cuối, Xuân Diệu đã phát hiện ra cách chiến thắng điều đó bằng cường độ sống, khát vọng
sống, tận hưởng và tận hiến, sống bùng cháy như ngọn lửa. Và đây cũng chính là lời giải đáp cho
những băn khoăn mà ông vẫn hằng trăn trở.
Với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, quyến rũ nhất chính là khi con người được sống giữa
tình yêu và tuổi trẻ. Thiên đường chính là bức tranh cuộc sống tươi đẹp nơi trần gian. Thế nhưng
đời người chỉ có hạn, tuổi xuân lại ngắn ngủi và trôi qua rất nhanh. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ luôn
sống “vội vàng”, trân trọng từng giây phút tuổi trẻ khi chưa quá muộn:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”
Câu thơ là lời giục giã hãy sống cho xứng đáng, hãy sống hết mình, hãy sống đầy nhiệt huyết. Dấu
“!” giữa câu đã thể hiện một cách nồng nhiệt khát khao ấy. Đây hay cũng chính là một quan niệm
sống đẹp, tích cực và mới mẻ.
Nếu như ở đoạn thơ trên, mạch thơ đang từ băn khoăn, tiếc nuối, dỗi hơn thì đến đây bỗng
bừng lên một nhịp sống mới. Giữa những câu thơ dài, thêm vào một câu thơ ngắn với nhịp thơ rất
dồn dập:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”.
Câu thơ “Ta muốn ôm” là một câu thơ rất đặc biệt, chỉ có 3 tiếng. Ở đây, tác giả đã thay đổi đại từ
xưng hô từ “tôi” sang “ta” thể hiện sự hòa nhập với mọi người, với đất đời. Mặt khác, 3 tiếng “Ta
muốn ôm” đặt giữa dòng khiến người đọc liên tưởng tới vòng tay dang rộng của thi nhân đang ôm
“cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”.
Và, 4 câu thơ tiếp theo là sự cụ thể hóa cho khát khao của tác giả:
“Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
15


Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều,
Và non nước, và cây, và cỏ rạng.”.
Điệp ngữ “Ta muốn” được lặp lại ba lần kết hợp với các động từ có biên độ tăng dần: “riết”, “say”,
“thâu”, “cắn” đã thể hiện cảm xúc tăng tiến, tạo nên những làn sóng ngôn từ cộng hưởng, đan xen,
mỗi lúc một say sưa, càng lúc càng dâng trào. Và theo lẽ dĩ nhiên, đối tượng của niềm khát khao mà
nhà thơ muốn hướng đến chính là thiên nhiên phong phú, đa dạng. Có khi cụ thể, hữu hình như
“mây”, “cánh bướm”; có khi vô hình như “gió”; có khi mênh mang trải rộng như “non nước”; có
khi to lớn như “cây” hoặc có khi lại nhỏ bé, tươi tắn như “cỏ rạng”. Từ “và” được lặp lại ba lần
trong một câu thơ tưởng như thừa thãi gây nhàm chán. Nhưng, đây chính là dụng ý nghệ thuật của
tác giả. Liên từ “và” đã đem đến hiệu quả đầy bất ngờ trong việc diễn tả sự vồ vập, khao khát vô
hạn về việc được tận hưởng hương sắc của cuộc đời.
Và, theo lẽ tất nhiên, khi đã tận hưởng thì phải tận hưởng một cách trọn vẹn nhất, đủ đầy
nhất. Hai câu tiếp theo, Xuân Diệu đã cho người đọc thấy rõ điều đó:
“ Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nên thanh sắc của thời tươi”.
Có thể nói, chỉ với từ “cho” thôi, một lần nữa, nhà thơ đã tận dụng triệt để hiệu quả nghệ thuật của
phép điệp để làm tăng cấp độ của khát vọng hưởng thụ. Các tính từ láy “chuếnh choáng”, “đã đầy”,
“no nê” đã cho thấy sự tận hưởng trọn vẹn mà tác giả luôn khao khát.
Quả thực, Xuân Diệu đã khắc phục được dòng chảy của thời gian bằng thái độ sống vội
vàng, tích cực của mình. Với ông, thế giới này đẹp đẽ, hấp dẫn như một người tình đầy xuân sắc. Vì
thế, ta không chỉ bắt gặp một Xuân Diệu thi nhân mà còn gặp Xuân Diệu tình nhân đang say đắm
trước men đời mời gọi. Đó cũng là lý do ông bộc lộ một cứ chỉ đáng yêu khi không nén nổi nỗi lòng
mình:
“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
“Hồng” là một gam màu ấm, sáng - một gam màu tích cực mang đến cảm giác nồng nàn, xao
xuyến. Tác giả đã rất táo bạo khi sử dụng động từ “cắn” để diễn tả sự đê mê, khát khao tận hưởng
mãnh liệt hương sắc của mùa xuân của một tâm hồn yêu cuộc sống tha thiết.
Trong các bài thơ của Xuân Diệu thời điểm trước Cách mạng thì đây có lẽ là những vần thơ
“Xuân Diệu” nhất. Mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, say đắm cuộc đời. Bằng việc sử
dụng các nghệ thuật một cách tài tình kết hợp với giọng điệu say mê, sôi nổi và những sáng tạo độc
đáo về hình ảnh và ngôn ngữ thơ; Xuân Diệu đã đem đến một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn
tích cực: Tuổi trẻ và những điều đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi con người đã đang và sẽ trôi qua rất
nhanh, do vậy, hãy sống “vội vàng”, hãy tận hưởng và tận hiến từng giây từng phút để khi nó trôi
qua, chúng ta không cảm thấy nuối tiếc!

16


TRÀNG GIANG

 Huy Cận 

Đề bài: Phân tích bức tranh thiên nhiên và cái "tôi" trữ tình trong bài "Tràng giang" của nhà
thơ Huy Cận
Bài làm
Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông nổi
danh từ phong trào Thơ mới với tập thơ đầu tay "Lửa thiêng". Và trong tập thơ đó, có lẽ "Tràng
giang" chính là tác phẩm nổi tiếng nhất, gây nhiều dư âm nhất trong lòng người đọc. Qua bài thơ,
Huy Cận đã khắc họa cảnh thiên nhiên trời rộng sông dài mênh mang, rợn ngợp và biểu hiện một
cái "tôi" thi sĩ mang đậm nỗi sầu nhân thế và tình yêu quê hương thiết tha, thầm kín.
"Tràng giang" được sáng tác vào một chiều cuối thu năm 1939, khi tác giả đang đi dạo
quanh sông Hồng, nhìn ngắm cảnh quê hương mình. Nhưng quê hương ấy đã rơi vào tay bọn Thực
dân và đất nước đang chìm trong bóng đen của nô lệ. Bài thơ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc
nhất của Huy Cận, đồng thờ cũng là một tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới.
Trước hết, với nhan đề bài thơ - "Tràng giang", Huy Cận sử dụng từ Hán - Việt. Điều đó đã
mang đến một sắc thái khác biệt cho bài thơ. Đó là sự cổ kính, cổ xưa, trang trọng, tao nhã. Và đồng
thời, "Tràng giang" nghiêng về sắc thái khái quát hơn, mang một vẻ gì đó trừu tượng hơn, vĩnh hằng
hơn. Do vậy, có thể khi sáng tác bài thơ, tác giả đã lấy cảm hứng từ dòng sông Hồng. Nhưng dòng
sông ấy khi đi vào bài thơ đã không còn chỉ là một dòng sông dài nói chung nữa mà đó là một dòng
sông chảy từ cổ xưa, một dòng sông đã chảy qua biết bao nền văn hoá, một dòng sông đã đi qua bao
áng cổ thi. Đặc biệt, cách gieo vần "ang" cho thấy độ vang, gợi cảm giác dòng sông như càng mênh
mang hơn, càng rộng lớn hơn, càng vĩnh hằng hơn và càng ám ảnh hơn trong tâm hồn người đọc.
Câu đề từ: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" tựa như một lời khái quát cho cả bài thơ.
Dựa vào chủ thể câu thơ, ta có thể hiểu câu đề từ theo hai nghĩa khác nhau. Nếu chủ thể là con
người, vây ta có thể hiểu, trong bức tranh kia là hình ảnh một người nào đó đang bâng khuâng, nhớ
nhung trước cảnh trời rộng, sông dài hoặc con người do bâng khuâng trước trời rộng mà nhớ tới
sông dài. Nếu chủ thể là tạo vật, vậy ta có thể hiểu là "trời rộng" bâng khuâng mà nhớ "sông dài".
Với cách hiểu này ta thấy, cả con người, cả trời đất cùng tràn ngập m,nỗi niềm bâng khuâng thương
nhớ. Và nỗi buồn ấy dường như từ trong lòng người và hồn người mà lan tỏa ra ngoại cảnh.
Vây là, ngay từ nhan đề và lời đề từ, tác giả đã lưu ý người đọc về khung cảnh thiên nhiên
mênh mông, hùng vĩ cùng với cái tôi thi sĩ "bâng khuâng" trước trời rộng, sông dài.
Khổ đầu bài thơ mở ra một bức tranh sông nước mênh mang:
"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,
17


Củi một cành khô lạc mấy dòng.".
Câu thơ thứ nhất đặc tả mặt nước và những con sóng của tràng giang với hình ảnh "sóng gơn". Câu
thơ thứ hai đặc tả những luồng nước trên sông. Nếu câu trên, sự vô biên được mở ra với hình ảnh
những lớp sóng nối tiếp nhau, xô nhau "điệp điệp"; thì ở câu dưới, nó lại được gợi nhắc qua hình
ảnh con thuyền buông mái chèo trôi mãi về phía cuối trời. Huy Cận thật tài tình khi đẩy hai từ láy
"điệp điệp" và "song song" xuống cuối câu khiến cho lời thơ đã hết mà âm hưởng của nó vẫn còn
đọng lại mãi trong tâm trí của người đọc. Hai câu thơ cuối khổ mang hai hình ảnh đối lập rõ nét. Đó
là sự đối lập giữa cái động và cái tĩnh, giữa vật đi xa và vật wor lại: thuyền thì trôi xuôi, nước thì ở
lại. Ngoài ra còn có một hình ảnh đối lập nữa, đó là sự đối lập giữa cái nhỏ và cái lớn: "củi một
cành khô" và "mấy dòng". Ở đây, cái nhỏ nhoi của "cành củi khô" càng làm nổi bật thêm cái rộng
và cái vô tận của dòng sông. Khong chỉ sử dụng nghệ thuật đối lập, tác gải còn dùng phép đảo ngữ
ấn tượng, không viết "một cành củi khô" mà viết "củi một cành khô" càng tô đâm hơn tính chất của
hình ảnh cành củi. Đồng thời, hình ảnh ấy còn ẩn dụ cho những kiếp người bơ vơ, trôi dạt giữa vũ
trụ bao la, giữa dòng đời xô đẩy mà trong đó cũng có chính bản thân tác giả. Từ những nét thiên
nhiên tạo vật đẹp mà buồn ấy, nhà thơ bày tỏ cảm xúc buồn man mác, một cái "tôi" bơ vơ, lạc lõng
để rồi dấy lên nỗi xót thương kiếp người nhỏ bé, phiêu dạt giữa dòng đời vô định.
Đến khổ thơ thứ hai, bức tranh "Tràng giang" có thêm chút âm thanh cuộc sống nhưng nỗi
buồn không những không vơi mà còn thêm thấm sâu vào cảnh vật:
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều,
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.".
Dường như điểm nhìn của bài thơ đã mở rộng, ôm trùm khoảng không gian lớn hơn, xa hơn bao
gồm cả làng xóm, bờ bãi, dòng sông. Nhưng ở đây, tất cả dường như đều vắng lặng, yên ả, chỉ có
mặt nước mênh mông, đôi bờ hoang vắng, cồn cỏ lơ thơ heo hút. Phải thật yên lặng lắm, nhân vật
trữ tình mới nghe được tiếng "chợ chiều" từ đằng xa vọng lại. Đây hay cũng chính là thủ pháp lấy
động tả tĩnh thường thấy trong thơ văn cổ điển. Khung cảnh này khiến chúng ta không khỏi không
nhớ tới những vần thơ trong bài "Qua đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan:
"Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.".
Cũng là cảnh buồn, đìu hiu, vắng lặng nhưng ở "Qua đèo Ngang", chúng ta còn thấy thấp thoáng
bóng dáng con người. Nhưng ở "Tràng giang", ta chỉ cảm nhận được sự tồn tại của con người thông
qua những âm thanh mơ hồ. Trong ánh chiều tắt dần, bóng tối buông xuống, nỗi cô đơn của thi sĩ
dường như lan tỏa, thấm đượm vào không gian cảnh vật, dâng cao mãi, hun hút tới tận đỉnh trời.
Câu thơ: "Nắng xuống trời lên sâu chót vót" mang đến một hình ảnh thơ thật độc đáo. Tác
giả không viết "sâu thăm thẳm", "cao chót vót" mà viết "sâu chót vót" có lẽ nhằm tả cảnh ánh chiều
18


in bóng xuống dòng sống rồi lại hắt lên bầu trời. Đây là một hình ảnh không gian ba chiều rợn
ngợp. Với nghệ thuật sử dụng từ ngữ cổ điển, phép chuyển đổi cảm giác mới lạ, ta thấy cảnh thiên
nhiên trở nên mênh mông hơn, sông thêm dài hơn, trời thêm rộng hơn và cái "tôi" trữ tình thêm cô
đơn hơn, nhỏ bé hơn giữa vũ trụ bao la.
Nét cảnh bờ bãi đìu hiu ấy tiếp tục được thể hiện qua khổ thơ thứ ba:
"Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng".
Hình ảnh "bèo dạt về đâu" một lần nữa gợi liên tưởng đến những kiếp người nhỏ nhoi, trôi dạt giữa
dòng đời. Từ láy "mênh mông" khiến không gian "tràng giang" tiếp tục được mở rộng hơn, thêm
phần hiu quạnh hơn. Mặc dù, đến đây, ta nhận thấy trong bức tranh có sự xuất hiện của sắc "xanh",
sắc "vàng"; điều đó góp phần làm cảnh vật tươi tắn hơn nhưng không thể làm mất đi sự hiu quạnh,
vắng lặng vốn có. Sự mênh mông vắng lặng ấy còn được nhấn mạnh thêm qua hai lần phủ định liên
tiếp: "không một chuyến đò ngang", "không cầu gợi chút niềm thân mật". Bên cạnh đó, việc sử
dụng nhiều thanh bằng cũng góp một phần tạo nên âm điệu trầm buồn cho đoạn thơ. Có lẽ vì vậy
mà cảnh thấm đẫm nội sầu của lòng người. Trong câu cuối, tác giả đảo từ "lặng lẽ" lên trước nhằm
nhấn mạnh thêm tính chất vắng lặng, hiu quạnh của bức tranh sông nước.
Nỗi buồn "điệp điệp" triền miên trong lòng người, lan tỏa vào cảnh vật, trở nên day dứt nhất,
khắc khoải nhất ở khổ thơ cuối với những nét thiên nhiên nổi bật sự đối lập:
"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.".
Với hai câu thơ đầu tiên, cảnh vừa mang nét cổ điển nhưng đồng thời cũng vừa mang nét hiện đại,
đó hay cũng chính là những nét sáng tạo của một nhà thơ trong phong trào Thơ mới. Ở đây, ta thấy
hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn là một hình ảnh quen thuộc được khắc hỏa bởi bút pháp ước lệ
tương trưng của thơ ca trung đại. Bên cảnh đó, Huy Cận cũng sử dụng nghệ thuật đối lập tương
phản: giữa thiên nhiên hùng vĩ "lớp lớp mây cao" với cánh chim nghiêng quá bé nhỏ. Thông qua đó,
ta thấy được tâm trạng không chỉ của riêng Huy Cận mà còn của rất nhiều những nhà thơ mới khác,
một tâm trạng buồn, da diết nhớ thương.
Và hai câu cuối, ta thấy nó vừa mang phong vị cổ điển nhưng cũng vừa trực tiếp nói lên tâm
trạng buồn nhớ quê hương của nhân vật trữ tình trong thơ. Tác giả lấy ý thơ của một nhà thơ
Đường, sáng tạo thành ý thơ của riêng mình để bộc lộ nỗi lòng, tâm trạng của bản thân. Với Thôi
Hiệu, khói sóng trên sông là một tín hiệu của ngoại cảnh gợi nhắc nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ trong tâm
cảnh. Nhưng với Huy Cận, dù không có một tín hiệu ngoại cảnh nào nhưng nỗi nhớ quê hương vẫn
19


được gợi lên trong tâm cảnh. Bởi vì nỗi nhớ ấy luôn thường trực và đã in sâu vào tâm khảm của
Huy Cận. Tuy nhiên, có lẽ, Huy Cận còn buồ hơn nhà thơ xưa. Bởi lẽ, Thôi Hiệu vì xa quê mà nhớ
quê. Còn Huy Cận, ông nhớ quê hương mặc dù đang đứng ngay trên mảnh đất "trông nhau cắt rốn"
của mình vì đất nước lcus bấy giờ đang bị Thực dân xâm chiếm. Từ đó, ta mới thêm thấm thía tấm
lòng yêu quê hướng của tác giả.
Bằng âm điệu trầm lắng, nhẹ nhàng; ngôn ngữ và hình ảnh thơ kết hợp giữa nđại và cổ điển;
người đọc thấy được "Tràng giang" không chỉ là một bức tranh thiên nhiên buồn mênh mang, hiu
quạnh. Mà, nó còn thể hiện cảm hứng nhân sinh, nỗi sầu nhân thế, tình thương người, tình yêu quê
hương tha thiết của Huy Cận. Bài thơ xứng đáng là tác phẩm tiêu biểu cho phong trào Thơ mới. Nó
sẽ sống mãi trong lòng người đọc như một áng thơ bất hủ.

CHIỀU TỐI

 Hồ Chí Minh 
20


Đề 1: Phân tích bức tranh thiên nhiên và cuộc sống nơi xóm núi trong tác phẩm “Chiều tối” của
Hồ Chí Minh để từ đó thấy được tinh thần lạc quan, ý chí sắt đá trong tâm hồn người chiến sĩ
yêu nước.
(Đề 2: Phân tích bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ
Chí Minh)
Bài làm
Hồ Chí Minh là một nhân tài kiệt xuất, một vị lãnh tụ vĩ đại, một vị cha già mà chúng ta
luôn một lòng yêu quý, kính trọng. Trong quá trình đi tìm lại tự do cho dân tộc, Bác đã phải chịu rất
nhiều gian khổ, nhiều lần bị bắt giam, tra tấn và hành hạ dã man. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, ở
Người vẫn ánh lên tinh thần lạc quan, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng. Bài thơ “Chiều tối”
nằm trong tập “Nhật kí trong tù” đã phần nào thể hiện được tinh thần ấy của Người thông qua bức
tranh miền sơn cước.
Tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người
bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đày đọa khắp các nhà lao tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc. “Chiều tối” là bài thất ngôn tứ tuyệt số 31 trong tập thơ ấy, ghi lại khoảnh khắc
mà Bác bị giải từ nhà lao Thiên Bảo đến Long Tuyền vào năm 1942. Bài thơ thể hiện một phong
cách nghệ thuật nhất quán là sự thống nhất trong đa dạng của tập “Nhật kí trong tù”. Đó chính là sự
vận động của hình tượng thơ, trong thơ Bác bao giờ cũng từ bóng tối hướng ra ánh sáng, từ lạnh lẽo
đến ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui.
Với hai câu thơ đầu, ta thấy bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng hiện lên với chút gì đó xa lạ
tựa như thoáng buồn hay ẩn chứa những liên tưởng mơ hồ:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không”
(“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây lơ lửng giữa tầng không”).
Hai câu thơ mang màu sắc của cổ thi bởi bút pháp miêu tả chấm phá và những thi liệu quen thuộc
của thơ cổ xưa. Không nói đến thời gian chính xác nhưng hình ảnh “quyển điểu” đã diễn tả không
gian và thậm chí là không gian. Đó là một buổi chiều tối. Sự mệt mỏi của cánh chim cô đơn, của
đám mây chiều có lẽ là được nhìn qua tâm trạng, qua lăng kính của một người tù tha phương. Trong
quãng đường chuyển lao mệt mỏi ấy, người tù vẫn dành cho thiên nhiên một tình yêu lớn. Phải
chăng vì vậy mà người đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên núi rừng thật đẹp và đậm chất cổ điển.
Cảnh ấy có sự hài hòa với lòng người. Rõ ràng, đó chính là sự đồng điệu giữa thiên nhiên và
tâm trạng con người. Song hình tượng thơ không dừng lại wor đó mà có sự vận động rất độc đáo.
Từ một bức tranh thiên nhiên, lời thơ đã chuyển sang một bức tranh sinh hoạt, bình dị.

21


Thời gian từ chiều muộn đã chuyển sáng chiều tối. Cảm xúc của con người không còn
thoáng buồn nữa mà đã thấy vui. Không gian cũng bừng sáng lên màu đỏ “rực hồng” của lò than:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
(“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”).
Hình ảnh cô gái xay ngô tối trở thành hình ảnh trung tâm của bài thơ, toát lên vẻ trẻ trung, khỏe
mạnh, sống động. Vẻ đẹp của bức tranh thể hiện ở hình ảnh người lao động. Tâm hồn Hồ Chí Minh
luôn hướng về tương lai, về nơi có ánh sáng ấm áp của cuộc sống. Câu thơ mang đậm sắc thái của
hiện đại. Tác giả sử dụng thành công cấu trúc liên hoàn: “ma bao túc” - “bao túc ma hoàn” gợi liên
tưởng tới vòng tuần hoàn của cối xay ngô. Ở đó, người ta nhận ra nhịp điệu trôi chảy của thời gian h
đã hòa vào nhịp điệu của cuộc sống. Song, đêm tối không lạnh lẽo âm u mà bừng sáng bằng ngọn
lửa hồng.
Bài thơ kết lại bằng chữ “hồng” chính là nhãn tự, thu được cả linh hồn và sức sống của toàn
bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ “hồng” ấy. Nó thể hiện niềm tin tưởng, ý chí, nghị lực kiên
cường của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, kết thúc bằng hình ảnh ngọn lửa hồng
khiến người đọc cảm thấy ấm áp với niềm vui len lỏi. Bởi lẽ, ngọn lửa của sự sống vẫn còn lung
linh, tươi sáng và sưởi ấm mãi muôn dời.
Bài thơ vừa mang phong vị cổ điển vừa có phẩm chất hiện đại, dào dạt cảm xúc của thi nhân
trước thiên nhiên và con người lao động bình dị mà cao đẹp. Cảnh chiều vùng sơn cước trong cái
nhìn của người tù trên đường lưu đày với sự chuyển đổi của thời gian và không gian đã làm cho bức
tranh “Chiều tối” không kết thúc với bóng đêm u tối, với cái buốt lạnh của núi rừng mà ấm sáng bởi
ngọn lửa hồng - ngọn lửa của một trái tim, một tấm lòng yêu sự sống, yêu đời, yêu nước, yêu dân
tộc và yêu nhân dân vô hạn.
Đề 3: Phân tích chất thơ và chất tình trong bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ Chí Minh
Gợi ý
1. Giải thích khái niệm:
a. Chất thép:
- Nghĩa đen: Thép là hợp kim vừa có độ bền, độ cứng và độ dẻo, được tạo ra bởi sự kết hợp của sắt
với một lượng nhỏ cacbon.
- Nghĩa bóng: Chất thép trong thơ Bác là khí phách, là bản lĩnh, là ý chí chiến thắng trước hoàn
cảnh, là tinh thần lạc quan cách mạng cua Người.
b. Chất tình:
- Nghĩa đen: Tình là tình cảm của người với người, với thiên nhiên...

22


- Nghĩa bóng: Chất tình trong thơ Bác là tình cảm thương người, sống vì người khác đến quên
minh, là tình yêu quê hương đất nước,...
2. Biểu hiện của chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối :
a. Chất thép trong bài thơ “Chiều tối”:
* Chất thép thể hiện ở tinh thần vượt lên trên hoàn cảnh tù đày:
- Trong hoàn cảnh lao tù, Bác đă quên đi sự đày ải của chính mình.
- Bài thơ đã thể hiện được bản lĩnh của người chiến sĩ. Bởi nếu không có ý chí và nghị lực, không
có phong thái ung dung tự tại và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ
cam nhận thiên nhiên thật sâu sắc và tinh tế:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
* Chất thép thể hiện ở tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày:
- Có thể nói trong hoàn cảnh lao tù, Bác bị dẫn đi suốt một ngày dài từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao
Thiên Bảo, vậy mà Bác vẫn nhận ra vẻ đẹp của con người lao động ở xóm núi nơi đất khách quê
người:
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng.
- Lúc thời gian dần đi vào buổi tối, Bác đã nhìn thấy lò than rực hồng. Rõ ràng đặt hình ảnh cô gái
lao động trẻ trung, khoẻ khoắn bên cạnh hình ảnh lò than rực hồng, ta thấy hai câu thơ tạo nên vẻ
đẹp hài hoà đầy sức sống ở nơi núi rừng hẻo lánh. Phải là người có phong thái ung dung tự tại, lạc
quan yêu đời, Bác mới nhận ra được sự vận động của thời gian từ buổi chiều sang buổi tối, cảnh vật
từ cô đơn, lẻ loi của cánh chim, của chòm mây sang cảnh ấm áp của con người, của lò than rực
hồng.
b. Biểu hiện của chất tình trong bài thơ Chiều tối:
* Chất tình thể hiện ở tình cảm gắn bó của Người với thiên nhiên:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
- Hai câu thơ đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối ở chốn núi rừng nơi đất khách
quê người. Lúc ấy, người tù bất chợt nhìn lên bầu trời, Người thấy cảnh chim đang mải miết bay về
tổ Chòm mây đang chầm chậm trôi. Chim bay về tổ có ý nghĩa báo hiệu thời gian của buổi chiều
tối. Qua hình ảnh cánh chim mỏi mệt, người đi còn tìm thấy sự tương đồng hoà hợp với cảnh ngộ và
tâm trạng của mình. Vào lúc chiều tối, Người vẫn đang bị dẫn đi từ nhà lao Tĩnh Tây mà vẫn không
biết đâu là chặng nghỉ cuối cùng của một ngày.
- Câu thơ thứ hai tiếp tục phác hoạ không gian, thời gian. “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”.
Chòm mây cô đơn, lẻ loi và lặng lẽ, lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều.
23


- Người tù trên đường bị giải đi vẫn gửi lòng mình vào những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên.
Phải có sự quan sát tinh tế, phải có trái tim luôn rung động trước thiên nhiên, Bác mới miêu tả thiên
nhiên một cách tinh tế và gợi cảm đến như vậy.
* Chất tình thể hiện tình cảm gắn bó của Người với con người và cuộc sống nơi đất khách quê
người:
- Hai câu thơ cuối cho ta thấy thi nhân đã tìm thấy sức sống và niềm vui từ một mái ấm gia đình nơi
đất khách quê người:
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng.
- Hình ảnh cô thiếu nữ xav ngô và hình ảnh lò than rực hồng gợi lên một mái ấm gia đình. Bác
không hề cảm thấy bị lẻ loi, bị tách biệt khỏi cuộc sống. Cảm giác lẻ loi, cô đơn đã bị xua đi bởi
hình ảnh ấm áp của người thiếu nữ xay ngô và hình ảnh lò than rực hồng. Hai câu thơ cho ta thấy
được Bác không chỉ hoà hợp, gần gũi thiên nhiên mà trái tim của Người còn luôn hướng về con
người, về áng sáng. Bác luôn có được sự cảm thông một cách kì lạ với những người lao động.
* Bài thơ Chiều tối nói riêng, tập thơ Nhật kí trong tù nói chung đã thể hiện đầy đu và sâu sắc khí
phách, bản lĩnh, tinh thần lạc quan, tình yêu thiên nhiên, vêu con người và cuộc sóng cua người
chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. Đó chính là chất thép và chất tình thế hiện ở Bác.
* Bài thơ có sự hoà họp giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại: Yếu tố cổ điển thế hiện ở chỗ lấy
không gian tả thời gian, lấy ngoại cảnh tả nội tâm. Hình ảnh trong bài thơ mang tính ước lệ, chấm
phá (một cánh chim, một chòm mây...). Yếu tô hiện đại thể hiện ở chỗ: tứ thơ vận động, hướng đến
sự sống, nhân vật trữ tình gắn bó với cuộc sống, vó'i con người, luôn lạc quan tin tưởng...
* Bài thơ là bài học về ý chí và nghị lực, về tinh thần lạc quan và niềm tin vảo của cuộc sống của
Người.

TỪ ẤY

 Tố Hữu 
24


Đề bài: Phân tích cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ Tố Hữu khi được giác ngộ lí tưởng Cộng
sản qua bài “Từ ấy” của ông.
Bài làm
Trong nền văn học Việt Nam, Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của nền thơ ca Cách mạng. Từ
một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu đã trở thành một chiến sĩ Cộng
sản. Thơ Tố Hữu gắn với cuộc sống cách mạng và chính trị của đất nước. Tập thơ “Từ ấy” (1937 1946) là chặng đường đầu của thơ Tố Hữu. Bài thơ “Từ ấy” nằm trong tập thơ là tác phẩm có ý
nghĩa mở đầu, tựa như một tuyên ngôn về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng cũng tựa như một
tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ. Điều đó được thể hiện qua niềm vui sướng, say mê mãnh liệt,
những nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của một người thanh niên
mới giác ngộ lí tưởng Cộng sản.
Tâm trạng nhà thơ có sự vận động qua ba khổ thơ: Nếu như ở khổ thơ thứ nhất thể hiện
niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng thì khổ hai là những nhận thức mới về lẽ sống và cuối
cùng là khổ ba với sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm. Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được
thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, các biện pháp tu từ gợi cảm và ngôn ngữ giàu
nhạc điệu.
Hai câu thơ mở đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không thể
quên của đời mình:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”.
“Từ ấy” là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố
Hữu. Khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, đang hoạt động tích cực trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế,
được giác ngộ lí tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ”,
“mặt trời chân lí”, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng
tâm hồn ông. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu dàng mà là ánh sáng
rực rỡ của một ngày nắng hạ. Hơn thế, nguồn sáng ấy còn là mặt trời, và là mặt trời khác thường,
mặt trời chân lí - một sự liên kết sáng tạo giữ hình ảnh và ngữ nghĩa. Nếu như mặt trời của thiên
nhiên đem lại cho nhân gian ánh sáng, hơi ấm và sự sống cho vạn vật trong nhân gian thì Đảng
cũng là nguồn sáng kì diệu tỏa ra những tư tương đúng đắn, hợp lẽ phải, báo hiệu những điều tốt
lành cho cuộc sống. Cách gọi lí tưởng như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình của nhà thơ.
Thêm nữa, những động từ: “bừng” chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, “chói” chỉ ánh sáng có sức xuyên
mạnh; càng nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư
sản và mờ ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng, tình cảm.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×