Tải bản đầy đủ

Quy trinh cong nghe nhan giong

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

I. QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH BẰNG GIÂM HOM RAU BÒ KHAI

1. Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng
1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
- Tên địa phương
Tên thường gọi: Cây bò khai;
Tên khác: Piéc Yển (Tày), rau “Dạ Yến”, Dây hương; Phắc hạ (Thái)
Tên khoa học: Erythropalum scandens Blume
- Giá trị sử dụng
Lá và ngọn Bò khai là thức ăn quen thuộc của nhân dân mi ền núi. Ngoài
ra, nó còn được dùng để chữa các bệnh về thận, gan và nước tiểu vàng. Đi xa
mệt mỏi, nước tiểu vàng đục, chỉ cần ăn rau bò khai một hai lần, nước tiểu
trở lại trong veo. Theo kinh nghiệm dân gian của Bắc Thái, toàn cây Bò khai
sắc lấy nước uống chữa viêm gan siêu vi trùng đạt kết quả tốt. Thân cành
tươi bỏ lá, thái mỏng phơi khô, ngâm rượu uống chữa sốt, tê thấp.
1.2. Đặc điểm hình thái
Cây dây leo bằng tua cuốn, màu xám vàng hay vàng nhạt, già có màu
trắng mốc, non màu xanh. Cành mềm, khi non hơi có cạnh, màu xanh l ục. Lá
mọc cách.

Quả hình trái xoan, khi chín màu vàng hay đỏ, mang 1 hạt hình trứng.
Mùa hoa quả tháng 4 - 6; Quả chín tháng 6 – 10.
2. Quy trình nhân giống vô tính bằng giâm hom
Từ những kết quả thực nghiệm và thực tế quan sát, bước đầu chúng tôi
đã xây dựng được quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính bằng giâm hom rau
Bò khai với các bước kỹ thuật cụ thể như sau:
2.1. Thời vụ giâm:
Có thể giâm hom từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch.
1


2.2. Vật liệu giâm hom:
- Nguyên liệu giá thể: tốt nhất là cát sạch hoặc hỗn hợp cát sạch với
đất bột.
- Hỗn hợp duột bầu: Phân vi sinh 2%, phân chuồng hoai 10%, đất mùn
tán rừng 88%.
- Túi bầu: Sử dụng túi bầu có kích thước 14 x 16 (cm).
- Mái che: Cao 1,8 – 2 (m). Lợp bằng lưới cản quang có độ che bóng
khoảng 80%, sau đó giảm xuống 40% trước khi xuất vườn.
2.3. Chuẩn bị hom giâm và kỹ thuật giâm hom
- Chọn cành hom rau Bò khai: Chọn cành hom đúng tiêu chuẩn, là những cành
khỏe mạnh, cành bánh tẻ, to mập, thẳng, không sâu bệnh, ch ọn t ừ nh ững cây
mẹ 3 – 4 năm tuổi.
- Kỹ thuật cắt hom:
Hom được cắt vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Hom c ắt dài từ 6 –
10 cm, đảm bảo mỗi hom có từ 2 – 3 mắt mầm, và có khoảng 1 – 2 lá tùy
khoảng cách phân đốt của hom, khi cắt để lại 1/2 diện tích lá, cắt xiên lá. Kéo
cắt hom phải sắc, để nhát cắt nhẵn, không làm dập, sây xát vỏ hom. M ặt c ắt
của hom cắt vát so với trục cành, nhằm tạo tiết di ện lớn đ ể hom h ấp thu
thuốc kích thích ra rễ và lấy nước. Sau khi cắt vát xong nếu chưa giâm ngay
thì nhúng vào xô nước sạch cho tươi.
- Xử lý hom và cách giâm hom:
+ Nhằm giảm tối thiểu việc mất nước của hom. Do đó khi cắt hom
xong nhúng hom vào xô nước sạch cho tươi. Sau đó vớt ra để ráo nước rồi
chấm ngay vào thuốc kích thích sinh ra rễ khoảng 2 – 3 giây trước khi giâm.
Nên xử lý với thuốc IBA ở nồng độ 3000ppm sẽ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
+ Cách cắm hom: Cắm hom giâm một cách nhẹ nhàng vào nền giâm đã
tưới ẩm, ấn nhẹ sâu khoảng 2 – 3 cm, hoặc cắm hom th ẳng vào đúng tâm
bầu (nếu giâm trực tiếp trên bầu). Sau đó, dùng ngón tay ấn nh ẹ lấp đất gi ữ
cho hom giâm ổn định.


2


+ Môi trường giâm yêu cầu: Độ ẩm từ 75% - 80%, nhiệt độ trung bình
từ 22 – 250C, nền giâm thích hợp không chứa mầm bệnh.
2.4. Chăm sóc sau giâm
- Tưới nước: Điều tiết nước để vườn giâm luôn đủ ẩm:
+ Trong 7 ngày đầu tưới 1 ngày 2 lần.
+ Từ 20 ngày sau giâm tưới mỗi ngày một lần.
+ Tùy điều kiện thời tiết khí hậu có thể tăng hay giảm số lần tưới để
đảm bảo đủ ẩm cho vườn giâm.
- Làm cỏ: Do giâm vào đầu mùa mưa, do mưa nhiều cùng với ch ế độ tưới
thường xuyên nên ẩm độ cao, cỏ dại phát triển nhanh cần chú ý làm cỏ
thường xuyên.
- Bón phân: sau khi giâm khoảng 40 ngày cành giâm ra lá mạnh, dinh dưỡng
trong bầu không đủ cung cấp cho hom giâm nên cần tưới bổ sung phân bón
qua lá.
2.5. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn:
Cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn khi có ít nhất một mầm trở lên, có
từ 6 lá trở lên. Chiều dài chồi mầm đạt khoảng 7 - 15 cm. M ầm kh ỏe, không
sâu bệnh.
Hom giống trên 60 ngày tuổi là có thể xuất vườn.

3


II. QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH BẰNG GIÂM HOM RAU SẮNG

1. Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng
1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
- Tên địa phương
Tên thường gọi: Cây rau Sắng;
Tên khác: cây mì chính, cây rau ngót rừng, Phắc van pá (tiếng Thái)
Tên khoa học: Melientha suavis Pierre
Rau Sắng có 2 loại là rau Sắng gỗ và rau Sắng thân leo (Sắng dây).
Theo các cụ bô lão tại các bản dân tộc Thái loài cây này có cái tên là
Phắc van pá, sở dĩ các cụ trong bản đặt cho cái tên như vậy là vì khi ăn vào có
vị thơm ngon, bùi, ngọt, khi nấu canh suông càng nhai kĩ từng lá thì l ại càng
ngọt nên mới đặt cái tên Phắc van pá nó có nghĩa là rau ngọt.
- Giá trị sử dụng
Lá và ngọn Bò khai là thức ăn quen thuộc của nhân dân mi ền núi. Ngoài
ra, nó còn được dùng để chữa các bệnh về thận, gan và nước tiểu vàng. Đi xa
mệt mỏi, nước tiểu vàng đục, chỉ cần ăn rau bò khai một hai lần, nước tiểu
trở lại trong veo. Theo kinh nghiệm dân gian của Bắc Thái, toàn cây Bò khai
sắc lấy nước uống chữa viêm gan siêu vi trùng đạt kết quả tốt. Thân cành
tươi bỏ lá, thái mỏng phơi khô, ngâm rượu uống chữa sốt, tê thấp.
1.2. Đặc điểm hình thái
Sắng dây có dạng leo bằng tua cuốn, cành dạng tròn, m ềm, lá mọc đ ối.
Sắng gỗ dạng cây gỗ nhỡ, cành màu xám vàng hay vàng nh ạt, già có màu
trắng mốc, non màu xanh, hơi có cạnh, màu xanh lục, lá mọc cách.
Quả Sắng gỗ hình trái xoan, khi chín màu vàng hay đỏ, mang 1 h ạt hình
trứng. Mùa hoa quả tháng 4 - 6; Quả chín tháng 6 – 10.
2. Quy trình nhân giống vô tính bằng giâm hom
Từ những kết quả thực nghiệm và thực tế quan sát, bước đầu chúng tôi
đã xây dựng được quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính bằng giâm hom rau
Sắng với các bước kỹ thuật cụ thể như sau:
4


2.1. Thời vụ giâm:
Có thể giâm hom từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch đối với cả 2 loại
rau Sắng. Tuy nhiên, với rau Sắng dây cũng có thể giâm vào tháng 11, 12
dương lịch.
2.2. Vật liệu giâm hom:
- Nguyên liệu giá thể: tốt nhất là cát sạch hoặc h ỗn hợp cát s ạch v ới
đất bột.
- Hỗn hợp duột bầu: Phân vi sinh 2%, phân chuồng hoai 10%, đất mùn
tán rừng 88%.
- Túi bầu: Sử dụng túi bầu có kích thước 14 x 16 (cm).
- Mái che: Cao 1,8 – 2,0 (m). Lợp bằng lưới cản quang có đ ộ che bóng
khoảng 80%, sau đó giảm xuống 40% trước khi xuất vườn.
2.3. Chuẩn bị hom giâm và kỹ thuật giâm hom
- Chọn cành hom rau Sắng: Chọn cành hom đúng tiêu chuẩn, là những cành
khỏe mạnh, cành bánh tẻ, to mập, thẳng, không sâu bệnh, ch ọn t ừ nh ững cây
mẹ 3 – 4 năm tuổi (đối với sắng dây). Chọn cành bánh tẻ có đốm bì kh ổng
(lang vàng xanh) của cây mẹ khoảng 3 - 7 tuổi (đối với Sắng gỗ).
- Kỹ thuật cắt hom:
Hom được cắt vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Hom cắt dài từ 6 –
10 cm, đảm bảo mỗi hom có từ 2 – 3 đốt, và có khoảng 1 – 2 lá tùy kho ảng
cách phân đốt của hom, khi cắt để lại 1/2 diện tích lá, cắt xiên lá. Kéo c ắt
hom phải sắc, để nhát cắt nhẵn, không làm dập, sây xát vỏ hom. Mặt cắt c ủa
hom cắt vát so với trục cành, nhằm tạo tiết diện lớn để hom h ấp thu thu ốc
kích thích ra rễ và lấy nước. Sau khi cắt vát xong n ếu ch ưa giâm ngay thì
nhúng vào xô nước sạch cho tươi.
- Xử lý hom và cách giâm hom:
+ Để giảm tối thiểu việc mất nước của hom có th ể nhúng hom vào xô
nước sạch cho tươi. Sau đó vớt ra để ráo nước rồi ch ấm ngay vào thu ốc kích
thích sinh ra rễ khoảng 2 – 3 giây trước khi giâm. Nên x ử lý v ới thu ốc IBA ở
5


nồng độ 5000ppm sẽ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
+ Cách cắm hom: Cắm hom giâm một cách nhẹ nhàng vào nền giâm đã
tưới ẩm, ấn nhẹ sâu khoảng 2 – 3 cm, hoặc cắm hom th ẳng vào đúng tâm
bầu (nếu giâm trực tiếp trên bầu). Sau đó, dùng ngón tay ấn nh ẹ lấp đất gi ữ
cho hom giâm ổn định.
+ Môi trường giâm yêu cầu: Độ ẩm từ 75% - 80%, nhiệt độ trung bình
từ 22 – 250C, nền giâm thích hợp không chứa mầm bệnh.
2.4. Chăm sóc sau giâm
- Tưới nước: Điều tiết nước để vườn giâm luôn đủ ẩm:
+ Trong 7 ngày đầu tưới 1 ngày 2 lần.
+ Từ 20 ngày sau giâm tưới mỗi ngày một lần.
+ Tùy điều kiện thời tiết khí hậu có thể tăng hay giảm số lần tưới để
đảm bảo đủ ẩm cho vườn giâm.
- Làm cỏ: Do giâm vào đầu mùa mưa, do mưa nhiều cùng với ch ế độ tưới
thường xuyên nên ẩm độ cao, cỏ dại phát triển nhanh cần chú ý làm cỏ
thường xuyên.
- Bón phân: sau khi giâm khoảng 25 - 30 ngày cành giâm bật mầm, tuy nhiên
chưa xuất hiện rễ, vì vậy để cung cấp dinh dưỡng cho chồi sinh trưởng, phát
triển cần tưới bổ sung các loại phân bón qua lá như: Calci 20S, KOMIXR,
Seaweed – Rong biển 95%, Đầu trâu 502, Super Grow, Demiral… Sau 40 ngày
đối với Sắng dây, 60 ngày đối với Sắng gỗ hom giâm bắt đầu cho rễ, đây là
thời điểm có thể chuyển hom vào bầu. Giảm độ che bóng xuống còn 40% cho
đến khi xuất vườn.
2.5. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn:
Cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn khi có ít nh ất m ột m ầm tr ở lên, có
từ 6 lá trở lên. Chiều dài chồi mầm đạt khoảng 7 - 15 cm. M ầm kh ỏe, không
sâu bệnh.
Hom giống trên 60 ngày tuổi đối với Sắng dây, 120 ngày tuổi dối v ới
Sắng gỗ là có thể đem trồng.
6


III. QUY TRÌNH TRỒNG RAU BÒ KHAI THƯƠNG PHẨM

1. Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng
1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
- Tên địa phương
Tên thường gọi: Cây bò khai;
Tên khác: Piéc Yển (tiếng Tày), rau “Dạ Yến”, Dây hương;
Tên khoa học: Erythropalum scandens Blume
- Giá trị sử dụng
Lá và ngọn Bò khai là thức ăn quen thuộc của nhân dân mi ền núi. Ngoài
ra, nó còn được dùng để chữa các bệnh về thận, gan và nước tiểu vàng. Đi xa
mệt mỏi, nước tiểu vàng đục, chỉ cần ăn rau bò khai một hai lần, nước tiểu
trở lại trong veo. Theo kinh nghiệm dân gian của Bắc Thái, toàn cây Bò khai
sắc lấy nước uống chữa viêm gan siêu vi trùng đạt kết quả tốt. Thân cành
tươi bỏ lá, thái mỏng phơi khô, ngâm rượu uống chữa sốt, tê thấp.
1.2. Đặc điểm hình thái
Cây dây leo bằng tua cuốn, màu xám vàng hay vàng nhạt, già có màu
trắng mốc, non màu xanh. Cành mềm, khi non hơi có cạnh, màu xanh l ục. Lá
mọc cách.
Quả hình trái xoan, khi chín màu vàng hay đỏ, mang 1 hạt hình trứng.
Mùa hoa quả tháng 4 - 6; Quả chín tháng 6 – 10 dương lịch.
2. Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái
2.1. Chọn đất và làm đất
Cây rau bò khai dễ trồng và sinh trưởng tốt trên nhiều dạng lập địa và
đất có thành phần cơ giới khác nhau, tốt nhất là đất còn kết cấu sau nương
rẫy, vườn rừng hoặc rừng khai thác kiệt có độ tàn che từ 0,1-0,3.
Trên đất bằng: Cày, bừa, nhặt sạch cỏ dại sau đó lên luống để trồng
với kích thước chiều rộng 1,2m, chiều dài theo kích thước của thửa đất. Đào
7


hố
Trên đất vườn đồi, vườn rừng: Làm đất theo băng rộng 1m, băng ch ừa
0,5 m song song đường đồng mức, trên băng làm toàn diện hay cục bộ từng
khóm, cày hoặc cuốc sâu 30 cm.
2.2. Thời vụ, phân bón kỹ thuật trồng và chăm sóc:
- Thời vụ trồng tốt nhất là mùa mưa từ tháng 4 - 10 hàng năm.
- Mật độ - Khoảng cách:
+ Trên đất bằng: trồng với khoảng cách 50 x 100 cm (hàng x hàng: 100
cm, cây x cây: 50 cm), tương ứng với mật độ 20000 cây/ha;
+ Tại vườn đồi, vườn rừng: trồng với khoảng cách 120 x 120 cm (hàng
x hàng: 120 cm, cây x cây: 120 cm), tương ứng với mật độ 7000 cây/ha.
- Phân bón:
+ Chủ yếu là bón lót, tốt nhất dùng phân chuồng hoai, cứ 100 kg phân
chuồng trộn thêm 1kg NPK bón cho 30 hốc.
+ Khi cây sinh trưởng, phát triển mạnh, bắt đầu cho thu ho ạch c ần bón
bổ sung các loại phân bón lá như: Calci 20S, KOMIXR, Seaweed – Rong biển
95%, Đầu trâu 502, Super Grow, Demiral… theo liều lượng được khuy ến cáo
trên bao bì.
- Kỹ thuật trồng:
+ Trên đất bằng: Trên luống đã dọn sạch cỏ dại và làm đất c ứ cách
50cm cuốc 1 hố có kích thước 30x30x30cm cho phân trộn đều và tiến hành
trồng bình thường như trồng các loại cây khác.
+ Trên đất vườn đồi, vườn rừng: Trên băng đã dọn sạch thực bì và làm
đất cứ cách 120cm cuốc 1 hố có kích thước 30x30x30cm cho phân trộn đều
và tiến hành trồng bình thường như trồng trên đất bằng.
- Chăm sóc:
Cây bò khai là cây ưa đất ẩm, nên phải thường xuyên tưới nước nhất là
thời gian đầu. Khi cây đạt chiều cao 0,5 m thì bấm ngọn để cây ra nhiều chồi,

8


chồi dài 0,5 m ta lại bấm ngọn lần 2 và bước đầu đã được thu hoạch. Sau
một năm thì khép tán đến tuổi thành thục, cây cho nhiều cành đan chéo vào
nhau và xù to ra, ta duy trì bề rộng luống từ 1-1,2 m và cao ngang ngực 1,3 m.
- Phòng trừ sâu bệnh:
Đối với rau Bò khai, sâu bệnh xuất hiện trên đồng ruộng là rất ít, tuy
nhiên qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có 4 lo ại sâu h ại ch ủ y ếu
là: sâu xanh, sâu cuốn lá lớn, sâu bốn gù, nh ện. Trong đó ch ủ y ếu là sâu xanh
và sâu bốn gù là thường xuất hiện sau các trận mưa, khi có độ ẩm cao. Chúng
thường ăn cả lá non, lá già và mầm. Để trừ sâu hại chúng tôi khuyến cáo sử
dụng các loại thuốc sinh học, thảo mộc như CATEX 3.6 EC... để đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm.
2.3. Kỹ thuật thu hoạch, chế biến
Bò khai có thể thu hái gần như quanh năm chỉ cần thỏa mãn độ ẩm và
dinh dưỡng phù hợp, nhưng mùa thu hái nhiều nh ất vẫn là mùa m ưa t ừ tháng
5 đến tháng 9, 10.
Thời điểm thu hái tốt nhất là vào buổi chiều mát, sau khi thu hái n ếu
chưa tiêu thụ được ngay thì nên cắm ngọn rau Bò khai vào chậu nước sạch sẽ
giữ được độ tươi xanh của sản phẩm.
Khi chế biến các món ăn, lấy lá và ngọn non vò kỹ, rửa sạch cho hết
mùi khai rồi luộc, nấu canh hoặc sào với thịt hay lòng gan các loại gia súc hay
gia cầm.

9


Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

058/04VIE
Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng
phục vụ các hoạt động nghiên cứu - phát triển
và bảo tồn ngoại vi

MS3: Báo cáo 6 tháng lần thứ nhất

Tháng 4 - 6/ 2005


1. Thông tin về đơn vị
Tên dự án

Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng
phục vụ các hoạt động nghiên cứu- phát triển và bảo
tồn ngoại vi

Phía Việt Nam

Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng - Viện KH lâm
nghiệp Việt Nam

Giám đốc dự án phía Việt Nam

Tiến sĩ Hà Huy Thịnh

Đơn vị Australia

Ensis - Tổ chức kết hợp giữa CSIRO và Scion, New
Zealand (Khoa lâm nghiệp và các sản phẩm rừng)

Nhân sự phía Australian

Brian Gunn, Khongsak Pinyopusarerk

Ngày bắt đầu

18/ 4/ 2005

Ngày kết thúc (theo dự kiến ban đầu)

Tháng 2/ 2007

Ngày kết thúc (đã thay đổi)

Tháng 4/ 2007

Chu kỳ báo cáo

Tháng 7 – 12/ 2005

Cán bộ liên lạc
Ở Australia: Cố vấn trưởng
Tên:
Chức vụ:
Tổ chức:

Brian Gunn
Cán bộ nghiên cứu
Ensis

Điện thoại:
Fax:
Email:

02 62818211
02 62818266
Brian.Gunn@ensisjv.com

Điện thoại:
Fax:
Email:

03 95452222
03 95452448
Irena.Mahnic@csiro.au

Ở Australia: đầu mối liên hệ hành chính
Tên:
Chức vụ:
Tổ chức:

Ms Irena Mahnic
Cán bộ tài chính
CSIRO FFP

Ở Việt Nam
Tên:
Chức vụ:
Tổ chức:

TS. Hà Huy Thịnh
Giám đốc
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Viện KH lâm nghiệp Việt Nam

8

Điện thoại:
Fax:
Email:

+84 4 8389813
+81 4 8362280
rcfti@netnam.vn


2. Trích lược dự án
Chính phủ Việt Nam đang tiến hành một chương trình trồng rừng quy mô lớn. Đó là kế
hoạch đến năm 2010 trồng thêm 5 triệu ha rừng trên đất trống, che phủ trên 1 triệu ha diện
tích rừng hiện có và khoảng hơn 50,000 ha rừng cộng đồng trồng cây phân tán. Chính phủ
Việt Nam cam kết cải thiện số lượng và chất lượng của hạt giống được thu hái từ chính các
vườn giống xây dựng trong nước, đây sẽ là nơi cung cấp nguồn hạt giống bền vững hơn là
phải phụ thuộc vào nguồn hạt nhập khẩu.
Dự án này nhằm nâng cao năng lực cho Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) và
một số trung tâm sản xuất vùng về công nghệ hạt giống cây rừng thông qua phát triển một
trung tâm hạt giống chuyên trách. Tổ chức Ensis, trước đây là Khoa lâm nghiệp và các sản
phẩm rừng CSIRO, là đối tác phía Australia của dự án đã ký kết tổ chức các khoá đào tạo
cần thiết.
Từ Báo cáo tiến độ giai đoạn từ bắt đầu đến ngày 30/ 6/ 2005, các hoạt động nghiên cứu
của Dự án tiếp tục được tiến hành theo đúng những yêu cầu chính của Bản văn kiện Dự án.
Các hoạt động chính diễn ra như sau:


Cài đặt phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu hạt giống cho máy tính của RCFTI tại Hà
Nội và cung cấp một bản hướng dẫn sử dụng phần mềm bằng tiếng Anh.



Thiết lập một khu thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh cho việc sản xuất hạt giống tại vườn giống Keo lá liềm



Đã tổ chức một khóa học về quản lý rừng giống có bản hướng dẫn kỹ thuật chi tiết
bằng tiếng Anh và đã được dịch sang tiếng Việt Nam



Các số liệu về các lô hạt của RCFTI đã được báo cáo



Tất cả các biểu mẫu liên quan tới việc tài liệu hóa nguồn hạt đã hoàn thành và được
in ấn

3. Báo cáo tóm tắt
Báo cáo tiến độ này là báo cáo giai đoạn từ 18/ 3 đến 31/ 7/ 2005. Thực hiện các hoạt động của dự
án theo đúng văn kiện dự án. Một cuộc họp khởi động dự án và khảo sát hiện trường do 2 chuyên
gia từ CSIRO: Pinyopusarerk Khongsak và Brian Gunn cùng với các cán bộ của RCFTI đã được
tiến hành trong tuần đầu khi triển khai dự án, vào ngày 16/ 3/ 2005. Sự hợp tác chặt chẽ tiếp theo
giữa các cán bộ của CSIRO và RCFTI vẫn đang được thực hiện.
4 cán bộ của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (FSIV) do TS. Hà Huy Thịnh làm trưởng đoàn
đã tới thăm Australia trong 2 tuần từ ngày 25/ 4 đến ngày 6/ 5/ 2005 thực hiện chuyến thăm quan
học tập theo kế hoạch dự án. Những ngày đầu của chuyến đi là tới Canberra để gặp gấn các cán bộ
của CSIRO, tiếp theo là đi thăm hiện trường tại Queensland để tìm hiểu về xây dựng và quản lý
vườn giống.
9


Trong thời gian từ 25/ 4 đến 18/ 5/ 2005, 4 cán bộ nghiên cứu của RCFTI đã đến Canberra trong 3
tuần tham gia khoá đào tạo về thu thập hạt giống và các hoạt động hiện trường liên quan, các công
việc xử lý hạt giống trong phòng thí nghiệm, quản lý và tài liệu hoá cơ sở dữ liệu hạt giống. Một
quyết định chung giữa RCFTI và CSIRO được đưa ra là tổ chức đồng thời 2 khoá đào tạo nhằm cho
phép cùng một thời gian các cán bộ cùng được tham gia tìm hiểu về những công việc liên quan đến
hạt giống khác nhau. Sự tiếp cận này cũng cho phép các cán bộ có thể trợ giúp nhau trong việc
phiên dịch tiếng Anh.
Việc xác định cơ sở dữ liệu hạt giống gần như đã hoàn thành. Những điều chỉnh nhỏ là cần thiết để
hoàn thiện và hỗ trợ chương trình máy tính để khắc phục tính không tương thích của hệ thống và
gần đây vẫn đang được triển khai. Cùng đó Bản hướng dẫn thao tác kỹ thuật cho người sử dụng
cũng gần như đã hoàn thành.

4. Giới thiệu và bối cảnh
Tóm tắt các mục tiêu, kết quả mong đợi và cách tiếp cận của dự án được liệt kê dưới đây:




Tổng cộng có 12 cán bộ phía Việt Nam sẽ tham gia một chuyến thăm quan học tập và 4 khoá
đào tạo tại Australia
ƒ

Đào tạo ở cấp quản lý - 4 người trong 2 tuần khi bắt đầu triển khai dự án để học tập về
việc điều hành chung của Trung tâm hạt giống Australia (ATSC) và thăm quan vườn
giống ở Queensland, New South Wales và Victoria.

ƒ

Đào tạo cán bộ kỹ thuật - 8 người chia 4 nhóm , 2 nhóm cho khoá đào tạo và bài giảng về
công nghệ hạt giống kết hợp với các hoạt động hiện trường (thu hái và chế biến hạt giống,
quản lý vườn giống), kỹ thuật xử lý hạt trong phòng thí nghiệm và tài liệu hoá. Các khoá
đào tạo cũng sẽ bao gồm cả phát triển chiến lược chọn tạo giống, thiết kế khảo nghiệm và
xử lý số liệu của các khảo nghiệm kết hợp với các hoạt động vườn giống. Các biện pháp
kỹ thuật để kiểm tra đặc tính sinh học sinh sản của các loài cây trồng rừng chủ yếu cũng sẽ
được học. Kiến thức về đặc tính sinh học sinh sản là một phần quan trọng cho những hiểu
biết về tỷ lệ giao phấn chéo và các nhân tố ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng của việc
sản xuất hạt giống.

4 cán bộ của CSIRO sẽ có tổng cộng 12 chuyến thăm Việt Nam để làm việc với RCFTI và các
trung tâm vùng thông qua các khoá đào tạo ngắn hạn của dự án.
ƒ

Tiếp theo cuộc họp khởi động dự án là các cuộc khảo sát hiện trường và gặp gỡ các cộng
tác viên cấp tỉnh.

ƒ

Cài đặt cơ sở dữ liệu và đào tạo cán bộ. Việc này sẽ được tiến hành bởi Bà Bronwyn
Clarke (thay thế cho Ông Kron Aken) vào năm 2005 và tiếp theo vào năm 2006 để đánh
giá và đưa ra những sửa đổi cơ sở dữ liệu để đảm bảo quá trình hoạt động hiệu quả và dữ
liệu được nhập đúng.

ƒ

Một khoá đào tạo thực hành đầu tiên về thu hái hạt giống tại địa điểm đã được xác định
trước (Đông Hà) vào năm 2005 với sự tham dự của 15 học viên và được hướng dẫn bởi
Ông. John Larmour (CFFP). Việc này sẽ được đánh giá lại tại chuyến thăm lần thứ hai vào
năm 2006, thông qua việc quan sát các học viên tại nơi họ làm việc về khả năng áp dụng
10


những kỹ thuật đã được đào tạo. Việc chế biến hạt giống sau thu hoạch và những yêu cầu
cho việc cất trữ hạt giống, những nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản cũng sẽ được
xem xét tổng thể lại.
ƒ

Những đánh giá hiện trường mở rộng đối với các vườn giống ở miền Bắc, miền Trung và
miền Nam Việt Nam

ƒ

Xử lý số liệu hiện trường để xác định biến dị di truyền bên trong các vườn giống và cung
cấp dữ liệu cơ bản cho việc tỉa thưa dựa trên các thông số di truyền.

ƒ

Thiết lập các ô thực nghiệm có áp dụng các biện pháp lâm sinh trong các vườn giống đã
chọn ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam

ƒ

Kiểm tra tỷ lệ ra hoa và khả năng sản xuất hạt giống tại các ô mẫu

ƒ

Xác định tỷ lệ thụ phấn chéo của các hạt lấy từ vườn giống để khẳng định chất lượng di
truyền

ƒ

Phát triển các chiến lược chọn tạo cho việc cải thiện và bảo tồn tính di truyền lâu dài



Cán bộ Việt Nam sẽ được đào tạo để làm sao có thể điều hành trung tâm hạt giống bằng cách
tài liệu hoá và sử dụng được cơ sở dữ liệu hạt giống của ATSC, và sẽ thảo luận với các chuyên
gia của ATSC nhằm có sự sửa đổi phù hợp với RCFTI.



Cán bộ của RCFTI và ATSC sẽ làm việc cùng nhau để xây dựng được Bản hướng dẫn các thao
tác kỹ thuật hạt giống cho RCFTI, phỏng theo Bản hướng dẫn các thao tác kỹ thuật sẵn có của
ATSC.

5. Tiến độ tính đến thời điểm báo cáo
5.1. Những điểm đáng chú ý
Giữa tháng 4 và tháng 6 năm 2005, dự án đã đáp ứng một cách tích cực nhiệm vụ đặt ra trước thời
gian. Cuộc họp khởi động dự án và khảo sát hiện trường được tiến hành vào tháng 4. Những chuyến
công tác tiếp theo của các cán bộ RCFTI/ FSIV đến Australia vào tháng 4 - tháng 5/ 2005 theo đúng
kế hoạch.
Chuyến thăm quan học tập của 4 cán bộ quản lý thuộc FSIV/ MARD bao gồm TS Hà Huy Thịnh
(Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng), Bà Đoàn Thị Mai (Trưởng phòng Công nghệ
sinh học của Trung tâm); Bà Nguyễn Thị Bé (Trưởng phòng Lâm sinh - Cục lâm nghiệp Bộ NN &
PTNT) và Ông Nguyễn Hữu Bê (Giám đốc lâm trường Đồng Hới). Chuyến thăm này đã thực hiện
từ ngày 25/4 đến ngày 6/ 5/ 2005 dưới sự hướng dẫn của Ông Pinyopusarerk Khongsak. Nhóm thăn
quan học tập này đã thăm cơ sở làm việc của CSIRO ở Canberra, đồng thời thảo luận và thăm hiện
trường ở Queensland dưới sự tổ chức của Cục lâm nghiệp bang Queensland. Ở Canberra, họ đã xem
xét về việc điều hành các hoạt động của Trung tâm hạt giống Australia (ATSC). Ở Queensland, họ
đã xem xét kỹ một dây chuyền hạt động liên quan tới việc xây dựng và quản lý vườn giống và rừng
giống.
4 cán bộ của RCFTI đã tham gia khoá đào tạo 3 tuần ở Canberra về công nghệ hạt giống và quản lý
cơ sở dự liệu hạt giống, từ ngày 25/ 4 đến ngày 18/ 5/ 2005. Nhóm này gồm Nghiêm Quỳnh Chi,
Cấn Thị Lan, Nguyễn Tuấn Hưng và Mai Trung Kiên đều là các cán bộ nghiên cứu của RCFTI.
11


Khoá học này diễn ra đồng thời với chuyến thăm quan học tập như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho
các cuộc thảo luận nhóm liên quan đến cơ sở dữ liệu hạt giống và chương trình đào tạo. Ngoài
những biện pháp kỹ thuật khác nhau mà đã được sử dụng ở CSIRO về thu hái hạt giống được trình
bày, những vấn đề liên quan đến cơ sở dữ liệu hạt, yêu cầu về trang thiết bị, tài liệu hoá, sách hướng
dẫn kỹ thuật cũng được tiến hành
Việc xác định cơ sở dữ liệu hạt giống phù hợp với những yêu cầu của RCFTI đang được tiến hành
cùng với xây dựng Bản hướng dẫn các thao tác kỹ thuật hạt giống. Theo dự tính của giai đoạn này,
cơ sở dữ liệu sẽ được cài đặt vào tháng 9/ 2005.
5.2. Lợi ích cho các đối tượng qui mô nhỏ
Những hoạt động của dự án chủ yếu nhằm xây dựng năng lực cho RCFTI. Do đó, lợi ích cho các
đối tượng qui mô nhỏ không được đề cập trong báo cáo này.
5.3. Xây dựng năng lực
Việc đào tạo cho các cán bộ RCFTI là hoạt động chính trong giai đoạn báo cáo này như đã đề cập ở
trên và trong Khung logic của dự án.
5.4. Quảng bá: Việc quảng bá không chưa được đề cập trong giai đoạn dự án này.
5.5. Quản lý dự án
Dự án được quản lý theo đúng khuôn khổ của Bản đề xuất dự án. Sự hợp tác hiệu quả giữa RCFTI
và CSIRO đang phát triển liên tục.

6. Báo cáo về những vấn đề đan chéo
6.1. Môi trường: Không có vấn đề gì để báo cáo.
6.2. Vấn đề về giới và xã hội: Không có vấn đề gì để báo cáo.

7. Các vấn đề về thực hiện và tính bền vững
8. Những bước quan trọng tiếp theo
6 tháng tiếp theo tính từ tháng 7 đến tháng 12/ 2005. Những hoạt động cần tiến hành trong giai đoạn
này bao gồm:
ƒ

Đưa vào hoạt động cơ sở dữ liệu và đào tạo cán bộ của RCFTI sử dụng chúng theo kế
hoạch đã định vào tháng 9/ 2005 (Bà Bronwyn Clarke)

ƒ

Mua sắm trang thiết bị cần thiết (RCFTI)

ƒ

Đào tạo về xây dựng và quản lý rừng giống theo kế hoạch vào tháng 8/ 2005 (Ông
K.Pinyopusarerk)

ƒ

Chuyến thăm của Ông Brian Gunn để xem xét lại các hoạt động của dự án và tổ chức cuộc
họp báo cáo tiến độ thực hiện dự án (dự kiến vào tháng 11/ 2005)
12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×