Tải bản đầy đủ

Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần bắc á – chi nhánh TT huế

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH DOANH
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á
CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ

Sinh viên thực hiện

Giáo viên hướng dẫn

Võ Thị Quỳnh Nga

PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Lớp: K48B Kế hoạch – Đầu tư
MSV: 14K4011230

Huế, tháng 5 năm 2018



Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của
bản thân tôi cùng với những kiến thức đã tích lũy được, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến quý thầy cô giáo đã truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế Huế. Đặc biệt, tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo là PGS.TS Hoàng Hữu
Hòa đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên Ngân
hàng Thương mại cổ phần Bắc Á - chi nhánh TT. Huế, đặc biệt là
phòng Tín dụngđã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong
quá trình thực tập tạiđây.
Cuối cùng tôixin được gửi lời cảm ơn tới gia đình cùng toàn thể
bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập và thực tập để
hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc đến tất cả mọi người!
Huế, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thựchiện
Võ Thị Quỳnh Nga

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

2


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
ĐVT
TT Huế


TMCP
NH
NHTM
KHKD
NHNN
Bắc Á – TT Huế
TCTD
TS
ATM

: Đơn vị tính
: Tỉnh Thừa Thiên Huế
: Thương mại cổ phần
: Ngân hàng
: Ngân hàng thương mại
: Kế hoạch kinh doanh
: Ngân hàng nhà nước
: Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á chi nhánh Huế
: Tổ chức tín dụng
: Tài sản
: Máy rút tiền tự động

DTTT

: Doanh thu thanh toán

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

3


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Phòng QHKH

: Phòng Quan hệ khách hàng

PGD

: Phòng giao dịch

KH

: Kế hoạch

VNĐ

: Việt Nam đồng

KHCN

: Khách hàng cá nhân

TG

: Tiền gửi

CVTD
GT

: Cho vay tiêu dùng
: Giá trị

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

4


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

DANH MỤC BẢNG

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

5


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp Thiết của đề tài
Kế hoạch kinh doanh là một kế hoạch mô tả quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian. Nó đánh giá việc kinh doanh đã có kết quả như thế
nào và tìm kiếm những triển vọng để phát triển và thành công trong tương lai.
Để có thể tồn tại và phát triển, tìm ra định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp
thì người làm ăn cần có một kế hoạch kinh doanh, kế hoạch giúp doanh nghiệp có thể
nắm bắt tình hình thực tế và đưa ra được những định hướng trong tương lai. Nó là một
công cụ quản lý của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp xác định các mục tiêu, các chiến
lược, xác định thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nội lực của doanh nghiệp,
đưa ra các phương hướng kinh doanh và phương thức để thực hiện các mục tiêu, chiến
lược.
Kế hoạch dù có sai vẫn rất cần thiết. Nó là trọng tâm của việc hoạch định kinh
doanh là thước đo của kết quả kinh doanh, lập kế hoạch kinh doanh giúp người làm ăn
có được tầm nhìn tốt hơn cho việc kinh doanh trong tương lai. Trong kinh doanh, nếu
không có kế hoạch gì vào phút khởi đầu, người làm ăn sẽ không biết phục hồi hoặc
điều chỉnh kế hoạch của mình ra sao.
Việc viết một kế hoạch kinh doanh là một bước quan trọng trong việc tạo nên nền
tảng cho quá trình thực hiện mục tiêu có tính thực tế của doanh nghiệp
Sau 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hội nhập của Việt Nam trong
nền kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường
quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển cho
các doanh nghiệp nhưng cũng đặt ra cho các doanh nghiệp nhiều thách thức đồi hỏi
doanh nghiệp phải vượt qua và phát triển hơn nữa. Như chúng ta đã biết, môi trường
kinh doanh là luôn thay đổi và bất ổn nên để các doanh nghiệp trong nước có thể vướt
qua những khó khăn cũng như thashc thức thì cần các doanh nghiệp cần phải lập một
kế hoạch kinh doanh cụ thể. Tất yếu, lập kế hoạch kinh doanh là rất quan trọng nhưng
quan trọng hơn vẫn là thực hiện kế hoạch đó như thế nào để có kết quả tốt nhất. Vì kết
quả đạt được nó nói lên việc lập kế hoạch kinh doanh đó có hiệu quả hay không.

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

6


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vị thế trên thị trường Ngân
hàng thương mại cổ phần Bắc Á – chi nhánh Thừa Thiên Huế trong những năm qua đã
có những giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình cho phù hợp với
từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được việc thức hiện kế
hoạch của Ngân hàng vẫn còn bộc lộ rõ nhiều hạn chế về mặt tổ chức, tiến độ,.. Xuất
phát từ đó, tôi chọn đề tài là: “Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh tại Ngân
hàng thương mại Cổ phần Bắc Á – chi nhánh TT. Huế”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trang và đề xuất giải pháp để cải thiện tình hình thực hiện kế
hoạch kinh doanh của ngân hàng Bắc Á – chi nhánh TT Huế .
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề thực hiện kế hoạch của
ngân hàng thương mại;
Phân tích thực trạng thực hiện kế hoạch kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Bắc Á
– chi nhánh TT Huế trong gia đoạn 2015 – 2017;
Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch kinh doanh của ngân
hàng đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện kế hoạch kinh doanh tại Ngân hàng
thương mại.
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh TT Huế.
Thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2015 – 2017 và đề xuất giải pháp đến
năm 2020.
Nội dung: Phân tích thực kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng Bắc Á –chi nhánh
TT Huế trong giai đoạn 2015 – 2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

7


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được lấy từ các nguồn
sau:
- Phòng tín dụng – Bắc Á –TT Huế: Báo cáo kết quả kinh doanh, tình hình tài sản
– nguồn vốn tại chi nhánh, Hệ thống kế hoạch nguồn vốn, kế hoạch dự nợ và thanh
toán thẻ qua 3 năm 2015 – 2017.
- Phòng Tín dụng – Bắc Á – TT Huế : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tạo
Chi nhánh Huế qua 3 năm 2015 – 2017.
- Các nguồn thông tin liên quan khai thác trên sách, tạp chí chuyên ngành và trên
internet.
4.2. Phương pháp thống kê mô tả và xử lí số liệu
Dùng phương pháp tổ thống kê để tổng hợp và xử lý số liệu điều tra theo các tiêu
thức phù hợp với mục đích nghiên cứu.
Số liệu điều tra được xử lí, tính toán trên máy tính theo các phần mềm thống kê:
excel,…
4.3.Phương pháp phân tích
Dùng phương pháp thống kê mô tả để nắm các đặc trưng về mặt (quy mô, cơ cấu,
quan hệ tỉ lệ, trình độ phổ biến,… của việc thực hiện kế hoạch kinh doanh
Dùng phương pháp dãy số thời gian để phân tích biến động tình hình thực hiện kế
hoạch kinh doanh trong giai đoạn 2015 – 2017 ở NHTMCP Bắc Á – chi nhánh TT Huế.
Dùng phương pháp so sánh và phân tích nhân tố để phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện KHKD của NH.
5. Kết cấu của khóa luận
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II : Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về thực hiện kế hoach kinh doanh ở
NHTM;
- Chương 2: Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bắc
Á –TT Huế giai đoạn 2015-2017;
- Chương 3: Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch kinh doanh tại
NHTMCP Bắc Á – CN TT HUẾ.
Phần III: Kết luận và Kiến nghị.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

8


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THỰC HIỆNKẾ HOẠCH KINH DOANH
1.1. Lý luận chung về kế hoạch kinh doanh của NHTM
1.1.1. Khái niệm kế hoạch
Kế hoạch là văn bản (hệ thống văn bản) nhằm cụ thể hóa chiến lược kinh
doanhcủa doanh nghiệp để thực hiện trong từng thời gian nhất định. Kế hoạch bao
gồm các nội dung chính: Các nhiệm vụ, chỉ tiêu, bảng biểu tính toán, cân đối; các biện
pháp bảo đảm thực hiện kế hoạch.
Kế hoạch kinh doanh là một kế hoạch mô tả quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian. Nó đánh giá việc kinh doanh đã có kết quả như thế
nào và tìm kiếm những triển vọng để phát triển và thành công trong tương lai.
1.1.2. Chức năng của kế hoạch trong hệ thống doanh nghiệp
Kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lí theo
mục tiêu và còn là một công cụ để ra quyết định, vì thế nó đóng góp một phần quan
trọng và không thể thiếu trong quá trình điều hành và quản lí vĩ mô, cụ thể được thấy ở
những chức năng sau:
- Chức năng ra quyết định: Kế hoạch kinh doanh cho phép ta xây dựng qui trình
ra quyết định và phối hợp các quyết định. Bất kì một doanh nghiệp nào cũng thường
gặp phải những vấn đề riêng (có thể là những mâu thuẫn trong nội bộ, những bất ổn
trong môi trường kinh doanh,…) làm tác động đến qui trình ra quyết định.
- Chức năng giao tiếp: Kế hoạch kinh doanh tạo thêm nhiều cơ hội cho ban lãnh
đạo và các bộ phận trong doanh nghiệp có thể giao tiếp được với nhau, nó cho phép
lãnh đạo các bộ phận có thể phối hợp trao đổi xử lý thông tin và những vấn đề của
doanh nghiệp. Khi có một qui trình kế hoạch thống nhất sẽ góp phần cung cấp, trao đổi
thông tin giữa các phòng ban trong doanh nghiệp với nhau, từ đó mà có được những
phương án hoạt động cho bộ phận mình sao cho phù hợp với các phòng ban bộ phận
khác để đảm bảo cho mục tiêu của doanh nghiệp được thực hiện đúng theo kế hoạch
đề ra.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga

9


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

- Chức năng quyền lực: Khi một bản kế hoạch được xây dựng hoàn chỉnh phù
hợp với những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thì bản kế hoạch đó như
là một bản tuyên bố của ban lãnh đạo doanh nghiệp tới các bộ phận và nhân viên trong
doanh nghiệp về chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trong đó sẽ
ghi rõ những mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt được trong thời gian tới. Với những
mục tiêu, nhiệm vụ được đặt ra trong bản kế hoạch thì ban lãnh đạo doanh nghiệp đã
khẳng định quyền lực lãnh đạo của họ trong doanh nghiệp cũng như với các nhân viên.
Nhờ có kế hoạch mà các hoạt động trong doanh nghiệp được quản lý một cách
chặtchẽ, hợp lý và từ đó sẽ giúp cho mọi người đều có thể tham gia đóng góp ý kiến
vào bản kế hoạch.
1.1.3.Vai trò của kế hoạch
Để có thể tồn tại và phát triển, tìm ra định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp
thì người làm ăn cần có một kế hoạch kinh doanh, kế hoạch giúp doanh nghiệp có thể
nắm bắt tình hình thực tế và đưa ra được những định hướng trong tương lai. Nó là một
công cụ quản lý của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp xác định các mục tiêu, các chiến
lược, xác định thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nội lực của doanh nghiệp,
đưa ra các phương hướng kinh doanh và phương thức để thực hiện các mục tiêu, chiến
lược.
Kế hoạch dù có sai vẫn rất cần thiết. Nó là trọng tâm của việc hoạch định kinh
doanh là thước đo của kết quả kinh doanh, lập kế hoạch kinh doanh giúp người làm ăn
có được tầm nhìn tốt hơn cho việc kinh doanh trong tương lai. Trong kinh doanh, nếu
không có kế hoạch gì vào phút khởi đầu, người làm ăn sẽ không biết phục hồi hoặc
điều chỉnh kế hoạch của mình ra sao.
Việc viết một kế hoạch kinh doanh là một bước quan trọng trong việc tạo nên nền
tảng cho quá trình thực hiện mục tiêu có tính thực tế của doanh nghiệp. Người ta có
thể sử dụng nó để đánh giá ý tưởng, tìm kiếm cơ hội từ các nhà đầu tư.
1.1.4. Phân loại kế hoạch
1.1.4.1.Xét theo góc độ thời gian
Bao gồm:

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 10


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

- Kế hoạch dài hạn: Là những kế hoạch cho thời kỳ 5 năm trở lên. Nó thường
nhấn mạnh về các ràng buộc tài chính được xây dựng dựa trên cơ sở ngoại suy từ quá
khứ, để đưa ra những dự báo trong môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp đã tham
giá
- Kế hoạch trung hạn: Là những kế hoạch cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm . Những kế
hoạch này thường là sự cụ thể hoá của kế hoạch dài hạn.
- Kế hoạch ngắn hạn: Là những kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm. Nó chỉ ra tiến
độ, những hành động có thời gian dưới 1 năm, và nó chỉ ra cách thức sử dụng cụ thể
các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu trong kế hoạch trung và dài
hạn.
1.1.4.2. Xét theo góc độ cấp độ
Kế hoạch chiến lược: Các kế hoạch chiến lược được xây dựng bởi những nhà
quản lý cấp cao nhằm xác định những mục tiêu tổng thể, định hướng tương lai của
doanh nghiệp, tổ chức. Kế hoạch chiến lược thường được xây dựng cho khoảng thời
gian từ ít nhất là 2 năm trở lên, cũng có trường hợp lên tới 10 năm. Do đó, kế hoạch
chiến lược thường là những kế hoạch thể hiện những tầm nhìn ra về vị thế của doanh
nghiệp trong tương lai, nó tác động tới các mảng hoạt động lớn, liên quan tới toàn bộ
tương lai của tổ chức; nó cũng chỉ ra những định hướng lớn cho phép doanh nghiệp đạt
được những mục tiêu đã đề ra.
Kế hoạch tác nghiệp: Mục tiêu của các kế hoạch kinh doanh thường hướng tới
đáp ứng sự đòi hỏi của thị trường; nần cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, quản lí
nguồn lực có hiệu quả… Để thực hiện được điều này, kế hoạch chiến lược cần phải
được chi tiết cụ thể hóa thành những hoạt động hàng năm, hàng quý, hàng tháng và
hàng tuần, thậm chí hàng ngày như kế hoạch nhân sự, kế hoạch tiến độ, kế hoạch hoạt
động kinh doanh… Tất cả các kế hoạch đó được gọi là kế hoạch tác nghiệp – là công
cụ để chuyển các định hướng, mục tiêu của chiến lược thành các chương trình cụ thể
cho từng bộ phận, lĩnh vực của doanh nghiệp. Nhằm mục đích bảo đảm cho mọi người
trong tổ chức đều hiểu về các mục tiêu của tổ chức và xác định rõ trách nhiệm của họ
liên quan như thế nào trong việc thực hiện các mục tiêu đó, tiến hành các hoạt động
như thế nào để đạt được những kế hoạch như dự kiến.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

1.1.5. Kế hoạch kinh doanh của NHTM
1.1.5.1. Đặc điểm hoạt động của NHTM
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt. Nét đặc biệt của doanh nghiệp ngân hàng
được thể hiện ở các nội dung sau:
Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên
quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng
là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động
ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Chất liệu kinh doanh của
ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô
nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do
đó chất liệu này được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ.
Hoạt động kinh doanh của NHTM chủ yếu dựa trên vốn của người khác. Vốn của
ngân hàng thường chiếm tỉ trọng nhỏ(không quá 10%) trong tổng nguồn vốn mà ngân
hàng nắm giữ. Nguồn vốn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn và là nguồn
vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh là vốn tiền gửi. Nó phản ánh đúng bản chất của
NHTM là đi vay để cho vay, do đó mà ngoài việc phải đảm bảo nhu cầu thanh toán,
chi trả cho mọi hoạt động thường ngày như những doanh nghiệp khác thì NHTM còn
phải đảm bảo nhu cầu chi trả tiền gửi cho khách hàng. Do đó, hoạt động kinh doanh
của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà NH buộc phải chấp nhận với mức độ mạo
hiểm nhất định. Điều này cho thấy rằng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
có ảnh hưởng quan trọng tới các cá thể trong nền kinh tế. Do đó, đối với việc xây dựng
kế hoạch thì phân tích khả năng thanh khoản của NHTM là vô cùng quan trọng. Các
nhà làm kế hoạch cần thường xuyên quan tâm chú ý đến mọi hoạt động, đặc biệt là
khâu kiểm tra, giám sát để có thể phát hiện kịp thời những sai sót cũng như biến động
bất ngờ xảy đến và tránh được những rủi ro không đáng có làm ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 12


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ
của ngân hàng trung ương. Một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi
ngân hàng trung ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và
ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình
đều phải chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng TW.
Đối với NHTM, vốn vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh; đồng thời
cũng là đối tượng kinh doanh. Chính đặc điểm này mà hoạt động kinh doanh của TM
mang tính chất bao trùm và rộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Đồng
thời, cũng vì thế mà có thể thấy được kế hoạch tài chính được xem là kế hoạch trọng
tâm và quan trọng nhất trong bản kế hoạch kinh doanh của NHTM.
NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng ra
tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, biến nó
thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư
cho các ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng của toàn xã hội. Như vậy, có thể nói
NHTM là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng
chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vừa tiêu thụ được sản
phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư, hàng hóa) với các chủ thể thiếu vốn (những
cá nhân phát sinh nhu cầu nhưng thu nhập lại chưa có, hay các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm).
1.1.5.2.Nội dung của kế hoạch kinh doanh trong NHTM
Bao gồm:
- Kế hoạch tài chính: Là một phần rất quan trọng trong kế hoạch kinh doanh, và
các mục tiêu kinh doanh được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính. Đồng thời, cơ
sở để định hướng và điều chỉnh các mục tiêu kinh doanh nhằm đạt lợi nhuận cao nhất
được xác định thông qua kết quả đạt được từ các chỉ tiêu tài chính. Nó thể hiện tình
hình thực hiện kế hoạch tài chính năm hiện hành của toàn hệ thống và tổng hợp từ các
Chi nhánh; đánh giá chung về thực hiện kế hoạch, phân tích các yếu tố ảnh hưởng.

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 13


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

- Kế hoạch huy động vốn: Là kế hoạch thể hiện các chỉ tiêu về nguồn vốn, đặc
biệt là về công tác huy động vốn của ngân hàng. Bất cứ một ngân hàng nào cũng đều
phải xây dựng cho mình kế hoạch nguồn vốn, bởi vốn chính là yếu tổ đầu vào quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp khác.
- Kế hoạch tín dụng: Là hình thức thể hiện cụ thể nhất các mục tiêu hoạt động tín
dụng trong thời gian 1 năm. Các mục tiêu đề cập trong kê hoạch tín dụng là mức dư nợ
cuối năm, tốc độ tăng trưởng dư nợ,... Kế hoạch tín dụng được xây dựng cùng với kế
hoạch huy động vốn, nhằm đảm bảo cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn.
- Kế hoạch dịch vụ bán lẻ: Là kế hoạch hoạt động dịch vụ ngân hàng bán lẻ với
các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng như kế hoạch phát hành – thanh toán thẻ, kế hoạch
thanh toán xuất nhập khẩu, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ chuyển tiền... nhằm
phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đồng thời, nâng cao năng
lực cạnh tranh, đa dạng hoá hoạt động ngân hàng nhằm đem lại lợi nhuận cao hơn
trước tình hình hoạt động tín dụng ngày càng khó khăn.
1.2. Thực hiện kế hoạch kinh doanh ở NHTM
1.2.1. Lý luận cơ bản về thực hiện KHKD ở NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù
riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính. Cũng giống như các DN phi tài chính, các
NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến
động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến
hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế.
Ngành ngân hàng là một ngành nhạy cảm. Có sự ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh
tế của 1 quốc gia. Là công cụ hữu ích của nhà nước nên ngành ngân hàng phải chịu
kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Các quy định được đưa ra và điều chỉnh thường
xuyên, các ngân hàng phải linh hoạt để ứng phó với các quy định của nhà nước.
Như chúng ta đã biết, vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh
doanh đồng thời cũng là đối tượng kinh doang của NHTM. Nên kế hoạch tài chính là
kế hoạch trọng tâm và quan trọng nhất trong kế hoạch kinh doanh của NHTM.
Để thực hiện KHKD ở NHTM được tiến hành một cách thuận lợi và đạt hiệu quả
tốt không thể không kể đến công tác phân tích các nhân tố bên trong cũng như bên
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 14


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

ngoài tác động đến nó. Bên cạnh đó, là các chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành kế
hoạch đặt ra cho từng hoạt động trong NHTM và từ đó đưa ra những giải pháp và kiến
nghị phù hợp nhất, giúp NH càng ngày càng phát triển và để xây dựng kế hoạch tiếp
theo hoàn thiện và hợp lí hơn nữa.

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện KHKD của NHTM
1.2.2.1.Nhân tố bên trong
a. Nhân tố nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của bất cứ ngân hàng nào là lợi thế so sánh quan trọng vì chính
con người là yếu tố “quan trọng nhất” trong mọi quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực
của ngân hàng được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu là số lượng lao động và chất lượng
nguồn nhân lực.
Số lượng lao động: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của một ngân
hàng.
Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng được đánh
giá thông qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng
mềm như: khả năng giao tiếp, thuyết trình, năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh,
tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp…
Ngoài ra chính sách nhân sự bao gồm: công tác đào tạo, bố trí và sắp xếp cán bộ
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra bộ máy đơn giản gọn nhẹ nhưng vẫn
phát huy được năng lực của mỗi nhân viên từ đó nâng cao năng suất lao động.
Nếu ngân hàng có lực lượng lao động hợp lý ở mỗi chi nhánh, mỗi điểm giao
dịch là điều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động kinh doanh, gia tăng quy mô
nguồn vốn và tài sản cho các chi nhánh và cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Ngân hàng
có nhiều chi nhánh cũng làm tăng khả năng tiếp cận của ngân hàng.
Mặt khác, đặc điểm hoạt động của ngân hàng là cung cấp các sản phẩm dịch vụ
nên chính đội ngũ nhân lực sẽ tạo ra những dịch vụ thoả mãn cả 6 tiêu chí: tính đúng
thời gian, thái độ phục vụ, tính đồng nhất, sự thuận tiện để có được sản phẩm tính hoàn
chỉnh của sản phẩm dịch vụ và tính chính xác, không sai sót.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 15


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Chính chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất tạo nên chất lượng
các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Ngân hàng nào tạo ra chất lượng cho sản phẩm
dịch vụ của mình mới có khả năng cạnh tranh, thu hút, giành giật khách hàng để gia
tăng lợi nhuận.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
khả năng tạo và duy trì thu nhập cho ngân hàng. Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp
của các cán bộ tác nghiệp cũng là yếu tố tạo nên tính an toàn trong hoạt động của mỗi
ngân hàng.
b. Cơ cấu tổ chức và quản lý
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền
hạn nhất định được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực
hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp.
Với sự đoàn kết giữa các phòng ban trong ngân hàng thì công việc sẽ được giải quyết
một cách nhanh chóng với chất lượng tốt nhất bằng chuyên môn và trách nhiệm cao .
Cơ cấu tổ chức có tác dụng phân bố nguồn lực hợp lý cho từng công việc cụ thể,
từ đó có thể tiết kiệm nguồn lực, hạ thấp chi phí nhân công, hạ giá thành sản phẩm;
xác định rõ trách nhiệm và cách thức thể hiện vai trò của mỗi thành viên theo quy chế
của bản mô tả công việc, sơ đồ tổ chức và hệ thống phân cấp quyền hạn trong tổ chức.
Và còn góp phần xác định quy chế thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định và giải
quyết các vấn đề của tổ chức.
Bên cạnh đó thì ngân hàng cần có một hệ điều hành, quản lý với chuyên môn
giỏi và tính kỉ luật cao giúp ngân hàng có chi phí giảm thiểu, nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
c. Năng lực tài chính
Yếu tố tài chính quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là vốn, bao gồm:
Vốn pháp định và Quỹ dự trữ. Vốn ngân hàng là điều kiện cơ bản đảm bảo tiền gởi của
khách hàng, một khi gặp rủi ro trong kinh doanh (như nợ khó đòi, lỗ trong nghiệp vụ
chứng khoán thì vốn của ngân hàng là khoản bù đắp rủi ro đó và tạo khả năng thanh
toán các khoản nợ của khách hàng).
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 16


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Vốn pháp định: là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp nếu là
ngân hàng quốc doanh thì chủ sở hữu vốn là nhà nước, nếu là ngân hàng cổ phần thì
chính là các cổ đông đóng góp. Vốn pháp định của ngân hàng được ghi trong giấy
phép hoạt động và điều lệ của ngân hàng, nó phải lớn hơn mức tối thiểu của nhà nước
quy định.
Các quỹ dự trữ bao gồm: quỹ dự trữ: là vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để
bổ sung vốn pháp định. Luật của Việt Nam quy định hàng năm phải tính 5% lợi nhuận
ròng để lập quỹ này, còn mức tối đa do Ngân hàng Trung ương quy định; quỹ dự trữ
đặc biệt: cũng là loại vốn được tính từ lợi nhuận để bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt
động. Hàng năm, ngân hàng phải trích 10% trên lợi nhuận ròng cho đến khi bằng vốn
pháp định.
Ngoài ra, ngân hàng còn có lợi nhuận chưa chia hết cho cổ đông hoặc các quỹ
đặc biệt khác chưa sử dụng. Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá về mặt tài chính
của ngân hàng, nhưng ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác
như: thanh khoản của ngân hàng, cấu trúc rủi ro tích sản, tính chất biến động của các
loại tiền gởi và chất lượng quản lý ngân hàng.
Với năng lực tài chính ổn định giúp cho tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh
được diễn ra tốt đẹp và hiệu quả nhất.
d. Văn hóa của tổ chức
Trong mỗi tổ chức bất kì cũng như ngân hàng đều có những nguyên tắc nhất định
mà các cán bộ nhân viên phải tuân thủ. Đó như là các khuôn mẫu, nguyên tắc cơ bản
mà mọi nhân viên đều phải tôn trọng và thực hiện nó. Được thể hiện qua các mặt sau:
tính tự quản của mỗi nhân viên; công tác kiểm tra; mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh
đạo, giữa các nhân viên với nhau,..
Nếu các mối hệ trong ngân hàng có một nền văn hóa tốt đẹp thì sẽ tạo ra đoàn
kết, vui vẻ cũng như lòng tin của khách hàng; góp phần cho thành công cho kế hoạch
kinh doanh của ngân hàng.
1.2.2.2.Nhân tố bên ngoài
a. Nhân tố kinh tế

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 17


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Xu hường toàn cầu hóa dẫn đến sự hội nhập mạnh mẽ giữa các nền kinh tế trong
khu vực và trên toàn thế giới. Đối với mỗi ngành kinh tế, hội nhập vừa mang đến
những cơ hội đồng thời cũng gây ra nhiều thách thức. Hệ thống NHTM Việt Nam cũng
vậy, các cơ hội đó là: công nghệ ngân hàng tiên tiến, kỹ năng quản lý ngân hàng hiện
đại, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ mới, đồng hành là những thách thức: năng lực tài
chính yếu, trình độ cán bộ bất cập, quy trình hoạt động chưa tuân theo chuẩn mực
chung, mức độ minh bạch hóa chưa cao…Do vậy, hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi ngân
hàng cần nghiên cứu, nắm bắt xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, phát hiện các
thị trường tiềm năng, tìm hiểu các diễn biến về kinh tế và chính trị, theo dõi và dự báo
xu hướng vận động của hệ thống tài chính quốc tế, cập nhật chính sách tiền tê của các
quốc gia lớn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới qua đó tận dụng tối đa các
cơ hội và có chiến lược đối mặt với thách thức.
Nhân tố kinh tế bao gồm các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng GDP, cán cân thương
mại, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp,..
Những thay đổi về chu kỳ kinh tế (suy thoái, bão hòa hay tăng trưởng), tỷ lệ lạm
phát, tốc độ tăng trưởng GDP, triển vọng của các ngành nghề kinh tế phải sử dụng vốn
của NHTM, cơ cấu chuyển dịch giữa các khu vực kinh tế, mức độ ổn định của giá cả,
lãi suất, tình trạng thất nghiệp, khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, cán cân
thanh toán và ngoại thương… đều có tác động mạnh đến hoạt động của NHTM. Việc
nghiên cứu có hệ thống và theo dõi thường xuyên biến động của những yếu tố này cho
phép các NTHM có những thích ứng phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh
doanh.
Một đất nước có nền kinh tế ổn định làm tăng nhu cầu mở mộng hoạt động kinh
doanh cũng lúc đó là nhu cầu vay vốn làm cho hoạt động tín dụng của ngân hàng càng
tăng. Bên cạnh đó, cũng có thể giảm nợ xấu được do năng lực tài chính được nâng cao
của các doanh nghiệp.
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng tăng và diễn ra thường xuyên giúp các luồng
tiền giữa các nước ngày càng nhiều.Vì vậy cũng tạo ra ít nhiều cơ hội cho Việt Nam
nói chung và các NHTM nói riêng như học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 18


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

quản lý từ các nước phát triển. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
NHTM.
b. Nhân tố chính trị - luật pháp
Chính trị và pháp luật là yếu tố không thể tách rời hoạt động kinh doanh.
Hệ thống luật pháp của Việt Nam chưa thật hoàn thiện nhưng Chính phủ và Quốc
hội đang có nhiều nỗ lực xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện
thuận lợi và khuyến khích doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng phát
triển trong môi trường cạnh tranh bình đẳng. Những năm sắp tới sẽ có nhiều thay đổi
đáng kể về kinh tế, luật pháp và quản lý Nhà nước tác động đến hệ thống tài chính,
ngân hàng. Đặc biệt, trong lộ trình mở cửa theo cam kết gia nhập WTO, việc dỡ bỏ
từng bước các quy định, hạn chế đối với phạm vi hoạt động của ngân hàng nước ngoài
sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của
các doanh nghiệp Việt Nam, xoá bỏ các chính sách bảo hộ sản xuất kinh doanh trong
nước cũng sẽ tác động đáng kể đối với ngành Ngân hàng.
Sự ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh.
Một chính phủ mạnh và sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội sẽ đem
lại lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong một xã hội ổn định về
chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu các tài
sản khác của họ, như vậy họ sẽ sẵn sàng đầu tư với số vốn nhiều hơn vào các dự án dài
hạn.
Chính sự can thiệp nhiều hay ít của chính phủ vào nền kinh tế đã tạo ra những
thuận lợi/khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau cho từng doanh nghiệp. Đòi hỏi
các doanh nghiệp cần sớm phát hiện ra những cơ hội hoặc thách thức mới trong kinh
doanh, từ đó điều chỉnh thích ứng các hoạt động nhằm tránh những đảo lộn lớn trong
quá trình vận hành, duy trì và đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong kinh doanh. Vấn
đề then chốt là cần phải tuân thủ các quy định có thể được ban hành.
c. Nhân tố công nghệ - kĩ thuật
Công nghệ - kĩ thuật là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 19


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày nay vai trò của kỹ thuật và công
nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu
tư cho nghiên cứu và phát triển..
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM yếu tố này luôn phải được phân tích kỹ
lưỡng vì bản chất của NHTM là một trung gian tài chính và hoạt động của nó có ảnh
hưởng quan trọng đến hệ thống tài chính quốc gia. Do đó, so với các ngành khác, Nhà
nước có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về phương diện pháp luật và chính sách trên nhiều
lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, phá sản, sáp nhập, cơ cấu tổ chức ngân hàng, các
quy định về cho vay, bảo hiểm tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô vốn tự có…
được quy định trong Luật ngân hàng và các văn bản hướng dẫn thị hành Luật. Mặt
khác, các chính sách tài chính, tiền tệ của chính sách lãi suất, tỷ giá, thuế quan, quản lý
nợ của Chính phủ và các cơ quan hữu quan như Ngân hàng Trung ương, Bộ tài
chính…cần phải được các NHTM thường xuyên cập nhật để có những điều chỉnh kịp
thời trong hoạt động.
d. Nhân tố văn hóa – xã hội
Yếu tố này bao gồm nhiều vấn đề mang tính lâu dài và chậm thay đổi như văn
hóa tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong đời sống, tập quán tiết
kiệm, đầu tư, ứng xử trong quan hệ giao tiếp, kỳ vọng cuộc sống, cộng đồng tôn giáo,
sắc tộc…Nắm bắt được các vấn đề này để tạo ra nhu cầu sử dụng sản phẩm các dịch
vụ ngân hàng của dân cư, tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thói quan của dân
cư là giúp ngân hàng thích ứng với môi trường để phát triển.
e. Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Thứ nhất, Là đối thủ cạnh tranh hiện hữu, các đối thủ luôn tranh đua và dùng
các thủ thuật để tạo lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần của nhau. Đặc biệt xu
hướng nới lỏng các quy định tạo sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các ngân hàng
với nhau cũng như các định chế tài chính khác như bảo hiểm, các công ty tài chính,
quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí Mức độ cạnh tranh tùy thuộc vào số lượng các định chế tài
chính tham gia vào thị trường, mức độ tăng trưởng của ngành, xu hướng chi phí và vị
thế ngân hàng trong ngành.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 20


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới đồng nghĩa với việc phải
chia sẻ các nguồn lực, thị phần hiện có. Như một hệ quả, giá cả các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng trên thị trường sẽ giảm hoặc chi phí tăng.. Do vậy, làm giảm khả năng sinh
lời và có thể ảnh hưởng đến mức độ tự vững về hoạt động và tự vững về tài chính của
ngân hàng.
Một ngân hàng muốn phát triển bền vững trước hết phải tồn tại trong môi trường
cạnh tranh do đó việc phân tích và dự báo mức độ cạnh tranh của ngân hàng là nhiệm
vụ quan trọng của ngân hàng.
Thứ hai, Là đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Hiện tại rất khó phân biệt được hoạt động của một ngân hàng (trung gian tài
chính ngân hàng) và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Đây chính là các đối thủ
cạnh tranh tiềm ần của ngân hàng. Đây là những đối thủ đang tranh đua và dùng các
thủ thuật để tăng lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần, thị trường.
Số lượng và quy mô các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn càng nhiều, thủ thuật cạnh
tranh càng đa dạng thì mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ càng khốc liệt và do đó
ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của mỗi ngân hàng.
1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá thực hiện KHKD
* Tỷ lệ thực hiện KH
Để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thường phải so sánh kết quả thực hiện
của từng chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra. Công thức chung là:
Giá trị TH
Tỷ lệ thực hiện KH = ----------------Giá trị KH
-Nếu tỷ lệ này đạt 100% thì hoàn thành KH

x 100

-Nếu tỷ lệ này > 100% thì vượt KH
-Nếu tỷ lệ này < 100% thì không đạt KH


Tỷ lệ phần trăm HTKH của hoạt động Tín dụng
Giá trị TH của HĐ Tín dụng
Tỷ lệ % HTKH = ------------------------------------------ x 100



Giá trị KH của HĐ Tín dụng
Tỷ lệ phần trăm HTKH của hoạt động Huy động vốn
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 21


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Giá trị TH của HĐ Huy động vốn
Tỷ lệ % HTKH = --------------------------------------------- x 100
Giá trị KH của HĐ Huy động vốn


Tỷ lệ phần trăm HTKH của Hoạt động Phát hành và thanh toán thẻ (PHVTTT)
Giá trị TH của HĐ PHVTTT
Tỷ lệ % HTKH = -------------------------------------------- x 100
Giá trị KH của HĐ PHVTTT

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á – CHI NHÁNH HUẾ
2.1. Tình hình cơ bản của của Ngân hàng thương mại cổ phân Bắc Á – chi
nhánh Huế
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ
phân Bắc Á – chi nhánh Huế
Địa chỉ : Số 86 Nguyễn Huệ, Phường Vĩnh Ninh, TP. Huế, Tỉnh Thừa ThiênHuế
Mã số thuế: 2900325526-020 được cấp vào ngày 14/04/2010
Fax
: 0543941776

Ngân hàng TMCP Bắc Á được thành lập theo quyết định số 0052/NHGP ngày 01
tháng 09 năm 1994 do thống đốc NHNN Việt Nam cấp, vốn góp cổ phần do các cổ
đông có uy tín đóng góp, là một trong số các ngân hàng thương mại cổ phần lớn có
hoạt động kinh doanh lành mạnh và hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của
Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung. Trụ sở chính của ngân hàng được đặt ở 117
Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An với mạng lưới hoạt động rộng khắp trên
các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm của cả nước.
Là thành viên chính thức của Hiệp hội Thanh toán Viễn thông Liên ngân hàng
toàn cầu, Hiệp hội các ngân hàng Châu Á, Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam và Phòng
thương mại Công nghiệp Việt Nam.
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 22


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Ngân hàng TMCP Bắc Á hoạt động dựa trên 5 tôn chỉ Tiên phong – Chuyên
nghiệp – Đáng tin cậy – Cải tiến không ngừng – Vì hạnh phúc đích thực. Giữ tâm sáng
như sao, ngân hàng TMCP Bắc Á xây dựng chuẩn mực ngân hàng mới, kết hợp hài
hòa giữa bản sắc truyền thống với tinh hoa tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra sức mạnh tài
chính cân bằng để cùng cả dân tộc hướng đến tương lai thịnh vượng.
Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Huế được thành lập theo chỉ thị của ban
lãnh đạo của Ngân hàng Bắc Á và xuất phát từ nhu cầu thực tế của tỉnh Thừa Thiên
Huế về nhu cầu NH và theo giấp phép hoạt động số 13/2008/QĐ – NHNN; Do Ngân
hàng nhà nước cấp ngày 29/4/2008. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số:
2900325526; Do: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh TT-Huế cấp ngày 29/4/2010. Ngày
26/04/2010, Ngân hàng TMCP Bắc Á - Chi nhánh Huế đi vào hoạt động. Trụ sở đặt tại
86 Nguyễn Huệ – TP Huế.
Sự ra đời của Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Huế đã đáp ứng được nhu
cầu của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp và cá nhân, giúp việc thanh toán được thuận tiện hơn. Góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế của địa bàn tỉnh.
2.1.2. Hoạt động chính
Lĩnh vực hoạt động chính của chi nhánh là:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức kinh tế và dân cư;
- Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với các tổ chức kinh tế và dân cư
từ khả năng nguồn vốn của ngân hàng;
- Kinh doanh ngoại hối;
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN).
2.1.3. Tổ chức hoạt động và đặc điểm kinh doanh của chi nhánh
2.1.3.1. Chức năng nhiệm vụ
Ngân hàng TMCP Bắc Á chi nhánh Huế là chi nhánh ngân hàng cấp 1. Ngân
hàng TMCP Bắc Á chi nhánh Huế thực hiện hạch toán độc lập, là một ngân hàng
thương mại mà nhiệm vụ chủ yếu và chiếm phần đa số trong nghiệp vụ là huy động
tiền gửi và cho vay. Do vậy cán bộ công nhân trong ngân hàng luôn luôn bám sát địa
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 23


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

bàn, tích cực mở rộng hiệu quả của nghiệp vụ huy động vốn, trực tiếp đến tận cơ sở để
kiểm tra thẩm định dự án cho vay, đôn đốc khách hàng trả nợ vay, điều chỉnh nguồn
vốn cho vay phù hợp với thực tế nhu cầu trên địa bàn nhằm đảm bảo chất lượng tín
dụng ngày càng cao.
Mỗi cán bộ tín dụng được giao khoán cụ thể từng chỉ tiêu như cho vay, huy động
vốn, thu lãi… cuối kỳ có tổng kết thưởng phạt kịp thời để khuyến khích động viên tinh
thần làm việc của anh chị em cán bộ công nhân viên trong đơn vị tạo nên động lực
phát triển.
2.1.3.2.Cơ cấu tổ chức
Giám
Giám Đốc
Đốc

Phòng
Phòng

Phòng
Phòng Tác
Tác Nghiệp
Nghiệp

Quan
Quan Hệ
Hệ Khách
Khách Hàng
Hàng

Quan
Quan Hệ
Hệ
Tín
Tín Dụng
Dụng

Khách
Khách

Hành
Hành
Kế
Kế Toán
Toán

Dịch
Dịch Vụ
Vụ

Hàng
Hàng

Ngân
Ngân Quỹ
Quỹ

Chính
Chính
Nhân
Nhân Sự
Sự

(Nguồn: Phòng Hành chính nhân sự Bắc Á – CN Huế )
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy quản lí ở Ngân hàng TMCP Bắc Á
– chi nhánh TT Huế
* Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
Giám đốc: đứng đầu và chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động của chi nhánh.
Giám đốc có quyền ra các quyết định trong phạm vi phân theo quy định của Ngân
hàng Bắc Á, đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp với Ngân hàng trung ương (NHTW)
và cơ quan Pháp luật Nhà nước. Giám đốc sẽ phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận và
nhận thông tin phản hồi từ các phòng ban
Phòng Quan hệ khách hàng:
- Tín dụng:

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 24


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Hoàng Hữu Hòa

Tìm kiếm và tư vấn cho khách hàng về sản phẩm dịch vụ tín dụng/phi tín dụng
của ngân hàng; tiếp nhận, thẩm định và hoàn tất hồ sơ vay của khách hàng; hướng dẫn
các thủ tục giải ngân cho khách hàng; theo dõi và thường xuyên kiểm tra hoạt động
kinh doanh và việc trả nợ của khách hàng theo đúng quy định của ngân hàng; theo dõi,
chăm sóc khách hàng nhằm đảm bảo mối quan hệ tốt với ngân hàng; đồng thời tăng
cường bán chéo sản phẩm; giải quyết các công việc phát sinh trong quá trình cho vay.
- Hỗ trợ tín dụng:
Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ cấp tín dụng được bàn giao từ bộ phận tín dụng;
hoàn tất thủ tục bảo đảm tín dụng và ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền
vay; nhập xuất kho tài sản bảo đảm; thực hiện các thủ tục giải ngân khoản vay; xử lý
các vấn đề liên quan đến khoản cấp tín dụng; quản lý thu nợ gốc, lãi; kiểm soát các
điều kiện và cam kết đã thỏa thuận, điều chỉnh kỳ hạn nợ/gia hạn nợ và chuyển nhóm
nợ, thay đổi lãi suất; thanh lý khoản vay, xuất tài sản bảo đảm; bảo quản, lưu trữ hồ sơ;
và thực hiện các báo cáo theo quy định.
- Quan hệ khách hàng:
Trực tiếp chịu trách nhiệm bán hàng và phân phối tất cả các sản phẩm bán lẻ nàm
trong chiến lược sản phẩm tại chi nhánh trên thị trường bán lẻ; thực hiện lập kế hoạch
và các hoạt động bán hàng để đạt được các mục tiêu bán hàng và các chỉ tiêu về lợi
nhuận được giao; tìm kiếm khách hàng mới và duy trì khách hàng cũ nhằm tăng doanh
số giao dịch.
Phòng tác nghiệp:
- Bộ phận giao dịch: Tiếp đón khách hàng vào chi nhánh, thực hiện tất cả các
giao dịch tại quầy bao gồm các giao dịch mở tài khoản, đăng ký mở thẻ ATM/Thẻ ghi
nợ, giao dịch tiền mặt, ngoại tệ và các giao dịch chuyển tiền.
- Bộ phận kế toán: Kiểm tra chứng từ giao dịch. Tổ chức quản lý hệ thống sổ
sách, chứng từ kế toán theo chế độ. Lập báo cáo tài chính và các loại báo cáo theo quy
định và theo yêu cầu của Giám đốc và ngân hàng cấp trên.
- Bộ phận ngân quỹ: quản lý trực tiếp và bảo quản tiền Việt Nam đồng, USD, các
chứng từ có giá, các loại ấn chỉ quan trọng, các hồ sơ thế chấp, cầm cố, ký gửi theo
chế độ quản lý kho quỹ trong hệ thống Ngân hàng Bắc Á hiện hành.
- Hành chính nhân sự: có chức năng quản lý hành chính và tham mưu cho Giám
đốc trong công tác quản lý, tổ chức nhân sự, quy hoạch đào tạo và đề bạt cán bộ.

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Quỳnh Nga 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×