Tải bản đầy đủ

kinh tế thị trường hoàn chỉnh

Phát triền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – Kinh
nghiệm ở Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Qua 30 năm đổi mới, từ Đại hội VI (1986) đến nay, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Đất nước ta đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, từng
bước gia nhập vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đồng thời
hình thành được hệ thống kết cấu hạ tầng cơ bản phục vụ đời sống kinh tế - xã
hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là giai đoạn mà Đảng
ta nhận thức sâu sắc và toàn diện về kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN), bản chất và đặc trưng của mô hình KTTT định hướng
XHCN; khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về phát triển kinh
tế, xã hội và văn hóa trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Bên
cạnh đó, cần nhận thức rằng cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế,
yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước phát triển
nhanh và bền vững, khẳng định đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN
của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế
phát triển của lịch sử. Kinh nghiệm từ Việt Nam để áp dụng cho nước bạn Lào
cần phải được nhìn nhận trên quan điểm toàn diện; quản điểm lịch sử, cụ thể
trong điều kiện Việt Nam.

2. Bản chất, đặc trưng của phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam
Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng rõ, sát thực tế
hơn về tính tất yếu, mục tiêu, bản chất, đặc trưng, cấu trúc, thể chế và cơ chế vận
hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi bắt đầu đổi
mới, Đảng quan niệm kinh tế hàng hóa có những mặt tích cực cần vận
dụng. Trong quá trình đổi mới, từ thực tiễn, Đảng nhận thức rõ hơn, kinh tế hàng
hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng xã hội chủ
nghĩa; từ chỗ áp dụng cơ chế thị trường tiến đến phát triển kinh tế thị trường,
1


đưa ra quan niệm và từng bước cụ thể hóa mô hình và thể chế nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ Đại hội VI, Đảng đã đưa ra quan điểm: “phát triển nền kinh tế hàng
hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách
kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản
xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”; Đến Đại hội VII, trong Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã khẳng định: “phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”; Đại hội IX, Đảng đã chỉ rõ: “Thực
hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”; Đại hội X tiếp tục khẳng định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN”; Đại hội XI cũng chỉ rõ: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN”; Đại hội nêu rõ: “Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong nền
KTTT định hướng XHCN, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh
hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh
và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống của Nhân dân”…. Như vậy, quá
trình hình thành và phát triển tư duy của Đảng về sự thay đổi cơ chế kinh tế, sự
hình thành và ra đời nền KTTT định hướng XHCN là cả một quá trình dài tìm
tòi trải nghiệm, vừa thực hiện vừa tổng kết để xây dựng lý luận và khẳng định
quan điểm, đường lối đúng đắn và sang tạo của Đảng. Đây là quá trình phát triển
lý luận về KTTTĐHXHCN được phát triển từ thấp lên cao, từ chưa đầy đủ, chưa
hoàn thiện đến càng đầy đủ, càng hoàn thiện hơn.
Về bản chất kinh tế thị trường được thừa nhận là thành tựu chung của nền
văn minh nhân loại, không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản và KTTT


không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản. Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) đã
chỉ rõ: “Sản xuất hàng hóa là thành tựu của nền văn minh nhân loại, nó không
đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”.
Lựa chọn KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán
ghép chủ quan giữa KTTT với chủ nghĩa xã hội, mà là nắm bắt và vận dụng
sáng tạo xu thế khách quan của KTTT trong thời đại ngày nay, là sự kết tinh trí
2


tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng đất nước. Trên cơ sở nhận
thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự đúc rút kinh nghiệm phát triển
kinh tế thị trường trên thế giới. Chủ trương xây dựng và phát triển KTTT định
hướng XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế mở phù hợp với xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế để phát triển trong thời đại ngày nay. Nền KTTT định hướng
XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế dựa trên nguyên tắc và tuân thủ
những quy luật của kinh tế thị trường, tức là thể hiện đầy đủ các đặc trưng
chung, cơ bản của nền. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa cho nên nó sẽ có những đặc trưng riêng như: Về hệ
thống mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Mục tiêu kinh tế - xã hội - văn hóa mà nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải đạt là làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh. Đó là nền kinh tế mà mức thu nhập bình quân GDP đầu
người tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã
hội ngày càng được thu hẹp. Mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho
ngân sách quốc gia, gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn và sử dụng tiết kiệm đầu tư
củng cố phát triển các lĩnh vực an ninh, quốc phòng..... Cùng với đó là góp phần
to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ
có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao về văn hóa, xã hội.; nền kinh
tế được tiến hành trên thể chế dân chủ hóa cao, mọi người, mọi thành phần kinh
tế có quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, vào sản xuất kinh doanh, có quyền
sở hữu hợp pháp về tài sản của mình; quyền của người sản xuất và người tiêu
dùng được bảo vệ trên cơ sở pháp luật của Nhà nước.
Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế có nhiều thành
phần, với nhiều hình thức sở hữu, đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế
thị trường. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh với nhau trên cơ sở pháp luật của nhà nước, trong đó
3


kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế
tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội về cơ bản được xây dựng xong.
Về chế độ phân phối: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là
chủ yếu; đồng thời có các hình thức phân phối khác nữa, vừa khuyến khích lao
động, vừa bảo đảm phúc lợi xã hội cơ bản, bảo đảm sự phân phối công bằng,
hợp lý và hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội.
Về vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, sự quản lý và điều tiết nền kinh tế của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì vậy, sự quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường phải định hướng
cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả trên cơ sở đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi
ích của nhân dân lao động thông qua hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Sự quản lý của nhà nước xã hội
chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Nhà
nước thực hiện chính sách xã hội, một mặt, khuyến khích làm giàu hợp pháp,
mặt khác phải thực hiện xóa đói, giảm nghèo.
Về nguyên tắc giải quyết các mối quan hệ chủ yếu: Kết hợp ngay từ đầu
giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, bảo đảm giải phóng sức sản xuất;
xây dựng lực lượng sản xuất kết hợp với củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất
mới XHCN, nhằm phục vụ cho phát triển sản xuất và công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; giữa phát triển sản xuất với từng bước cải thiện và nâng cao đời
sống nhân dân; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và công bằng xã hội, ngăn chặn
các tệ nạn xã hội; giải quyết tốt các nhiệm vụ chính trị, xã hội, văn hóa, môi
trường và an ninh, quốc phòng.
Về tính cộng đồng và tính dân tộc: Kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta mang tính cộng đồng cao theo truyền thống của xã hội Việt
Nam, phát triển kinh tế thị trường có sự tham gia của cộng đồng và vì lợi ích của
cộng đồng, hướng tới xây dựng một cộng đồng xã hội Việt Nam giàu có, đầy đủ
về vật chất, phong phú về tinh thần, dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo
cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.
4


Về quan hệ quốc tế: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta dựa
vào sự phát huy tối đa nguồn lực trong nước và triệt để tranh thủ nguồn lực nước
ngoài theo phương châm “Kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời
đại” và sử dụng các nguồn lực đó một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao, để phát
triển nền kinh tế đất nước với tốc độ nhanh, hiện đại và bền vững.
Một trong những nội dung mấu chốt, quan trọng nhất trong định hướng
XHCN nền KTTT của Việt Nam là phát triển bền vững. Phát triển bền vững là
một quá trình phát triển toàn diện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…bảo vệ môi
trường về sự phát triển con người. Khi nói đến phát triển bền vững, chúng ta
thường tập trung vào ba nội dung chính: kinh tế, xã hội, môi trường. Văn kiện
Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: Phát triển
kinh tế thị trường gắn với giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội, môi trường. Như
vậy, trong đường lối phát triển của Việt Nam, khái niệm “định hướng XHCN”
chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi mang “nội hàm” phát triển bền vững vì sự tiến bộ xã
hội, sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân.
3. Kinh nghiệm đối với nước bạn Lào từ thực tiễn Việt Nam
Thực tiễn sau 30 năm đổi mới ở Việt Nam đã chứng minh đầy sức thuyết
phục rằng: con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phải kinh qua kinh tế thị
trường; Không phát triển nền KTTT thì khó có thể hoặc không thể đi lên CNXH.
Nguyên nhân cơ bản là do KTTT có những lợi thế mà kinh tế kế hóa tập trung,
quan liêu bao cấp hoặc nền kinh tế hiện vật, tự cung, tự cấp không thể thực hiện
được được. Với bản chất sâu xa là do:
Thứ nhất: KTTT tạo động lực lao động tích cực, tự giác cho từng người
lao động do các cơ chế hợp tác, cạnh tranh trong các yếu tố - thành phần của nền
kinh tế;
Hai là, KTTT là cơ sở đảm bảo và thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa
ngày càng sâu để phát huy tiềm năng nhiều mặt của những con người và xã hội;
Ba là, KTTT đảm bảo sự phối hợp, điều tiết hành vi của mọi người một
cách tự giác thông qua cơ chế quá trình vận động của nó một cách tự nhiên kết
hợp với sự điều hành của Chính phủ trên tinh thần tự nguyện, thỏa thuận, văn
minh theo quy luật cung - cầu;
Bốn là,KTTT thể hiện và đảm bảo sự tự do, dân chủ cao trong điều kiện
khan hiếm nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người;
Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, do nhiều nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa
dẫn đến những khiếm khuyết, hạn chế của hiện thực kinh tế xã hội của sự vận
5


động theo thể chế KTTT định hướng XHCN, chẳng hạn như: thiếu thông tin,
cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu - nghèo, khủng hoảng thừa, thiếu
trong nền kinh tế… Đây chính là những hạn chế mà C. Mác đã nói rõ: kinh tế
hàng hóa (kinh tế thị trường) để tự phát tất yếu tiến lên phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tự phát cũng dẫn đến tàn phá môi trường sống
chung vì lợi ích ngắn hạn, gây ra những cú sốc cung - cầu làm cuộc sống trở nên
quá bấp bênh... Chính vì vậy, nhà nước cần điều tiết nền KTTT, dưa ra những
quy định, chính sách đảm sự vận động của KTTT trong những khuôn khổ nhất
định. Tức là Nhà nước XHCN cần phải điều tiết nền KTTT, sử dụng nguyên tắc
“bàn tay hữu hình” nhằm làm thiểu những hạn chế, khuyết điểm do sự tự vận
động của nó tạo ra cho hiện thực xã hội. Chẳng hạn: chú trọng đào tạo người lao
động, tạo điều kiện cho họ làm chủ quá trình sản xuất, phân phối; hay nhà nước
sẽ hỗ trợ, điều tiết quá trình phân phối thông qua lưới an sinh, trợ cấp xã hội,
phúc lợi xã hội.
Tóm lại, trong điều kiện Việt Nam đã khẳng định và phát triển nền KTTT
định hướng XHCN, tuy nhiên nếu vận dụng kinh nghiệm Việt Nam vào nước
Lào, cần phải căn cứ vào những điều kiện lịch sự, cụ thể của nước Lào, nhưng
nhìn chung cần chú mấy điểm sau:
Một là: Nhân dân nói chung, người lao động nói riêng cần phải giác ngộ,
nâng cao trình độ chính trị và kinh tế của mình để vươn lên làm chủ quá trình
vận động của thể chế kinh tế - xã hội;
Hai là: Đảng Cộng sản với vai trò người lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã
hội cần phải thực sự hành động vì nhân dân lao động, xây dựng nhà nước thực
sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân; không ngừng học hỏi, nâng cao về
năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội;
Ba là: Cần tiếp tục hoàn thiện nền KTTT theo định hướng XHCN trên cơ
sở những vấn đề sau: Hoàn thiện thể chế về sở hữu, thể chế về phân phối; Tiếp
tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng sáng tạo, sức
cạnh tranh của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường; các loại hình doanh
nghiệp, các tổ chức sản xuất, kinh doanh..; hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ
các yếu tố thị trường: về giá, về cạnh tranh, về kiểm soát độc quyền...; hoàn
thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các loại thị trường: hàng hóa - dịch vụ, tài chính,
tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học - công nghệ...
Bốn là: Về vai trò và năng lực lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước của
Đảng cộng sản cần chú ý:
6


Định hướng rõ về chủ trương, giải pháp phát triển các hình thức sở
hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn
của đất nước;
Có bước đi thích hợp trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng
đảm bảo sự vận động hợp quy luật của xu thế phát triển của yếu tố thị trường,
các loại thị trường và sự phát triển các mặt khác của xã hội;
Thực tiễn đã kiểm nghiệm rằng, xây dựng nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp và lâu dài xuất phát từ
một nước kém phát triển. Vì thế, có thể nói ở đất nước Lào cũng cần phải xây
dựng các kế hoạch đổi mới đất nước và kiên định thực hiện để nâng dần trình độ
phát triển của KTTT định hướng XHCN. Không nên chủ quan, duy ý chí, nóng
vội với mong muốn là phát triển một cách nhanh chóng được.
4. Phần kết
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con
đường hiện thực và tối ưu đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những thiết kế
cụ thể để mô hình đó hoạt động hiệu quả còn là thách thức đối với Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta Việt Nam. Do đó ở những nước mới phát triển nền KTTT
theo định hướng XHCN cần phải kiên định mục đích, linh hoạt trong phương
thức thực hiện, coi mục tiêu phát triển bền vững và ưu tiên lợi ích của nhân dân
lao động là những tiêu chuẩn tối cao cho các lựa chọn chính sách của mình./.

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×