Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư (Luận án tiến sĩ)

ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM HỒNG VÂN

Nghiên cứu đặc điểm của huyệt Thận du và hiệu
quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng
thể thận hư

Chuyên ngành

: Y học cổ truyền

Mã số

: 62720201

Nghiên cứu sinh

: Phạm Hồng Vân

Người hướng dẫn


: PGS.TS. Nghiêm Hữu Thành
PGS.TS. Bùi Mỹ Hạnh

2014


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau thắt lưng (ĐTL) là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng
từ ngang đốt sống L1 đến ngang đĩa đệm L5 – S1. Nguyên nhân chính của
đau thắt lưng là do thoái hóa cột sống thắt lưng bao gồm thoái hóa đốt sống
thắt lưng, đĩa đệm và xương sụn khớp đốt sống thắt lưng [1], [2].
Tuy đau thắt lưng là chứng bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng
nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, là một trong những
nguyên nhân hàng đầu làm giảm khả năng lao động và hiệu quả công việc ở
người trưởng thành.
Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt lưng có bệnh danh là “Yêu
thống" đã được mô tả rất rõ trong các y văn cổ. Châm cứu là một trong
những phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của Y học cổ truyền
(YHCT) đã góp phần không nhỏ trong điều trị các chứng bệnh trong đó có
chứng "Yêu thống".
Châm cứu có cơ sở chữa bệnh là huyệt và kinh lạc. Trong hệ thống
huyệt của các đường kinh trong cơ thể có nhiều loại huyệt, trong đó có huyệt
bối du. Huyệt bối du là nơi dương khí tạng phủ tỏa ra ở vùng lưng, mỗi tạng
phủ có một huyệt bối du. Huyệt phân bố cách đều trục giữa cột sống 1,5 thốn,
nằm trên kinh Túc Thái dương Bàng quang. Khi tạng phủ có bệnh, thường ở
huyệt bối du tương ứng sẽ xuất hiện cảm giác ấn đau hoặc tê tức, vì vậy chữa
bệnh của bản tạng tại huyệt bối du có hiệu quả rõ rệt [3], [4].
Thận du là huyệt bối du của tạng Thận, ký hiệu quốc tế là UB23. Huyệt
Thận du có tác dụng ích thủy, tráng hỏa, điều hòa thận khí, kiện cân cốt, chữa
đau lưng, minh mục, thông nhĩ...Với lý giải bằng y lý YHCT, lưng là phủ của
thận nên những bệnh lý đau lưng đều có liên quan đến tạng thận và huyệt Thận
du thường được sử dụng trong điều trị bệnh lý của tạng Thận trên lâm sàng.


2
Mặc dù huyệt Thận du đã được ứng dụng nhiều trên lâm sàng, nhưng
cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến đặc điểm sinh học
của huyệt này trên cơ thể người Việt Nam bình thường khỏe mạnh và trên cơ
thể người bệnh. Để góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của huyệt Thận du, những


biến đổi của các đặc điểm này khi cơ thể bị bệnh và khi có tác động điện
châm vào huyệt cũng như khẳng định hiệu quả của phương pháp điện châm
trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
này với các mục tiêu sau:
1. Xác định một số đặc điểm sinh lý của huyệt Thận du ở người
bình thường khỏe mạnh.
2. Xác định sự biến đổi các đặc điểm sinh lý của huyệt này trên
bệnh nhân đau thắt lưng thể thận hư dưới ảnh hưởng của điện châm.
3. Đánh giá hiệu quả của điện châm huyệt Thận du kết hợp với các
huyệt Giáp tích L2-L5, Thứ liêu, Ủy trung, Dương lăng tuyền trong điều
trị đau thắt lưng thể thận hư.


3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. HUYỆT VỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP CHÂM
1.1.1. Huyệt vị châm cứu
1.1.1.1. Quan niệm của Y học cổ truyền về huyệt châm cứu
- Khái niệm về huyệt
Theo thiên Cửu châm thập nhị nguyên của sách Linh khu, huyệt là nơi thần
khí lưu hành, xuất nhập, chúng được phân bố khắp phần ngoài (biểu) của cơ thể,
nhưng không phải hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương. Theo các sách xưa,
huyệt còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như du huyệt, khổng huyệt, kinh
huyệt, khí huyệt, khí phủ... Huyệt là tên gọi ngày nay quen dùng nhất [3], [4].
- Phân loại huyệt.
Huyệt được phân bố khắp mặt ngoài cơ thể, mỗi huyệt có một tên có ý
nghĩa nhất định. Căn cứ vào học thuyết kinh lạc, có thể chia làm ba loại huyệt
chính: huyệt của kinh (kinh huyệt), huyệt ngoài kinh (kinh ngoại kỳ huyệt) và
huyệt ở chỗ đau (a thị huyệt) [3].
+ Huyệt của kinh (Kinh huyệt): là những huyệt nằm trên 12 đường kinh
chính và 2 mạch Nhâm, mạch Đốc. Một số huyệt có chức năng và tác dụng
giống nhau được chia thành những nhóm huyệt và được gọi bằng những tên
chung như huyệt Nguyên, huyệt Lạc, huyệt Du ở lưng, huyệt Mộ, huyệt Ngũ
du, huyệt Khích, Bát hội huyệt và Giao hội huyệt.
+ Huyệt ngoài kinh (Kỳ ngoại huyệt): là những huyệt không thuộc vào
12 kinh chính và hai mạch Nhâm, Đốc. Huyệt thường có vị trí ở ngoài các
đường kinh, nhưng cũng có một số huyệt nằm trên đường tuần hành của kinh
mạch chính song không phải là huyệt của kinh mạch đó.
Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là những
huyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần. Trên lâm sàng
chúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định.


4
+ Huyệt A thị: Sách Nội kinh có viết "lấy chỗ đau làm huyệt", những
huyệt đó sau này được gọi là huyệt A thị. Đó là những huyệt không có vị trí
cố định, cũng không tồn tại mãi mãi, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau,
nó không phải là những huyệt của các kinh mạch chính và huyệt ngoài kinh.
Đặc tính của huyệt A thị là châm vào đó có thể chữa chứng đau nhức rất tốt vì
có tác dụng lưu thông khí huyết.
- Vai trò và tác dụng của huyệt.
Sách Tố Vấn viết "Người ta có 12 khớp lớn, 365 khe nhỏ chưa kể huyệt
của 12 kinh mạch, đều là nơi vệ khí lưu hành. Đó cũng là nơi tà khí vào cơ thể
và lưu lại, phải dùng châm, cứu để đuổi tà khí đi" [3], [5]. Như vậy, huyệt vừa
là nơi thần khí lưu hành xuất nhập, vừa là nơi tà khí xâm nhập vào cơ thể, vừa
là nơi dùng kim hay mồi ngải tác động vào đó để đuổi tà khí ra ngoài.
+ Về sinh lý: Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà
nó phụ thuộc. Huyệt là nơi thần khí vận hành qua lại vào ra, nơi tạng phủ kinh
lạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, làm cho cơ thể thành một
khối thống nhất, góp phần duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn ở
trong trạng thái bình thường [3], [4], [6].
+ Về bệnh lý: Huyệt cũng là cửa ngõ xâm nhập của tà khí lục dâm. Khi
sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì tà khí qua các huyệt này
vào gây bệnh cho các đường lạc, nếu bệnh tiến triển nặng hơn tà khí sẽ từ
kinh vào sâu trong tạng phủ [3], [4], [6].
+ Về chẩn đoán: Khi tạng phủ bị bệnh, có thể có những thay đổi bệnh
lý phản ánh ra ở huyệt như đau nhức, hoặc ấn vào đau, hoặc hình thái huyệt bị
thay đổi...Thay đổi này là tín hiệu giúp các nhà lâm sàng có thêm tư liệu để
quyết định chẩn đoán bệnh [3], [4], [6].
+ Về phòng và điều trị bệnh: Huyệt là nơi tiếp nhận những kích thích
khác nhau. Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp có thể điều hòa
được khí, khí hòa thì huyết hòa, khi huyết hòa thì tuần hoàn của huyết trong
mạch mới thuận lợi, được chuyển đi để nuôi dưỡng cơ thể, lấy lại thăng bằng


5
âm dương, nghĩa là làm ổn định những rối loạn bệnh lý, lập lại hoạt động sinh
lý bình thường của cơ thể [3], [4], [6].
1.1.1.2. Các nghiên cứu về huyệt của y học hiện đại
Y học hiện đại (YHHĐ) dựa trên bằng chứng của các nghiên cứu lâm
sàng, thực nghiệm, qua các phân tích cụ thể chính xác bằng các phương tiện
ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đã chỉ ra vị trí giải phẫu của các huyệt
trên đường kinh, đã đề cập đến cấu trúc giải phẫu và điện sinh học của huyệt.
- Đặc điểm giải phẫu của huyệt.
+ Về hình dáng và diện tích da vùng huyệt: Các nhà khoa học khi
nghiên cứu về huyệt đã nhận định rằng huyệt vị trên cơ thể không phải chỉ là
một điểm mà mỗi huyệt có vùng hình chiếu tương ứng trên mặt da. Huyệt đa
số có hình tròn và chiếm vị trí nhất định trên mặt da, kích thước các huyệt dao
động trong khoảng từ 4 đến 18 mm2, là những vùng da nhạy cảm hơn và có
chức năng đặc hiệu hơn so với các cấu trúc xung quanh [7], [8], [9], [10].
+ Về tổ chức học vùng huyệt: Nghiên cứu các thành phần tổ chức học
của Bosy J. cho thấy 29% số huyệt có các sợi thần kinh kiểu não- tủy. Các
xung động thần kinh phát sinh tại các huyệt được truyền theo các sợi này về tủy
sống và não bộ, 42% số huyệt có dây thần kinh dưới da và 46% số huyệt có
tĩnh mạch dưới da và đám rối thần kinh bao quanh (theo [7]).
Nghiên cứu của Portnov Ph.G. cho thấy có khoảng 80% các huyệt cũng
như vùng da xung quanh có các sợi thần kinh và mạch máu dưới da, trong đó
khoảng 30% có các sợi thần kinh, động mạch dưới da và mạch bạch huyết,
khoảng 30% có các sợi thần kinh và tĩnh mạch nhỏ dưới da, 10% số huyệt tìm
thấy tiểu tĩnh mạch và tiểu động mạch dưới da. Nghiên cứu hình thái của
huyệt dưới kính hiển vi điện tử, tác giả đã phát hiện ra đặc điểm của các sợi
thần kinh tại huyệt có đường kính từ 20- 200 µm, gồm cả các sợi có và không
có myelin, hầu hết các sợi thần kinh ở huyệt có đường kính lớn và rất giàu
mucosacarid và cho phản ứng dương tính với serotonin. Gần sợi thần kinh còn
có các ống bạch huyết, có các tế bào mast cũng như các lưới mạch máu. Tế bào


6
mast được coi như là nhân tố quan trọng trong điều hòa sự cân bằng nội môi
bởi nó có chứa các hạt có hoạt tính sinh học cao tham gia điều hòa các chức
năng của cơ thể như heparin, histamin, serotonin, acid hyaluronic, các chất có
khả năng gây ảnh hưởng đến điện thế màng tế bào và tính thấm thành mạch
làm cho tế bào mast có thể đáp ứng với nhiều loại kích thích khác nhau như cơ
học, nhiệt, hóa học, tia, các enzym....Số lượng lớn tế bào mast chịu sự điều hòa
của hệ nội tiết và hệ thần kinh trung ương. Ngược lại các chất có hoạt tính sinh
học trong tế bào mast như heparin, histamin, serotonin không những gây ra tác
dụng tại chỗ mà còn có thể tham gia điều hòa hoạt động của hệ thần kinh và nội
tiết. Bên cạnh đó, các chất trung gian còn có khả năng gây ảnh hưởng đến điện
thế màng tế bào, đến tuần hoàn mao mạch, tính thấm thành mạch và màng tế
bào, nghĩa là ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Do đó có thể xem tế bào
mast như một bộ máy đặc biệt tại huyệt (theo [7], [9]).
Hsiu H. và cs đã sử dụng tia laser doppler flowmetry (LDF) để phát
hiện các đặc điểm vi thể tại huyệt và các mô xung quanh huyệt Hợp cốc và
Kinh cốt. Kết quả cho thấy tại huyệt có mạng lưới mao mạch lớn hơn nhiều so
với vùng ngoài huyệt [11].
Yan X.H. và cs đã sử dụng bức xạ synchrotron để nghiên cứu cấu trúc
của các huyệt Tam âm giao, Thiên khu, Nội quan và Túc tam lý trên chuột. Kết
quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tại các huyệt có tồn tại nhiều vi mạch mà trong
các mô xung quanh của huyệt người ta không thể tìm thấy loại cấu trúc đó. Các
vi mạch đã làm nên cấu trúc đặc biệt của huyệt, có mối quan hệ nhất định với
chức năng của huyệt và đóng vai trò quan trọng trong châm cứu [12].
Bürklein M. đã sử dụng laser quang phổ doppler CO2 để so sánh lưu
lượng máu dưới da huyệt Kiên tỉnh và da vùng cơ thang phía ngoài huyệt. Kết
quả cho thấy tại huyệt Kiên tỉnh có lưu lượng máu dưới da lớn hơn so với lưu
lượng máu dưới da ngoài huyệt (p<0,05) [13].
Khi nghiên cứu sử dụng ánh sáng laser quang học công suất thấp để
nghiên cứu đặc điểm của các huyệt Nội quan và Giản sử trên người tình


7
nguyện khỏe mạnh có độ tuổi trung bình là 23,6±1,2, Huang Y. và cs thấy có
sự khác biệt đáng kể về đặc điểm quang học giữa các huyệt và vị trí ngoài
huyệt thể hiện qua sự suy giảm hệ số khuếch tán và phổ phát xạ. Các tác giả
cho rằng các đặc điểm này tạo ra những tương tác nhân-quả với sự thay đổi
chức năng của các mô [14].
Như vậy, có thể nhận định rằng các huyệt châm cứu có cấu trúc hình
thái nhất định chiếm một diện tích trên bề mặt da. Vùng huyệt có số lượng
khá cao các sợi thần kinh ngoại vi, động mạch, tĩnh mạch và mạch bạch huyết
dưới da. Các sợi thần kinh ngoại vi tạo thành mạng lưới quấn quanh mạch
máu, có nhiều đầu mút thần kinh và các tế bào mast có hoạt tính sinh học cao.
- Đặc điểm sinh học của huyệt.
+ Về đặc điểm nhiệt độ da tại huyệt: Khi nghiên cứu nhiệt độ bằng máy
đo nhiệt độ da tại các huyệt châm cứu, Darras J.C. đã thấy một số huyệt cao
hơn và ngược lại một số huyệt thấp hơn so với vùng xung quanh huyệt và khi
một bộ phận trong cơ thể bị viêm nhiễm sẽ có cảm ứng ra các huyệt của đường
kinh tương ứng làm nhiệt độ da tại huyệt tăng cao hơn từ 10C đến 20C [15].
Nghiên cứu của Xu Y.X. ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng cơ thể con người
có hiện tượng bức xạ hồng ngoại với cường độ khác nhau giữa các vùng da
trong huyệt và ngoài huyệt. Nhiệt độ da trong huyệt cao hơn so với ngoài
huyệt. Chuyển hóa năng lượng tại các huyệt trên cùng đường kinh cao hơn so
với vùng ngoài huyệt và cao hơn so với các huyệt không cùng đường kinh [16].
Nghiên cứu của Vũ Văn Lạp về đặc điểm huyệt Túc tam lý cho thấy
nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý là 31,180C, cao hơn vùng xung quanh huyệt.
Sau 30 phút điện châm, nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý tăng cao hơn so với
trước điện châm trong khi đó nhiệt độ da ngoài huyệt không có sự khác biệt ở
hai thời điểm trước và sau điện châm [10].
Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm
nhiệt độ tại 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành thuộc các lứa tuổi 2025, 50-67 cho thấy tại 12 cặp huyệt Nguyên có nhiệt độ da cao hơn hẳn so với


8
vùng xung quanh, không có sự khác biệt về nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên
giữa bên phải và bên trái cơ thể, nhưng có sư khác nhau giữa nhiệt độ của 12
cặp huyệt Nguyên ở các nhóm lứa tuổi, ở nhóm lứa tuổi 20-25 có nhiệt độ cao
hơn so với ở nhóm lứa tuổi 50-67 [17].
Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy
có sự khác nhau về nhiệt độ giữa huyệt và vùng ngoài huyệt, giữa các huyệt
trên cơ thể người khỏe mạnh bình thường. Đối với cơ thể đang bị bệnh thì có
sự thay đổi nhiệt độ tại các huyệt hoặc các huyệt Nguyên liên quan đến tạng
phủ bị bệnh [17], [18]. Thông qua đo nhiệt độ của kinh lạc, huyệt vị có thể
xác định sự mất cân bằng âm dương của kinh lạc, từ đó có thể phân tích
nguyên nhân gây bệnh, đưa ra phương pháp điều trị.
+ Về điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt: Các nhà
khoa học cho rằng đặc điểm điện sinh lý của huyệt bao gồm điện trở da và
cường độ dòng điện qua da vùng huyệt là hai thông số để phát hiện đặc điểm
sinh học sớm nhất của huyệt và là phương tiện để có thể tìm hiểu cơ chế tác
dụng của châm cứu.
Colbert A.P. (2008) đã tiến hành ghi điện trở da tại nhiều huyệt cùng một
lúc bằng thiết bị đa kênh tự động để nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tại huyệt
Nội quan, Ngư tế và tại điểm ở giữa đường nối cổ tay và khuỷu tay của 8 tình
nguyện viên lứa tuổi từ 27- 62. Kết quả nghiên cứu cho thấy điện trở da ở huyệt
Nội quan và Ngư tế đều thấp hơn so với vị trí không phải huyệt ở gần đó [19].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Thái (1996) về ảnh hưởng của điện
châm lên ngưỡng đau và một số đặc điểm của huyệt châm cứu đã nhận thấy
dưới tác dụng của điện châm, nhiệt độ da ở đa số huyệt đều biến đổi theo xu
hướng tăng, độ thông điện tại huyệt tăng còn điện trở da lại giảm xuống [20].
Nghiên cứu của Phạm Hữu Lợi (2003) về một số đặc điểm sinh học tại
huyệt Nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não Nhật Bản, đánh giá hiệu
quả phục hồi vận động bằng điện châm của cho thấy nhiệt độ tại các huyệt
Nguyên của trẻ viêm não Nhật Bản cao hơn so với trẻ bình thường. Sau điều trị


9
bằng điện châm, thấy có sự tương ứng giữa mức độ phục hồi trên lâm sàng với sự
trở về bình thường của nhiệt độ và cường độ dòng điện tại các huyệt Nguyên [18].
Nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh (1994), Vũ Văn Lạp (1996), Hoàng Khánh
Hằng (2001), Bùi Mỹ Hạnh (2003) đều cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về điện trở và
cường độ dòng điện vùng huyệt so với vùng da xung quanh. Da vùng huyệt có điện trở
thấp và cường độ dòng điện cao hơn da vùng xung quanh huyệt [7], [8], [9], [10].
Phạm Thị Xuân Vân (1985) nghiên cứu đặc điểm các huyệt vùng bụng
trên động vật thực nghiệm cũng cho thấy cường độ qua da vùng huyệt lớn hơn
và điện trở da vùng huyệt nhỏ hơn vùng ngoài huyệt [21].
1.1.2.3. Sự tương đồng về huyệt theo Y học cổ truyền với Y học hiện đại.
Theo lý luận YHCT, huyệt là nơi thần khí ra vào lưu hành (ở phần biểu
của cơ thể), có thể hiểu đó là nơi liên thông giữa cơ thể với ngoại môi, nơi cơ thể
đáp ứng (xuất), tiếp nhận (nhập), lưu hành (làm việc không ngừng) [3], [4], [6].
Y học hiện đại cũng có một cơ quan như vậy, đó là hệ thống cơ quan cảm thụ.
Hệ thống cơ quan cảm thụ gồm đầu mút thần kinh tự do, các tiểu thể,
các tận cùng có và không có myelin ở chân lông có chức năng tiếp nhận cảm
giác xúc giác (cảm giác sờ mó), cảm giác nóng lạnh, cảm giác đau, đáp ứng
với cảm giác bản thể (cảm giác sâu), đáp ứng với các thay đổi của tạng phủ.
Từ các phân tích trên nhận thấy hệ thống cơ quan cảm thụ có chức năng
như hệ thống huyệt. Các cơ quan cảm thụ xúc giác, nóng, lạnh, đau tương tự
kinh huyệt (của mạch khí); các cơ quan cảm thụ đáp ứng cảm giác bản thể
tương tự như huyệt hội ở cân, cốt, các tổ chức; các cơ quan cảm thụ đáp ứng
thay đổi của tạng phủ tương tự hệ thống huyệt du, mộ tại tạng phủ, ngũ du, và
nguyên huyệt, huyệt bát hội (tạng, phủ, mạch) nằm trên các đường kinh,
thống huyệt ở cân cơ. Hệ thống cơ quan cảm thụ có cấu trúc của nó, không
phải là da, cân, xương nhưng nằm ở da, cơ, gân, xương (màng). Chỉ có dùng
kính hiển vi mới thấy được các cấu trúc này. Vì vậy, Y học cổ truyền chỉ có
thể nói chúng không phải là da, gân, xương.


10
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt về hình thái cũng như đặc điểm
chức năng giữa huyệt và cấu trúc da xung quanh huyệt và đưa đến nhận định
rằng huyệt là một vùng nhỏ trên cơ thể có sự tập trung các sợi thần kinh.
Huyệt có nhiệt độ cao hơn vùng da xung quanh và có cường độ dòng điện qua
da lớn hơn vùng lân cận, và điện trở nhỏ hơn vùng ngoài huyệt.
1.1.2. Phương pháp châm và điện châm
1.1.2.1. Phương pháp châm
Châm là dùng kim châm vào huyệt để kích thích sự phản ứng của cơ
thể nhằm gây được tác dụng điều khí, làm thông kinh mạch, tạo nên trạng thái
cân bằng âm dương, nghĩa là phục hồi trạng thái sinh lý, loại trừ trạng thái
bệnh lý, đưa cơ thể trở lại hoạt động bình thường để đạt được mục đích phòng
bệnh và chữa bệnh [3], [4], [6], [22], [23], [24], [25].
Khi điều trị bệnh người thầy thuốc dựa trên trạng thái hư- thực của
bệnh nhân, theo học thuyết kinh lạc, học thuyết ngũ hành mà sử dụng thủ
pháp bổ- tả trong châm. Bổ- tả là thủ thuật được áp dụng khi châm để nâng
cao hiệu quả của châm sau khi châm đạt đắc khí.
Bổ pháp được sử dụng trong điều trị những bệnh mà YHCT chẩn đoán
là hư, thường là những bệnh mắc đã lâu, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm
trong trường hợp công năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút (gọi là chính khí
hư). Tả pháp thường được sử dụng trong điều trị những bệnh mà YHCT chẩn
đoán là thực, là tà khí thực và thường thấy ở bệnh mới mắc, cơ thể bệnh nhân
còn khỏe, sức chống đỡ với bệnh còn mạnh. Các thầy thuốc khi điều trị bệnh
thường sử dụng thủ pháp bổ- tả theo các nguyên tắc hư thì bổ, thực thì tả, hư
thì bổ mẹ, thực thì tả con. Bổ tả có thể tiến hành theo các cách như bổ tả theo
nhanh- chậm (châm kim chậm, rút kim nhanh là tả; châm kim nhanh, rút kim
chậm là bổ), bổ tả theo nghịch- thuận (châm kim thuận theo hướng tuần hành
của đường kinh là bổ; châm kim ngược theo hướng tuần hành của đường kinh
là tả), Bổ tả theo hướng vê kim (sau khi châm đã đắc khí, vê kim theo hướng


11
của chiều kim đồng hồ, vê nhẹ là bổ, vê kim ngược lại hướng của chiều kim
đồng hồ, vê mạnh nhiều lần là tả). Ngoài ra còn có các loại thủ pháp bổ- tả
khác như bổ tả theo thở ra- hít vào, nhấc lên- ấn xuống...
1.1.2.2. Phương pháp điện châm
Điện châm là phương pháp dùng dòng điện tác động lên các huyệt qua
các kim châm. Điện châm là một phát triển mới của châm cứu và là phương
pháp kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy được cả tác dụng
của dòng điện điều trị lẫn tác dụng của huyệt châm cứu [3], [22], [23], [24].
Ưu điểm của điện châm là rung kim đều kết hợp với tác dụng của dòng
điện như không gây đau, tạo cảm giác dễ chịu, do vậy điện châm ra đời đã
đáp ứng được mục đích điều khí của châm cứu nhanh mạnh lại không gây đau
đớn và đã trở thành phương pháp chủ yếu trong châm cứu hiện nay.
Dùng dòng điện kích thích lên huyệt châm cứu đã phối hợp tác dụng
của hai phương pháp khác nhau để đạt được hiệu quả tốt hơn, cơ thể được tiếp
thu hai loại kích thích, mỗi loại kích thích đem lại một số tác dụng nhất định.
Dùng dòng điện trong điều trị vật lý kích thích lên huyệt, ngoài tác dụng do
huyệt được kích thích còn có cả tác dụng sinh bệnh lý do dòng điện gây nên.
Điện châm cũng sử dụng thủ pháp bổ- tả. Khi vận dụng tả pháp hoặc bổ
pháp trên thực tế lâm sàng, phải chú ý tới các thông số về tần số, cường độ
của kích thích để lựa chọn cách thức bổ tả thích hợp.
+ Tần số kích thích (tính bằng Hertz- Hz) là số xung động được tạo ra
trong đơn vị thời gian tính bằng giây. Thủ pháp tả sử dụng tần số kích
thích cao (trên 5Hz), thủ pháp bổ sử dụng tần số kích thích thấp (1- 3 Hz)
+ Cường độ kích thích là biên độ xung (tính bằng microampe- μA).
Biên độ xung nhỏ là kích thích yếu, biên độ xung lớn là kích thích mạnh.
Như vậy, xét về mục đích, bổ tả là sự điều chỉnh lượng kích thích ở
huyệt sau khi châm đạt đắc khí. Dù có nhiều cách thức bổ tả khác nhau nhưng
mục đích chỉ có một, đó là điều khí hòa huyết, phù chính khu tà, lập lại thăng
bằng âm dương, tiêu trừ bệnh tật.


12
1.1.2.3. Cơ chế tác dụng giảm đau của châm theo Y học cổ truyền.
Về nguyên nhân gây đau và làm cho hết đau, trong các y văn cổ đã ghi:
"Khí tổn thương thì đau”, “đau do khí huyết không lưu thông, khí huyết bị ứ
trệ”, nghĩa là sự vận hành của “khí huyết” trong kinh mạch có trở ngại, không
thông thì gây nên đau, do đó chữa bệnh cần “làm thông kinh mạch, điều hòa
khí huyết” [3], [4], [5], [24], [25].
Sách Linh khu, thiên Quan năng [26] nhấn mạnh "người thầy thuốc khi
châm cần rõ tác dụng điều khí. Điều quan trọng trong châm là không được
quên cái thần của nó". Thần nói ở đây chủ yếu là chỉ hoạt động tinh thần và ý
thức, mà người xưa thường quy nó vào chức năng của Tâm. Người xưa rất coi
trọng tác dụng của "thần", sách Linh khu, thiên “Bản thần” và thiên “Châm
giải” viết: “Phàm các phép châm, trước tiên phải dựa vào thần, thông qua việc
chế ngự thần khí để vận hành lưu thông” nghĩa là để chữa bệnh, trị đau việc
đầu tiên là phải trị thần, tức là làm cho người bệnh yên tâm, không lo lắng.
Khí và huyết có liên quan mật thiết với nhau "khí là soái của huyết, khí hành
thì huyết hành, khí ngưng thì huyết trệ, huyết mạch hòa lợi thì tinh thần còn.
Huyết hòa thì kinh mạch lưu hành, nuôi dưỡng lại âm dương, làm khỏe gân
xương, làm lợi quan tiết". Như vậy, đau có quan hệ mật thiết với khí- huyết thần. Châm có tác dụng thúc đẩy khả năng tự điều chỉnh của cơ thể đưa cơ thể
trở về trạng thái hoạt động sinh lý bình thường và duy trì cho cơ thể luôn ở
trạng thái bình thường đó. Các thầy thuốc cổ đại đều nhấn mạnh châm phải
gây được “đắc khí” mới đạt hiệu quả chữa bệnh. Đắc khí là cảm giác kim bị
mút chặt, cảm giác nặng chặt ở tay người châm và cảm giác tức, nặng trướng
của người được châm. Trong các sách cổ có viết “ Nếu thần khí đến, kim thấy
chặt”, nói lên cảm giác căng nặng sinh ra lúc châm vào huyệt có quan hệ với
hoạt động của “thần khí” [26]. Trên lâm sàng, các thầy thuốc đã biết vận
dụng tác dụng này của châm cứu theo nguyên tắc bệnh ở kinh cân thì “lấy nơi
đau làm huyệt” gọi là A thị huyệt, Thiên ứng huyệt hay Thống điểm huyệt.


13
Châm vào những huyệt đó sẽ làm cho kinh mạch lưu thông, khí huyết điều
hòa sẽ đạt đến "thông tắc bất thống" có nghĩa là thông thì không đau.
Tóm lại, theo lý luận y học cổ truyền, châm là dùng kim kích thích vào
huyệt với mục đích điều khí, hoà huyết để duy trì sự hoạt động bình thường
của cơ thể, tiêu trừ các hiện tượng mất thăng bằng. Cơ sở của châm chính là
kinh lạc và huyệt vị. Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp ta có
thể điều hòa được khí, khí hòa thì huyết hòa. Khi huyết hòa, tuần hoàn của khí
huyết trong kinh mạch thuận lợi, khí huyết lưu thông, lập lại thăng bằng âm
dương, đưa cơ thể trở về trạng thái sinh lý bình thường.
1.1.2.4. Cơ chế tác dụng giảm đau của châm theo Y học hiện đại.
Cơ chế tác dụng của châm giảm đau đã được nghiên cứu từ những năm
70 của thế kỷ XX [27], [28]. Ngày nay, theo đường lối kết hợp Đông- Tây y
cùng với sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán thăm dò hiện đại, các
cơ chế chống đau của châm cứu ngày càng thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà khoa học trên thế giới và được chứng minh bằng các phương pháp
nghiên cứu có tính định lượng, khách quan, khoa học.
Khi cơ thể có bệnh, những tổn thương tại các cơ quan là một kích thích
tạo ra cung phản xạ bệnh lý [27]. Châm hay cứu là một kích thích. Nếu đủ
mạnh sẽ ức chế cung phản xạ bệnh lý, có tác dụng giảm đau. Khi nghiên cứu
về cơ chế giảm đau của châm, các tác giả đã tập trung vào một số thuyết như
thuyết phản xạ thần kinh, thuyết thần kinh- thể dịch, trong đó thuyết thần
kinh- thể dịch được nhắc đến nhiều hơn.
- Thuyết "cổng kiểm soát" hay cơ chế tác dụng của châm qua con đường thần
kinh: Đa số các tác giả nghiên cứu cơ chế giảm đau của châm đều ủng hộ
thuyết "Cổng kiểm soát" của Melzack R. và Wall P.D. [28] cũng như thuyết
"hai cửa" của Hsiang Tung C. [29]. Thuyết "Cổng kiểm soát" của Melzack R.
và Wall P.D. quan niệm rằng sừng sau tủy sống ví như cánh cửa có thể đóng
mở. Cửa đóng khi có kích thích lên các thụ cảm thể ngoại biên với nguồn kích
thích thấp khoảng 0,03 đến 0,04 V và kích thích đều đặn, nghĩa là tác động


14
lên những thụ cảm thể xúc giác và áp lực, đó là tận cùng của những sợi thần
kinh Aβ có tốc độ cao. Các xung thần kinh theo sợi Aβ vào tủy sống tạo ra một
điện trường âm ở sừng sau làm ức chế dẫn truyền cảm giác đau (cửa đóng),
không cho cảm giác đau đi tiếp nên cảm giác đau được giảm đi hoặc mất hẳn.
Cửa mở nếu các thụ cảm thể đau bị kích thích mạnh và các xung đau được
dẫn truyền vào sừng sau bởi những sợi nhỏ Aδ, sợi C tạo ra điện trường dương
giúp cho các xung đau đi vào dễ dàng và làm cho cảm giác đau tăng lên [28].
Sau này Hsiang Tung C. [29] đã đưa ra thuyết "hai cửa" chứng minh quá trình
ngăn chặn cảm giác đau không chỉ xảy ra ở tủy sống mà còn xảy ra trong đồi
thị và thể lưới thân não. Các thí nghiệm kích thích thể lưới thân não đã chỉ ra
rằng khi kích thích vào thể lưới thân não có thể loại trừ được các cảm giác
đau được truyền về từ các thụ cảm thể ở nhiều vị trí khác nhau của cơ thể.
Thể lưới thân não nhận các xung động hướng tâm truyền vào theo các dây
thần kinh sọ não, nhất là dây số V và dây X. Những xung đau truyền theo các
dây thần kinh sọ não có tác dụng hoạt hoá thể lưới thân não, kéo theo nó là sự
hoạt hóa các hệ thống chống đau trong não bộ .
Nghiên cứu của Man P.L. và Chen C.H. [30] đã chứng minh rằng nơi
chủ yếu ức chế các xung truyền cảm giác đau là đồi thị, khi kích thích dòng
điện vào nhân bụng sau của đồi thị có tác dụng làm mất cảm giác đau khi có
các tác nhân gây hại. Các tác giả trên cho rằng khi điện châm các huyệt tạo ra
những thay đổi tại huyệt và các xung thần kinh theo các sợi thần kinh có kích
thước lớn Aα, Aδ vào đến các cấu trúc trong hệ thần kinh trung ương (tủy
sống, thể lưới thân não, đồi thị), ở đây sẽ hình thành các cổng ngăn chặn các
xung đau từ ngoại vi truyền vào không cho chúng đến vỏ não.
- Thuyết phản xạ thần kinh thực vật: Thuyết này chú ý đến vai trò của các
phản xạ thần kinh thực vật và đánh giá cao ý nghĩa của các phản xạ do các
yếu tố lý hóa tác động lên bề mặt da. Sherback A.E. xem da như tấm màn hai
mặt trong và ngoài, cả hai mặt đều có các thụ cảm thể và các đám rối thần
kinh, mạch máu, đặc biệt có rất nhiều tận cùng của hệ thần kinh thực vật. Do


15
vậy khi tác động lên bề mặt da và các điểm có hoạt tính sinh học cao (huyệt)
sẽ gây được các biến đổi trong các trung khu thần kinh thực vật, do đó điều
chỉnh được cảm giác đau, làm giảm đau (theo [31].
- Thuyết thần kinh- thể dịch: Những nghiên cứu từ năm 1976 cho thấy cơ
chế giảm đau của châm là kích thích hệ chống đau tự nhiên của cơ thể qua
việc giải phóng các chất giảm đau nội sinh. Các chất tham gia vào cơ chế
chống đau gồm morphin nội sinh (endorphin, enkephalin), serotonin và
catecholamin [32].
* Endorphin: Có 3 loại endorphin là α, β,γ, nhưng chất có hoạt tính mạnh
nhất là β-endorphin. Endorphin được hình thành từ một tiền chất β-lipotropin,
đây là một peptit có phân tử lớn và được sản xuất nhiều ở tuyến yên, vùng dưới
đồi và vùng não thất. Các nơ ron bài tiết endorphin thường nằm trải dài suốt từ
vùng nhân cung của vùng dưới đồi cho tới vùng quanh não thất. Chỉ ở nhân cung
endorphin được hình thành ở thân nơ ron, còn các vùng khác nó được hình thành
ở sợi trục. Những sợi trục này chủ yếu đi đến vùng chất xám quanh cống, đồi thị.
Endorphin có tác dụng giảm đau, làm dịu đau và ức chế hô hấp.
* Serotonin: được tổng hợp từ một acid amin là tryptophan. Nó được
bài tiết ở các tận cùng thần kinh của các nơ ron bắt nguồn từ nhân Raphé và
tận cùng ở sừng sau tủy sống. Tác dụng của Serotonin là kích thích các nơ ron
tại tủy sống bài tiết enkephalin và gây ra ức chế trước synap trong đường dẫn
truyền cảm giác đau từ ngoại biên về trung ương. Nó có tác dụng ức chế cả
sợi C và sợi Aδ ở sừng sau tủy sống đồng thời tạo trạng thái thức tỉnh.
Như vậy, hệ thống giảm đau có thể ngăn cản sự dẫn truyền tín hiệu đau ở
các chặng trong đường dẫn truyền cảm giác đau ngay từ thụ thể đau, nơi tín
hiệu đau vừa được dẫn truyền đến tủy sống hay ở các nhân của thể lưới thân
não và nhân lá trong đồi thị. Điều quan trọng nhất là hệ thống giảm đau có khả
năng ức chế cả hai loại cảm giác đau nhói (đau nhanh) và đau rát (đau chậm).
* Acetylcholin và catecholamin: Acetylcholin thuộc hệ cholinergic và
catecholamin thuộc hệ adrenergic. Cơ chế chống đau của các chất này đã


16
được xác nhận. Các tác giả Việt Nam nghiên cứu về tác dụng của điện châm
trên động vật thực nghiệm cũng như trên bệnh nhân mổ bướu cổ, phẫu thuật
xoang sàng hàm cũng cho thấy có sự tăng rõ hai chất này [31], [33].
1.1.3. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của châm các huyệt lên chức năng
các cơ quan trong cơ thể.
Phương pháp điều trị bằng châm cứu cho đến nay đã được Tổ chức Y tế
thế giới công nhận và khuyến cáo sử dụng ở nhiều nước trên thế giới để điều
trị trên 100 chứng bệnh khác nhau [34]. Có được sự ghi nhận đó là do châm
cứu đã thực sự có tác dụng trên lâm sàng. Những tác dụng của châm cứu đã
được đề cập trong y văn cổ ngày nay đang tiếp tục được nghiên cứu chứng
minh dưới ánh sáng của Y học hiện đại. Một trong những con đường đưa đến
sự hiểu biết về cơ chế tác dụng của châm cứu là tìm hiểu những biến đổi về
chức năng của các cơ quan trong cơ thể dưới ảnh hưởng kích thích các huyệt.
1.1.3.1. Ảnh hưởng của châm lên hệ tuần hoàn
- Tác động lên tim mạch: Nghiên cứu của Lujian H.L. và cộng sự (2007) cho
thấy điện châm các huyệt Nội Quan và Giản sử có tác dụng làm ổn định nhịp
nhanh thất trên chuột được tái tưới máu sau một thời gian ngắn thiếu máu cơ
tim cục bộ [35]. TheoTakayama S. và cộng sự (2010) châm huyệt Thái xung
không làm thay đổi nhịp tim nhưng làm giảm lưu lượng máu ngoại vi trong
khi châm và làm tăng trở lại mức chỉ số ban đầu sau khi kết thúc châm 180
giây [36]. Nghiên cứu của Hoàng Khánh Hằng (2001) cho thấy điện châm
huyệt Hợp cốc có tác dụng kéo dài khoảng QT và TP trên điện tim nhưng
không làm thay đổi thời gian và biên độ các sóng P, khoảng PR, phức bộ
QRS, sóng T [8].
- Tác động lên huyết áp: Theo Jones A.Y. (2011) kích thích huyệt Nội quan có
tác dụng ổn định huyết áp khi thay đổi tư thế [37]. Nghiên cứu của Sahmeddini
M.A. (2012) cho thấy điện châm các huyệt Nội quan, Giản sử có tác dụng giữ
ổn định huyết áp, nhịp tim và áp lực tĩnh mạch trung tâm của bệnh nhân trong
suốt quá trình phẫu thuật, tương đương với dùng thuốc norepinephrine [38].


17
- Tác động lên các thành phần hữu hình trong máu: Nghiên cứu của RivasVilchis J.F. và cộng sự (2009) cho thấy châm huyệt Đại chùy (GV14) có tác
dụng làm tăng số lượng bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu đa nhân trong máu [39],
Ye F. (2007) thấy điện châm làm tăng số lượng bạch cầu, làm giảm mức độ
ảnh hưởng của miễn dịch gây ra bởi hóa chất ở bệnh nhân ung thư đang hóa
trị [40]. Theo Jong M.S. (2006) điện châm các huyệt Thủ tam lý và Khúc trì
có thể điều chỉnh tế bào lympho máu ngoại vi làm giảm dòng tế bào CD4 và
CD8 và tăng cytokine huyết thanh của hệ thống miễn dịch [41].
1.1.3.2. Ảnh hưởng của châm lên hệ hô hấp
Nghiên cứu của Tai S. (2006) cho thấy điện châm các huyệt Trung phủ,
Thiên đột làm giảm chất nhầy trên bề mặt khí quản, cải thiện lưu thông không
khí trong lòng khí quản ở chim gây mô hình viêm đường hô hấp tắc nghẽn
[42]. Theo Han J. (2012) điện châm huyệt Ngư tế làm giảm triệu chứng các đợt
cấp của bệnh hen phế quản và đạt hiệu quả cao nhất trong thời gian 30 phút lưu
kim, tương đương với hiệu quả của salbutamol [43], theo Medici T.C. (2002)
châm có hiệu quả trong điều trị hen phế quản mức độ nhẹ và trung bình [44].
1.1.3.3. Ảnh hưởng của châm lên hệ tiêu hóa
Wang C. và cộng sự (2007) thấy điện châm huyệt Nội quan làm giảm
đáng kể tình trạng trướng bụng ở mèo [45]. Theo nghiên cứu của Ma X.P.
(2009) điện châm huyệt Thiên khu và Thượng cự hư làm giảm số lượng tế
bào mast ở niêm mạc ruột, giảm lượng chất P và corticotropin ở vùng dưới
đồi của chuột bị gây mô hình thực nghiệm hội chứng ruột kích thích [46]. Các
nghiên cứu trên người cho thấy điện châm huyệt Túc tam lý (S36) có tác dụng
điều chỉnh các rối loạn nhu động ruột ở người mắc chứng ruột kích thích [47].
Điện châm huyệt Kiên tỉnh có tác dụng làm giảm các triệu chứng ở bệnh nhân
viêm túi mật và điều chỉnh khối lượng túi mật ở bệnh nhân viêm túi mật mạn
tính [48]. Nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh, Vũ Văn Lạp khi điện châm các
huyệt Túc tam lý, Hợp cốc và Nội quan thấy có tác dụng làm tăng nhu động
ruột, tăng khả năng hấp thụ glucose ở ruột các động vật thực nghiệm [9], [10].


18
1.1.3.4. Ảnh hưởng của châm lên hệ thần kinh và thần kinh thể dịch.
Trong các công trình nghiên cứu về tác động của châm lên hệ thần kinh
trung ương nhiều tác giả đều có nhận định: Châm tác động lên chức năng của
hệ thần kinh trung ương qua nhiều con đường trực tiếp và gián tiếp, đó chính
là một trong những cơ chế chính tạo ra tác dụng của châm đối với cơ thể. Kim
M.S. và cộng sự (2008) cho thấy châm huyệt Nội quan làm tăng tần số và
biên độ các sóng trên điện não đồ, làm tăng nhịp tim trên điện tâm đồ [49].
Theo Streitberger K. và cộng sự (2008) điện châm huyệt Hợp cốc làm tăng
tần số sóng alpha trên điện não đồ của vùng chẩm. Mối quan hệ tuyến tính
giữa các thông số nhịp tim và tần số, biên độ của sóng alpha trên điện não đồ
chứng tỏ tác dụng của điện châm trong điều hòa chức năng của não thông qua
tác động hoạt hóa hệ thần kinh thực vật [50]. Nghiên cứu của Bùi Mỹ Hạnh
(2003) cho thấy chỉ số và biên độ sóng alpha ở vùng chẩm tăng rõ rệt sau 3
phút và sau 8 ngày điện châm huyệt Nội quan ở người bình thường khoẻ
mạnh [7]. Isoyama D. và cs (2012) châm huyệt Nội quan, Thần môn, Đản
trung, Bách hội điều trị giảm lo âu ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm cho
thấy châm có thể làm giảm triệu chứng lo âu, căng thẳng, từ đó làm tăng khả
năng thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm [51]. Đa số các
tác giả nhận định rằng kích thích các huyệt có thể làm tăng ngưỡng đau. Tác
dụng này liên quan tới hệ thần kinh và hệ thống giảm đau nội sinh.
Han J.Y. và cs (2011) thấy châm các huyệt Túc tam lý, Trung quản và
Nội quan có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa và làm lành các tổn thương
niêm mạc dạ dày, cải thiện chức năng tiêu hóa thông qua cơ chế tăng hàm
lượng beta-endorphin trong huyết tương và vùng dưới đồi theo trục não-ruột
[52]. Theo Song X.L.(2010) châm huyệt Tam âm giao làm giảm đau bụng
kinh do làm tăng hàm lượng β- endorphin, là chất có tác dụng giảm đau mạnh
[53], Lee H.J. và cs (2010) châm huyệt Túc tam lý làm giảm hàm lượng chất
P ở sừng sau tủy sống, hàm lượng β- endorphin tăng 51,47% trong máu và
12,6% trong não chuột [54]. Takeshige C. và cs (1991) cho rằng châm gây


19
tăng tiết β- endorphin, chất đóng vai trò ức chế trước synap trong cơ chế giảm
đau do châm. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng chuột bị
cắt tuyến thượng thận sẽ làm nồng độ Na+ trong máu giảm, đó chính là lý do
làm mất tác dụng giảm đau do châm [55]. Wang Y. (1992) thấy điện châm
làm tăng hàm lượng leucin-enkephalin và dopamin ở cả thân não và gian não.
Tiêm morphin vào chất xám cạnh thất có thể hoạt hóa được đường ly tâm của
hệ serotoninergic để tạo ra tác dụng giảm đau ở tủy sống [56].
Như vậy, từ kết quả nghiên cứu các tác giả đều có nhận định rằng βendorphin và enkephalin là chất trung gian hóa học quan trọng tham gia vào
cơ chế giảm đau khi châm [54], [57].
1.1.3.5. Ảnh hưởng của châm lên hệ nội tiết, sinh dục.
Cakmak Y.O. và cs cho thấy điện châm huyệt Quy lai làm tăng lưu
lượng máu đến tinh hoàn [58]. Còn Zhaohui Z. và cs; Mo X. và cs đã đưa ra kết
luận rằng châm các huyệt Can du, Thận du, Quan nguyên, Tam âm giao làm
bình ổn nồng độ hormon FSH, LH, oestrogen, progesteron, kích thích quá trình
rụng trứng [59], [60]. Từ kết quả nghiên cứu trên, các tác giả nhận định rằng
châm là phương pháp an toàn trong điều trị vô sinh do có tác dụng điều chỉnh
chức năng sinh lý và ít tác dụng phụ nên khả năng mang thai dễ dàng hơn.
1.1.3.6. Tác dụng của châm lên phòng chống stress
Để tìm hiểu tác dụng của châm trong việc chống stress, nhiều tác giả đã
tiến hành điện châm trên động vật gây mô hình thực nghiệm. Kết quả cho thấy
điện châm có vai trò chống strees thông qua việc ức chế sự tăng hàm lượng
corticosterone và adrenocorticotropin hormone (ACTH) [61], [62], [63].
Nghiên cứu cơ sở khoa học của điện châm trong điều trị một số chứng
đau của Nghiêm Hữu Thành cho thấy điện châm làm tăng hàm lượng cortisol,
adrenalin và noradrenalin trong máu của bệnh nhân đau do viêm loét dạ dày tá
tràng, đau do ung thư vòm họng... Đây là các hormon có tác dụng ổn định
huyết áp và giảm đau. Kết quả này một lần nữa cho thấy mối liên hệ giữa cơ
chế tác dụng của châm đối với hệ thần kinh- nội tiết trong cơ thể [64].


20
1.1.3.7. Ảnh hưởng của châm lên hệ miễn dịch.
Yamaguchi N. (2007) châm các huyệt Can du, Tỳ du, Thận du, Túc tam lý
ở người khỏe mạnh cho thấy châm gây ảnh hưởng đến sự trưởng thành chức năng
các tế bào miễn dịch trong máu thể hiện bằng sự xuất hiện của các chất liên quan
tới hoạt động của đại thực bào, miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào như
cytokine IL-1β, IL-4 và IFN-γ [65]. Liu J.M. và cs (2009) nghiên cứu ảnh hưởng
của điện châm huyệt Quan nguyên và Túc tam lý lên chức năng miễn dịch tế bào
lympho T ở chuột được gây mô hình lão hóa cho thấy điện châm có tác dụng tăng
sinh tế bào có khả năng chống lão hóa như lympho T, IL-2/IL-2R, CD8 + CD 28,
[66]. Theo Li H. và cs (2009) điện châm huyệt Mệnh môn, Đại chùy làm tăng các
chất có tác dụng chống viêm như lympho B, lympho T, IL-2 và TNF-alpha [67].
Có thể nói vai trò của châm cứu trong điều hòa đáp ứng miễn dịch là
kết quả của chuỗi phản ứng hóa học của hệ thần kinh- nội tiết- miễn dịch.
1.2. HUYỆT THẬN DU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HUYỆT THẬN
DU TRONG ĐIỀU TRỊ.

1.2.1. Vị trí, liên quan giải phẫu và tác dụng của huyệt Thận du.
Thận du là huyệt thứ 23 của kinh Túc Thái dương bàng quang có ký
hiệu quốc tế là UB23, là du huyệt ở lưng của tạng thận (bối du). Huyệt tương
ứng với tạng thận ở bên trong, là nơi dương khí tỏa ra, là du huyệt quan trọng
trong chẩn đoán và điều trị bệnh của tạng thận [3], [6], [22], [23], [24], [26].
Huyệt Thận du nằm dưới mỏm gai sau đốt sống thắt lưng thứ 2 (L2), từ
đường giữa cột sống đo ngang ra mỗi bên 1,5 thốn. Dưới huyệt là cân ngựcthắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau dưới, cơ lưng dài, cơ ngang gai, cơ
gian mỏm ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái chậu. Da vùng huyệt chi phối bởi
tiết đoạn thần kinh L1 hoặc L2. Thần kinh vận động cơ là nhánh của đốt sống
thắt lưng 2, nhánh của đám rối thắt lưng.
Thận du có tác dụng bổ thận, mạnh lưng xương, khu thủy thấp, ích thủy
tráng hỏa, minh mục, thông nhĩ, điều hòa thận khí. Châm huyệt Thận du có
thể điều trị đau tại chỗ hoặc bệnh thuộc thận.


21
1.2.2. Ứng dụng huyệt Thận du trong thực tiễn lâm sàng
Theo các y văn cổ, huyệt Thận du thường được phối hợp với các huyệt
khác trong điều trị các chứng bệnh sau:
- Chứng đau lưng.
+ Phối hợp với các huyệt Côn Lôn, Ủy Trung trị lưng đau do huyết ứ.
+ Phối hợp với các huyệt Mệnh môn, Tích trung, Trung lữ du, Yêu du
trị lưng đau do chấn thương.
+ Phối hợp với các huyệt Thứ liêu, Ủy trung, Yêu dương quan trị lưng
đau do lạnh.
- Bệnh hệ tiết niệu, nội tiết, sinh dục.
+ Phối hợp với các huyệt Bàng quang du, Đại đôn, Tam âm giao,Trung
cực trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ.
+ Phối hợp với các huyệt Quan nguyên, Tam âm giao, Tâm du trị di
tinh, bạch đới.
+ Phối hợp với các huyệt Quan nguyên, Tam âm giao, Trung cực trị tảo tiết.
+ Phối hợp với các huyệt Khí hải, Tam âm giao, Trung cực trị kinh
nguyệt không đều.
- Bệnh ngũ quan, chuyển hóa.
+ Phối hợp với các huyệt Thiên lịch, Thính hội trị Thận hư, giảm thính lực.
+ Phối hợp với các huyệt Ế phong, Thái khê, Thính hội trị tai ù do hư.
+ Phối hợp với các huyệt Hòa liêu, Khế mạch, Thừa quang, Toản trúc,
Ty trúc không trị đau đầu.
+ Phối hợp với các huyệt Tam âm giao, Chương môn, Thái xung, Thái
khê, Bách hội, Thượng tinh, Nội quan, Thần môn, An miên trị mất ngủ.
Như vậy, trên lâm sàng các nhà châm cứu thường phối hợp Thận du với
các huyệt khác trong điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau, đặc biệt là các
chứng bệnh liên quan đến chức năng của tạng thận, trong đó có chứng yêu
thống. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc


22
điểm sinh học của huyệt Thận du và chứng minh hiệu quả của điện châm
trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư của Y học cổ truyền dựa
trên các bằng chứng khoa học khách quan, sử dụng các xét nghiệm của Y học
hiện đại. Vì vậy nghiên cứu đặc điểm sinh học của huyệt Thận du và hiệu quả
của điện châm trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư là việc làm
cần thiết để làm rõ hiệu quả của điện châm trong điều trị các thể lâm sàng của
đau thắt lưng, một chứng bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại.
1.2.3. Các nghiên cứu sử dụng huyệt Thận du trong điều trị đau thắt lưng.
Thận du là bối du huyệt của tạng thận, là nơi dương khí của tạng thận
toả ra ở vùng lưng. Theo lý luận YHCT, thận thuộc thủy, tàng tinh tiên thiên
và hậu thiên, là chủ của mệnh môn hoả nên Thận là tạng của thủy hoả. Thận
tàng tinh chủ việc sinh dục, là gốc của tiên thiên, là rễ của sự sinh trưởng phát
dục. Thận tinh sinh thận khí, thận khí thịnh thì khoẻ, thận khí suy thì bệnh. Vì
thận tàng tinh, chủ hỏa nên bệnh của thận là bệnh hư. Thận tàng tinh mà tinh
lại sinh tuỷ, tuỷ ở trong xương để nuôi dưỡng xương cốt, tủy tạo huyết cho
nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ. Chức năng của thận tốt được biểu hiện ở
xương cốt vững chắc, vận động tốt. Lưng là phủ của thận, trong hệ kinh lạc,
vùng lưng có liên quan với kinh Túc Thái dương Bàng quang và mạch Đốc.
Như vậy, đau thắt lưng có liên quan đến tạng Thận và sự vận hành khí huyết
trong các kinh Túc Thái dương Bàng quang, mạch Đốc.
Thận du là huyệt bối du của thận nên trên lâm sàng huyệt Thận du
thường được lựa chọn phối hợp với các huyệt khác trong điều trị các bệnh lý
liên quan đến chức năng của tạng thận, đặc biệt là chứng Yêu thống.
Năm 2011, Molsberger A.F. và cs tại Anh và Đức đã tổng hợp kết quả
khảo sát đánh giá của chuyên gia quốc tế (IES) về châm cứu trong các thử
nghiệm ngẫu nhiên đối với bệnh đau thắt lưng và phác đồ điều trị đau thắt
lưng trên hai mươi lăm kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
trong điều trị đau thắt lưng. Kết quả khảo sát cho thấy các huyệt thường được
sử dụng trong điều trị là Thận du, Đại trường du, Uỷ trung [68].


23
Nghiên cứu của Cabioglu M.T. ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2008 cho thấy sự
thay đổi trong các cơ quan nội tạng gây ra dưới tác dụng của châm cứu có thể
được giải thích thông qua cơ chế hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và phó
giao cảm. Châm huyệt Du ở lưng có hiệu quả đặc biệt trong điều trị các bệnh
của các cơ quan nội tạng [69].
Ở Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi chưa thấy có báo cáo khoa
học nào thống kê về tần suất sử dụng một số huyệt đặc hiệu (Phong trì, Nội
quan, Hợp cốc, Tam âm giao, Túc tam lý....) trong các phác đồ điều trị. Tuy
nhiên trên thực tế lâm sàng, huyệt Thận du đã được nghiên cứu phối hợp sử
dụng với các huyệt khác trong điều trị một số chứng bệnh, đặc biệt là chứng
đau thắt lưng đem lại kết quả rất khả quan.
Năm 2001, Lưu Thị Hiệp đã tiến hành nghiên cứu tác dụng giảm đau
do thoái hoá cột sống thắt lưng của nhóm công thức huyệt Giáp tích, Thận du,
Đại trường du cho thấy, triệu chứng đau giảm từ từ sau 10 ngày điều trị [70].
Kiên Chính và cộng sự (2011) đã nghiên cứu điều trị đau lưng do
thoái hóa cột sống bằng phương pháp điện mãng châm các huyệt Thận du,
Giáp tích cho thấy điện mãng châm có hiệu quả cao trong điều trị đau lưng
với kết quả tốt chiếm 60%, khá là 40% [71].
Ở Mỹ năm 2003, Meng C.F. và cộng sự tại khoa khớp, Bệnh viện phẫu
thuật khớp New York đã sử dụng phác đồ điện châm gồm các huyệt Thận du,
Khí hải du, Đại trường du, Bàng quang du, Yêu dương quan và Mệnh môn
với tần số kích thích từ 4-6 Hz với thời gian kích thích trong 20 phút, hai lần
một tuần trong 5 tuần để nghiên cứu xác định hiệu quả và tính an toàn của
châm cứu trong điều trị chứng đau lưng mạn tính ở bệnh nhân cao tuổi, so
sánh với nhóm kiểm soát được điều trị bằng thuốc giảm đau NSAID, giãn cơ,
paracetamol kết hợp tập thể dục trị liệu hoặc vật lý trị liệu. Kết quả nghiên
cứu cho thấy chỉ số khuyết tật (RDQ) ở nhóm điện châm giảm nhiều hơn và
kéo dài ít nhất 4 tuần sau khi ngừng điều trị châm cứu so với nhóm dùng
thuốc, sự cải thiện về lâm sàng này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và châm


24
cứu ít có liên quan đến tác dụng phụ so với nhóm dùng thuốc (chỉ với mức độ
đau ít khi châm kim qua da và vết tụ máu trên một vài bệnh nhân) so với nguy
cơ chảy máu đường tiêu hóa, gây độc với thận, tim mạch, hệ thần kinh trung
ương do NSAID gây ra hoặc tăng nguy cơ ngã khi sử dụng các thuốc giảm
đau giãn cơ, gây ngủ [72].
Zaringhalam J. và cộng sự tại Đại học Y khoa Tehran, Iran (2011) đã
sử dụng phác đồ gồm các huyệt Thận du, Đại trường du, Bàng quang du, Thứ
liêu, Côn Lôn, Hoàn khiêu và Dương lăng tuyền để nghiên cứu so sánh tác
dụng điều trị của phương pháp châm cứu, dùng thuốc (baclofen) và phương
pháp kết hợp châm cứu với dùng thuốc (baclofen) trong điều trị đau thắt lưng
mạn tính ở nam giới. Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng điều trị kết hợp điện
châm với baclofen cho hiệu quả hơn baclofen điều trị đơn thuần để giảm đau
trong điều trị đau thắt lưng mạn tính [73].
Phác đồ điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng của Ngô
Châu Hồng ở Trung Quốc (2003) gồm các huyệt Thận du, Đại trường du, so
sánh với nhóm được điều trị bằng thuốc chống thoái hóa trong thời gian một
tháng cho thấy hiệu quả điều trị của nhóm châm cứu là 93,3% cao hơn có ý
nghĩa so với nhóm dùng thuốc chống thoái hóa là 66,7% (với p<0,05) [74].
Dương Trường Lâm (2002) đã báo cáo kết quả nghiên cứu thử nghiệm
lâm sàng trong đó châm cứu được kết hợp thuốc uống hỗ trợ để điều trị chứng
đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng. Về châm cứu, tác giả đã sử
dụng nhóm huyệt Thận du, Khí hải du, Trật biên, Hoàn khiêu, Phong thị, Ủy
trung, Thừa sơn, Phi dương, Côn lôn. Kết quả thu được rất khả quan, các triệu
chứng được cải thiện một cách rõ rệt [75].
Để đánh giá hiệu quả ôn châm trong điều trị thoái hóa cột sống thắt
lưng, Dương Linh và cộng sự (2007) đã tiến hành nghiên cứu trên 80 bệnh
nhân được chia thành 2 nhóm: nhóm sử dụng phương pháp ôn châm và nhóm
châm thông thường. Kết quả cho thấy hiệu quả điều trị của phương pháp ôn
châm cao hơn có ý nghĩa so với phương pháp châm cứu thông thường [76].


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×