Tải bản đầy đủ

Feeding máy t ng cho cá tra n

SẪN PHÊÍM/CƯNG NGHÏå/THIÏËT BÕ MÚÁI

Máy tự động cho cá tra ăn

C

ạnh tranh trên thị trường
thủy sản ni trồng thế
giới ngày càng khốc liệt,
đòi hỏi phải liên tục đổi mới cơng
nghệ nhằm đạt hiệu suất sản xuất
và hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Cá tra ni tại Việt Nam có giá
thành thấp, có lợi thế cạnh tranh
cao, thể hiện qua việc thị trường
ngày càng mở rộng ra khắp nơi
trên thế giới.
Một trong những lý do chính
giúp chi phí sản xuất cá tra thấp là
hiệu quả sản xuất ở các trại ni
rất cao nhờ cơng lao động thấp

và các chi phí gián tiếp hầu như
khơng đáng kể so với các nước XK
thủy sản ni khác, trong khi việc
quản lý trại ni và tổ chức vận
hành các nhà máy chế biến rất tốt.
Trong ni cá tra, chi phí chiếm
tỷ trọng cao nhất là thức ăn. Trung
bình, thức ăn chiếm tới 80% tổng
chi phí sản xuất từ cỡ cá giống đến
lúc thu hoạch cá thương phẩm.
Do đó, ngành cá tra cần tập trung

kiểm sốt tốt giá và mức độ tiêu
tốn thức ăn (hệ số thức ăn) trong
q trình ni.
Về cơ bản, giá thức ăn phụ
thuộc vào tương quan cung và cầu
các loại trên thị trường thế giới về
các loại ngun liệu chính, như bột
cá, đậu nành, cám gạo, v.v… Trong
bối cảnh tồn cầu hóa, giá ngun
liệu chế biến thức ăn là như nhau
trên tồn cầu, do đó, chẳng có lý
do gì để hy vọng thức ăn viên
thủy sản sản xuất tại Việt Nam sẽ
rẻ hơn so với các nước khác.
Dù thức ăn tươi do các hộ ni
nhỏ lẻ tự chế biến có giá thành
thấp hơn thức ăn cơng nghiệp,
nhưng loại thức ăn này thường
khơng được tiêu hóa tốt, hệ số
thức ăn cao và khơng hiệu quả khi
phát triển ni ở quy mơ lớn. Các
chun gia đều khuyến nghị cần
sử dụng thức ăn cơng nghiệp để
đáp ứng tốt hơn các u cầu sinh
học của cá và đáp ứng đòi hỏi của
thị trường tiêu thụ.

Để kiểm sốt chi phí thức ăn,


trước hết cần quan tâm đến hiệu
suất của thức ăn. Hiệu suất sử
dụng thức ăn có được từ chất
lượng thức ăn tác động đến phát
triển sinh học của cá (còn gọi là hệ
số thức ăn sinh học), và cách thức,
chế độ cho cá ăn tác động đến tính
kinh tế trong giá thành sản xuất
(còn gọi là hệ số thức ăn kinh tế).
Bài viết này tập trung bàn sâu đến
vế thứ hai, nghĩa là cách thức cho
cá ăn tác động đến hệ số thức ăn
kinh tế như thế nào.
Hệ số thức ăn kinh tế là số
kilogam thức ăn thực tế bỏ xuống
ao ni để thu hoạch được 1
kilogam cá thương phẩm. Số thức
ăn này bao gồm cả thức ăn thất
thốt trong sản xuất và sự biến
động sinh khối cá (trọng lượng
thân trung bình, số lượng cá chết,
cá thốt ra ngồi cơng trình ni),
việc kiểm sốt tốc độ tăng trưởng
của cá thiếu chính xác dẫn đến
biểu đồ cho ăn khơng tối ưu, làm

Hình 1: Hệ thống cho cá ăn bằng máy
của AKVA group gồm các thành phần
sau:
Máy thổi: Tạo khí thổi và di chuyển
thức ăn từ xìlơ trung tâm - nơi chứa
thức ăn - ra ao ni. Thức ăn được rải
đều trên ao nhờ thiết bị phân tán treo
lên cao hoặc thả nổi trên mặt nước.
Làm nguội khí thổi: Cần hạ thấp nhiết
độ khí nén trong ống, tránh làm viên
thức ăn bị nóng lên khi cho cá ăn.
Định lượng thức ăn: Xác định lượng
thức ăn cho từng ao ni, lùa thức ăn
từ xìlơ xuống ống dẫn và kiểm sốt tốc
độ cho ăn.
Phân phối thức ăn: Chọn ao cho ăn và
đưa thức ăn đến ao.

Thûúng mẩi Thy sẫn / sưë 160 / thấng 4/2013

81


SẪN PHÊÍM/CƯNG NGHÏå/THIÏËT BÕ MÚÁI

cho khối lượng thức ăn cho cá ăn
hằng ngày khơng phù hợp. Kiểm
sốt thức ăn đạt hiệu quả kinh tế
cao đòi hỏi người ni xác định
chính xác trong quy trình, mỗi
ngày cần cho cá ăn bao nhiêu thức
ăn, khi nào cho ăn, cách rải thức ăn
xuống ao ra sao,… Quy trình này
cần được quản lý trại ni liên tục
hồn thiện sau mỗi vụ ni.
Hệ thống cho cá ăn bằng máy
tự động là cơng nghệ đã được
áp dụng rộng rãi, giúp kiểm sốt
thức ăn tốt hơn nhằm giảm chi phí
sản xuất. Khơng những tiết kiệm
chi phí nhân cơng cùng với những
khó khăn trong việc tuyển dụng
và quản lý cơng nhân tại trại ni,
hệ thống cho cá ăn tự động còn
giúp người ni tối ưu hóa biểu
đồ thức ăn, tiết kiệm chi phí bao
bì, chi phí hậu cần vận hành việc
cho cá ăn hằng ngày. Hệ số thức
ăn trong ni cá tra hiện nay là 1,6
– 1,8, trong khi đó hệ số thức ăn
trong ni cá hồi vân ở Đan Mạch
và cá hồi Đại Tây Dương ở Na Uy

Hình 2: Bộ phận rải thức ăn trên ao
ni. Được gắn cuối ống dẫn thức ăn
và xoay tròn để phân tán thức ăn, diện
tích rải tùy loại thức ăn và loại thiết bị.

82 Thûúng mẩi Thy sẫn / sưë 160 / thấng 4/2013

hiện nay là 1,1:1,0. Do đó chúng ta
có cơ sở để tin rằng có thể giảm hệ
số thức ăn trong ni cá tra nhờ cải
tiến quản lý việc cho cá ăn và chế
độ cho cá ăn bằng cách áp dụng
cơng nghệ cho cá ăn tự động.
Hệ thống cho cá ăn bằng máy
hồn tồn tự động được sử dụng
phổ biến là loại sử dụng khí nén
thổi thức ăn viên qua ống nhựa từ
xilơ chứa thức ăn trung tâm ra đến
ao cá hoặc lồng cá. Hệ thống này
được phát minh vào năm 1980,
phù hợp với tất cả các lồi cá ni
khác nhau và cả tơm. Hệ thống
vận hành đạt hiệu suất cao khi kết
hợp với cảm biến theo dõi nồng độ
ơxy kết hợp kiểm sốt mơi trường
nước và phần mềm quản lý sản
xuất trại ni. Máy cho cá ăn đúng

khối lượng cần thiết, đúng tỷ lệ tối
ưu thức ăn theo kích thước cá tại
từng thời điểm và cho ăn đúng lúc
mỗi ngày.
Hệ thống này phù hợp để cho
cá tra ăn tại các trại ni ở đồng
bằng sơng Cửu Long, Việt Nam.
Nhờ khả năng cải thiện hệ số thức
ăn kinh tế, quy trình cho cá ăn sẽ
được hồn thiện bằng chính thiết
bị hiện đại, nhiều tiện ích này.

Ví dụ điển hình:

Sản lượng của 1 ao ni 1 ha
(100m x100m) cá tra khi thu hoạch
khoảng 360 tấn cá thương phẩm
sau thời gian 5 – 7 tháng. Ao ni
ban đầu thả khoảng 20 tấn các
giống, phần tăng trưởng của cả
ao là 340 tấn. Số cá hao hụt (chết,

Hình 3: bản vẽ ao ni cá tra kích thước mơ phỏng (100x100m) có gắn thiết bị rải
thức ăn đặt giữa ao. Cá được cho ăn nhiều hơn hai lần mỗi ngày theo chế độ cho
ăn mới (tổng lượng khẩu phần thức ăn cần thiết và số lần cho ăn trong ngày). Mỗi
ao được chọn cho ăn theo loại thức ăn và khẩu phần dựa trên sinh khối và kích
thước cá trong ao. Khẩu phần ăn được hệ thống tự động điều chỉnh mỗi ngày theo
các thơng số tăng trưởng, số cá chết được cập nhật và đặc biệt là sẽ tinh chỉnh
trọng lượng trung bình của cá sau mỗi lần lấy mẫu đối chiếu. Việc cho cá ăn và
hiện trạng thực tế khi cá ăn mồi được theo dõi bằng camera hoặc người quản lý
trại ni có kinh nghiệm quan sát trực tiếp bằng mắt, tùy theo quy trình của trại
ni. Cho cá ăn tập trung ở phần giữa ao sẽ có lợi cho mơi trường ao ni và
thuận tiện khi hút bùn đáy ao, phần viền ngồi của ao ít xáo động giúp cá giảm
căng thẳng. Sự khác biệt khi vận hành ao ni là một trong những yếu tố giúp cải
thiện hệ số thức ăn thành cơng.


SẪN PHÊÍM/CƯNG NGHÏå/THIÏËT BÕ MÚÁI

Điều khiển từ xa
Báo động

Phần mềm
Fishtalk

Máy cho cá ăn

Theo dõi cá ăn mồi

Dữ liệu mơi trường ni

sổng ra ngồi) khơng tính trong ví
dụ này.
Nếu hệ số thức ăn là 1,7:1,
lượng thức ăn cần cho ao này
là 578 tấn. Nếu hệ số thức ăn cải
thiện còn 1,3:1 thì lượng thức ăn
sử dụng sẽ là 442 tấn. Như vậy
lượng thức ăn tiết kiệm được là
136 tấn. Giá thức ăn 12.000 VND/
kg, số tiền trại ni tiết kiệm được
là 1.632.000 VND (USD 78.000)
cho mỗi vụ ni.
Khi hệ số thức ăn được cải

thiện, người ni sẽ nhận thấy cá
phát triển nhanh hơn. Một điều
đã được biết rõ là, việc sử dụng
thức ăn càng hiệu quả sẽ mang lại
kết quả tăng trưởng càng cao và
ngược lại. Đó là một hệ quả đơn
giản về những tác động sinh lý
tích cực của vật ni, trong đó các
nhân tố sinh học có liên hệ ràng
buộc qua lại với nhau.
Cũng cần nhấn mạnh một
điểm quan trọng là, việc tăng
thêm lợi nhuận khi đầu tư máy tự
Hình 5: Sơ đồ xìlơ chứa thức ăn
với kích thước khác nhau có mái
che giúp tránh mưa, nắng, các lồi
gặm nhấm và bảo quản kho an
tồn khơng thất thốt. Xìlơ được
nạp đầy thức ăn qua băng tải.

Hình 4: Giải pháp phần mềm quản lý
tổng hợp hệ thống ao ni AKVAcontrol
cho phép kiểm sốt tồn diện, quan
sát hành vi bắt mồi của cá, kiếm sốt
tỷ lệ thức ăn, nồng độ ơxy bão hòa và
kiểm sốt sinh khối chính xác, liên tục
phân tích để tối ưu hóa chế độ cho ăn.
Nếu hành vi ăn mồi của cá có biểu hiện
khác lạ so với chế độ cho ăn thơng
thường, hệ thống sẽ điều chỉnh tăng
hoặc giảm lượng thức ăn tùy theo mức
độ cá đói hoặc no thường.

động cho cá ăn còn phụ thuộc vào
mơi trường ao ni, nghĩa là tính
đồng bộ trong đầu tư. Đặc biệt
cần cải thiện nồng độ ơxy trong
ao bằng cách này hoặc cách khác
để thức ăn được tiêu hóa tốt, q
trình trao đổi chất thuận lợi giúp
cá tăng trưởng nhanh. Nếu nồng
độ ơxy trong ao vẫn thấp, thì thức
ăn khơng được cá hấp thụ vào cơ
thể. Thức ăn bị đào thải ra ngồi
thay vì chuyển đổi để tăng trọng
cơ thịt.
Lắp đặt máy sục khí và bơm
ln chuyển nước, thay nước
thường xun sẽ bảo đảm nồng
độ ơxy cao và mơi trường ao an
tồn cho sức khỏe của cá. Nồng độ
ơxy được theo dõi và đo bằng cảm
biến ơxy. Thiết bị cảm biến ơxy sẽ
phát hiện khi ơxy trong ao xuống
thấp, báo hiệu cần sục khí và thay
nước.
Đầu tư đồng bộ máy tự động
cho cá ăn, thiết bị theo dõi nồng độ
ơxy và cải tiến kỹ thuật làm giàu
ơxy trong nước sẽ mang lại sự cải
thiện to lớn về hiệu quả kinh tế
của ngành ni cá tra hiện nay. n
VIDATEC
4/2013

Thûúng mẩi Thy sẫn / sưë 160 / thấng 4/2013

83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×