Tải bản đầy đủ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Phương pháp luyện tập nhằm nâng cao thành tích của học sinh lớp 5 môn chạy cự ly 30m trường tiểu học

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Phương pháp luyện tập nhằm nâng cao thành tích của học sinh lớp 5 môn
chạy cự ly 30m trường tiểu học
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện, đồng thời là một bộ
phận không thể tách rời của sự nghiệp giáo dục của Đảng và nhà nước ta.
Sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng đã góp phần
hết sức quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn
thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa
– hiện đại hóa đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng.
Tầm quan trọng của thể dục thể thao thể hiện rõ trong tư tưởng và việc
làm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh – Người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng
nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khỏe mới thành công”.
Chỉ thị số 36 – CT/TW ngày 24 tháng 03 năm 1994 của BCH TW Đảng
Cộng Sản Việt Nam về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới đã
khẳng định phương hướng “Phát triển thể dục thể thao là bộ phận quan trọng
trong chính sách phát triển kinh tế – Xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác thể dục thể thao phải góp
phần tích cực nâng cao sức khỏe, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành
mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao

năng suất lao động của xã hội và năng lực chiến đấu của lực lượng vũ trang”.
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác thể dục thể thao trong nhà trường
càng được xác định theo đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong
bộ môn thể dục, bồi dưỡng cho học sinh những đức tính dũng cảm, giúp học sinh


biết được kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, góp
phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự
giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh. Có sự tăng tiến về thể lực, thi đạt
tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản thân về thể dục thể
thao, biết vận dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trong và ngoài nhà
trường, góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống, tác phong công nghiệp.
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ quan
trọng không thể thiếu, được Đảng, Nhà Nước và các vị lãnh đạo luôn quan
tâm hàng đầu để làm hoàn thiện cấu trúc và chức năng của cơ thể con người,
thông qua tập luyện thể dục thể thao còn giáo dục về đạo đức, trí tuệ, tinh
thần, thẩm mỹ…. Nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn
diện để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.Trong
giáo dục thể chất trường học có nhiều nội dung khác nhau, trong đó chạy bền
được tiến hành thường xuyên ở tất cả các tiết học nội khoá trong năm học.
Nên việc phát triển tố chất sức bền là một trong những nội dung cơ bản nhằm
chuẩn bị tốt thể lực, khả năng chịu đựng một lượng vận động lớn trong thời
gian dài cho học sinh, tạo điều kiện cho các em tiếp thu, tập luyện các nội
dung khác được dễ dàng hơn.
Để phát triển tố chất sức mạnh thì bên cạnh việc tiếp thu các nguyên lý
kỹ thuật động tác thì việc tìm ra các phương pháp, phương tiện tập luyện là
một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra. Đặc biệt việc phát triển tố chất sức
mạnh cho học sinh nam trong các trường tiểu học là một vấn đề quan trọng.
Từ những vấn đề nêu trên mà tôi quyết định chọn đề tài:
“Phương pháp luyện tập nhằm nâng cao thành tích của học sinh lớp 5
môn chạy cự ly 30m trường tiểu học
1.2. Mục đích nghiên cứu


Nghiên cứu lựa chọn và áp dụng một số bài tập phát triển sức mạnh tốc
độ trong chạy cự ly ngắn theo chương trình thể dục lớp 5 trường tiểu học xã
chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la, nhằm góp phần thúc đẩy chất lượng dạy
và học môn chạy 30m đạt thành tích tốt hơn. Đồng thời rút ra một số kinh
nghiệm để giảng dạy nội dung chạy ngắn các năm sau được tốt hơn.
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu


Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn tới sức mạnh
tốc độ trong chạy cự ly ngắn theo chương trình thể dục lớp 5 trường tiểu học
xã ching sại huyện bắc yên tỉnh sơn la chưa được tốt.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng
cao sức mạnh tốc độ trong chạy cự ly ngắn theo chương trình thể dục lớp 5
trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la.
1.4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ trong chạy cự ly ngắn theo
chương trình thể dục lớp 5 trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh
sơn la.
1.4.1. Khách thể nghiên cứu
Học sinh tiểu học lớp 5 trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên
tỉnh sơn la.
1.5. Giả thiết khoa học
Chạy cự ly ngắn là một nội dung đơn giản, cần ít phương tiện và dụng
cụ để tiến hành. Chạy 30m đòi hỏi phải chạy với tốc độ cực đại và cố gắng
duy trì tới đích. Là quá trình phối hợp nhuần nhuyễn của bốn giai đoạn kỹ
thuật: xuất phát, chạy lao, chạy giữa quảng, về đích. Đây là nội dung thể hiện
đầy đủ các yếu tố nhanh nhẹn, khỏe mạnh, khéo léo. Vì vậy việc đưa vào


những bài tập với lượng vận động phù hợp nhằm nâng cao sức mạnh tốc độ
và nâng cao thành tích là vấn đề cần quan tâm.
1.6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: Tại sân trường của trường tiểu học xã
chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la.
Phạm vi thời gian: Từ 15 tháng 10 năm 2015 đến 15 tháng 2 năm 2016
tại trường của tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la.
.
Phạm vi đối tượng: Lứa tuổi học sinh tiểu học lớp 5 cho cả Nam và Nữ
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực tế giảng dạy ở lớp 5 trường tiểu học xã
chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la với tổng số 56 em học sinh.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các phương pháp nghiên cứu tôi đã sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau.
1.7.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, khi sử dụng phương
pháp này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau chủ yếu là các
nguồn tài liệu về giảng dạy và huấn luyện điền kinh, các tài liệu tham khảo là
công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, một số tạp chí chuyên
ngành và các kỷ yếu của các Hội nghị khoa học thể dục thể thao, cũng như
các tài liệu mang tính lý luận phục vụ mục đích của đề tài.
Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan còn là cơ sở để giúp
chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu và bàn luận kết quả nghiên
cứu. Trong đề tài tôi đã tiến hành tham khảo tài liệu bao gồm các văn kiện
của Đảng và nhà nước về thể dục thể thao, các chỉ thị, thông tư, các chế độ
chính sách đối với thể dục thể thao, các hồ sơ lưu trữ về thể dục thể thao, một
số luận văn cao học.


1.7.2. Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các tư liệu nghiên cứu thông
qua phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi các khách thể nghiên cứu. Các lĩnh
vực mà đề tài quan tâm là: Làm thế nào để nâng cao sức mạnh tốc độ cho học
sinh trong chạy cự ly ngắn. Tôi đã tiến hành phỏng vấn hai đối tượng: Các
chuyên gia trong ngành, các giáo viên thể dục thể thao, và các cán bộ có liên
quan trực tiếp đến phong trào thể dục thể thao và trong ngoài nhà trường
(tổng số là 30 người).
1.7.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Tổ chức quan sát sư phạm ngay tại trường trong giờ học chính khoá
thông qua phương pháp quan sát sư phạm để đánh giá tính. Kết quả của
phương pháp này được coi là những cơ sở thực tiễn để đề xuất, lựa chọn,
nghiên cứu các biện pháp hợp lý và cần thiết.
1.7.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thông qua các test và các
chỉ tiêu để đánh giá thể chất của học sinh. Các chỉ tiêu sử dụng là do Bộ giáo
dục và đào tạo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 09 năm
2008, và những tiêu chí đánh giá tính tự giác tích cực bao gồm 7 test.
1. Test: Dẻo gập thân (cm).
2. Test: Chạy con thoi (4x10m. giây).
3. Test: Bật xa tại chỗ (cm).
4. Chạy 60m (giây).
5. Chạy 800m (giây).
6. Nhảy xa (m).
7. Đá cầu (điểm)
1.7.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm


Để khẳng định tính khoa học và hiệu quả của các biện pháp đề ra
chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm trên hai nhóm: Nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng. Trong thời gian thực nghiệm chúng tôi luôn tuân
theo những điều kiện cơ bản cần thiết như nhau giữa hai nhóm như.
- Đối tượng thực nghiệm đồng đều về các mặt, tuổi, hình thái, chức
năng cơ thể và đặc biệt là trình độ vận động.
- Điều kiện thực nghiệm tương đối đồng nhất, giống nhau. Như dụng
cụ sân tập, giáo viên luyện dạy, phương pháp tập luyện, thời gian luyện tập.
Chỉ có một điều kiện khác nhau giữa hai nhóm, trong đó nhóm đối chứng vẫn
tiến hành lên lớp như bình thường, còn nhóm thực nghiệm được áp dụng các
biện pháp nâng cao tính tự giác tích cực do chúng tôi đưa ra.
1.7.6. Phương pháp toán học thống kê
Tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý các số liệu thu
được trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng các công thức của chương trình
MS – Excel.
1.8. Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá được thực trạng và nguyên nhân dẫn tới sức mạnh tốc độ
trong chạy ngắn 30m của học sinh lớp 5 trường tiểu học xã chiềng sại huyện
bắc yên tỉnh sơn la .
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản có hiệu quả nhằm nâng cao sức
mạnh tốc độ và hoàn thiện kỹ thuật trong chạy ngắn của học sinh lớp 5
trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la .
- Nâng cao tinh thần học tập và giúp học sinh yêu thích học môn Thể dục.
- Học sinh có được một thể lực tốt nhất, cơ thể phát triển hài hòa cân đối.
- Nâng cao thành tích tập luyện cũng như trong thi đấu cho học sinh.
1.9. Kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu


1.9.1. Kế hoạch nghiên cứu
04 tháng, từ 15 tháng 10 năm 2015 đến 15 tháng 2 năm 2016
1.9.2. Tổ chức nghiên cứu
Giai đoạn 1: Từ tháng 15/10/2015 đến 15/11/2015.
- Xác định tên đề tài nghiên cứu.
- Xây dựng đề cương nghiên cứu.
Giai đoạn 2: Từ 16/11/2015 đến 10/01/2016.
- Giải quyết nhiệm vụ 1, và hoàn thành chương tổng quan của đề tài.
- Xử lý kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 - Viết kết quả nghiên cứu nhiệm vụ
1.
Giai doạn 3: Từ tháng 11/01/2015 đến 15/02/2015.
- Giải quyết nhiệm vụ 2. Xác định các yếu tố ảnh hưởng và tìm các
biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực.
- Xử lý kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 - Viết kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2.
- Xử lý kết quả thực nghiệm.
- Hoàn thiện đề tài.
Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận nghiên của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với giáo dục
thể chất và thể thao trong nhà trường
Nó bao gồm giáo dục thể chất bắt buộc (2 tiết một tuần với học sinh phổ
thông; từ 90-150 tiết/năm học đối với học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) và các hoạt động thể thao ngoại khoá
(tự nguyện) ngoài giờ học (trong nhà trường hoặc ngoài nhà trường). Giáo
dục thể chất bắt buộc được gọi là giờ thể dục chính khoá hoặc giờ thể dục nội
khoá.


Nhiệm vụ và mục tiêu của thể dục thể thao trường học là nâng cao sức
khoẻ, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; phát triển các
tố chất thể lực và kỹ năng vận động cơ bản của con người; hình thành thói
quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức ý chí cho người
học. Phát triển thể dục thể thao trường học có tầm quan trọng đặc biệt trong
việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Những vấn đề nói trên được quy định tại chương II - Luật Thể dục, Thể
thao (Quốc hội khoá 11 thông qua năm 2006) và quy định tại điều 7 Nghị
định 122/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật Thể dục, Thể thao. Những quy định này đã thể chế
hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về thể
dục thể thao nói chung và thể dục thể thao trường học nói riêng.
Tháng 10/1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh đã
nêu rõ: “...Khuyến khích, giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống
ngày càng thêm mạnh. Trẻ em được Chính phủ đặc biệt săn sóc về Thể dục,
Trí dục và Đức dục...”
Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 38 thiết lập tại
Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, trong đó có một
Phòng thanh niên Trung ương và một Phòng Thể dục Trung ương, có nhiệm
vụ “... khuyên và dạy đồng bào tập thể dục...”. Bác Hồ còn viết bài “Sức khoẻ
và thể dục” đăng trên báo Cứu quốc (tiền thân của báo Nhân dân) và báo Việt
Nam Khoẻ (tiền thân của báo Thể thao Việt Nam) trong đó, Người khẳng
định “... giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng
cần phải có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là
cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là cả nước mạnh khỏe...”


Tháng 1 năm 1955, trong Lễ Khai giảng trường đại học Nhân dân
Việt Nam, Bác Hồ đã căn dặn: “Thanh niên phải chuyên tâm đi học và công
tác nhưng cũng cần có vui chơi. Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự
sinh hoạt của thanh niên. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thứ
vui chơi văn hoá, thể thao có tinh thần tập thể và quần chúng... ” (Hồ Chí
Minh - Bàn về công tác giáo dục - NXB Sự Thật 1972)
Các sự kiện và những văn bản nói trên đã chứng minh rằng: Ngay từ
trước Cách mạng tháng 8 và sau khi chúng ta vừa giành được chính quyền và
đang phải chống lại 3 loại giặc (đói - dốt - ngoại xâm) thì Trung ương Đảng
và Bác Hồ đã nêu quan điểm, tư tưởng chỉ đạo công tác thể dục thể thao (thể
dục theo nghĩa rộng) đối với thế hệ trẻ (học sinh). Vì đó là đối tượng chính
của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Về mặt tổ chức, cơ quan quản lý
nhà nước đầu tiên và cao nhất về thể dục thể thao được đặt trong Bộ quốc gia
Giáo dục (trước đó là trong Bộ thanh niên). Điều này càng thể hiện tầm nhìn
chiến lược của Đảng về công tác Giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường
học.
Từ đó đến nay, trong mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc hoặc trong từng
nhiệm kỳ, Trung ương Đảng đều ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri
về thể dục thể thao nói chung và thể dục thể thao trường học nói riêng.
Trong Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác thể dục thể thao
trong giai đoạn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định mục tiêu đến năm
2000 thể dục thể thao trường học phải đạt: “Thực hiện Giáo dục thể chất
trong tất cả các trường học. Làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành
nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên…”. Muốn vậy thì “... Ban
cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban cán sự Đảng Tổng cục thể dục
thể thao phải phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác Giáo dục thể chất, cải tiến


chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể
dục thể thao cho trường học các cấp tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất
để thực hiện chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học…”
Trong chỉ thị 17/CT-TƯ ngày 23/10/2002 về phát triển thể dục thể thao
đến năm 2010, Ban bí thư TƯ Đảng xác định “Đẩy mạnh hoạt động thể dục
thể thao nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Phát triển phong
trào thể dục thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp; Đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ VĐV thành tích cao… Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở
trường học, tiến tới đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên
trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng
giáo dục thể chất; Xem đây là một tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc
gia... Tăng đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển thể dục thể thao ở trường
học, ở nông thôn và miền núi…”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 xác định 1
trong 3 mũi đột phá chiến lược để phát triển kinh tế xã hội đất nước đến năm
2020 là: “... Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc
dân; gắn kết chặt chẽ việc phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học công nghệ. Cần tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi
trường văn hóa lành mạnh, chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt
Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự hào dân tộc,
trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ... Làm
tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học... Phát triển mạnh phong trào
thể dục thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn
thể thao thành tích cao mà nước ta có ưu thế; Kiên quyết chống tiêu cực trong
thi đấu thể thao...


Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành NQ số 08/NQ-TW về công tác
thể dục thể thao, trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng
công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đến năm 2020: “...
phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể... Cần
quan tâm đầu tư đúng mức thể dục thể thao trường học, với vị trí là bộ phận
quan trọng của phong trào thể dục thể thao; là một mặt của giáo dục toàn diện
nhân cách học sinh, sinh viên... Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát
triển giáo dục thể chất và thể thao trường học... Thực hiện tốt giáo dục thể
chất theo chương trình nội khoá; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của
học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng
vận động cơ bản của học sinh, sinh viên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài
năng thể thao... Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn
giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục
sức khoẻ và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên... Đãi ngộ hợp lý và phát
huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có; mở rộng và nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho
trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và
thể dục thể thao trường học...”
Trên đây là những văn bản, văn kiện của Đảng nói về thể dục thể thao
trường học. Hệ thống các văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ cũng
quy định rất rõ ràng về giáo dục thể chất và Thể thao trong nhà trường.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều
41 có quy định “Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục thể thao dân tộc,
khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể
dục thể thao; Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học.
Khuyến khích và giúp đỡ phát triển: Các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự


nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng
các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao
chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao’’.
Luật Thể dục, Thể thao năm 2006 quy định “Giáo dục thể chất là môn
học chính khóa, thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ
năng vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động
thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ
chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và
sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải
trí, phát triển năng khiếu thể thao” (Điều 20).
Luật thể dục thể thao cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục - Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban thể
dục thể thao làm 5 việc, đó là: Xây dựng chương trình giáo dục thể chất; Đào
tạo bồi dưỡng giáo viên thể dục thể thao; Hướng dẫn hoạt động ngoại khoá
trong hệ thống các trường học của cả nước (công lập và ngoài công lập); Quy
định tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh và tổ chức hệ thống thi đấu thể thao
cấp quốc gia dành cho học sinh, sinh viên mà trọng tâm là Hội khoẻ Phù
Đổng và Đại hội Thể dục thể thao sinh viên toàn quốc tổ chức 4 năm 1 lần;
Trách nhiệm của các bộ, ngành phải xây dựng cơ sở vật chất bố trí giáo viên
thể dục cho các trường thuộc bộ, ngành quản lý; Trách nhiệm của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh phải quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết
bị và đảm bảo chỉ tiêu biên chế giáo viên thể dục cho các trường công lập ở
địa phương (Điều 21); Trách nhiệm mỗi nhà trường phải thực hiện chương
trình thể dục nội khoá theo quy định, phải hướng dẫn hoạt động ngoại khoá
cho người học, phải quản lý sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và phải đảm
bảo an toàn cho học sinh trong tập luyện và thi đấu thể thao (Điều 22); Trách


nhiệm và quyền lợi của giáo viên thể dục và học sinh thể dục (Điều 23 và
24); Trách nhiệm của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức
xã hội về thể dục thể thao đối với giáo dục thể chất và thể thao trường học
(Điều 26).
Nghị định số 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định Bộ Giáo dục Đào tạo chủ trì phối hợp với Uỷ ban thể dục thể thao và Bộ Nội vụ ban hành
Chuẩn mực quốc gia về môn học thể dục trong nhà trường; Tiêu chuẩn giáo
viên thể dục thể thao; Định mức biên chế giáo viên thể dục thể thao cho từng
cấp học, bậc học (Khoản 1 và 2 Điều 7). Trách nhiệm của cơ quan quản lý
giáo dục và mỗi nhà trường phải tạo điều kiện hoạt động cho các câu lạc bộ
thể dục thể thao của học sinh, sinh viên; Đầu tư xây dựng và sử dụng đúng
mục đích đất đai và cơ sở vật chất của thể dục thể thao trong trường học
(Khoản 3 và 4 Điều 7).
Tháng 12/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành QĐ số 2198/QĐ-TTg
phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến 2020, trong đó
xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển thể dục thể thao trường học. Để
thực hiện được các nhiệm vụ này, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định về phát
triển giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học. Thực hiện trách
nhiệm theo các quy định của Pháp luật, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã và sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
để phối hợp chỉ đạo điều hành hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trong
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân theo xu hướng xã hội hóa và cải cách
hành chính mà trong đó điểm mấu chốt là: Các cơ quan quản lý nhà nước xây
dựng ban hành và kiểm tra, giám sát các chuẩn mực về Giáo dục thể chất và
thể thao trong mỗi cấp học, bậc học; Các tổ chức xã hội về thể dục thể thao


phải sớm được kiện toàn, đủ sức thực hiện các hoạt động tác nghiệp về thể
dục thể thao trường học.
Mục tiêu làm cho khoảng 1/4 dân số của cả nước được chăm sóc chu
đáo nhất về “Thể dục”, để cùng với “Trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục
lao động” tạo nên các thế hệ con người Việt Nam cường tráng về thể chất,
trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần và có trí tuệ cao để xây dựng
đất nước giàu mạnh và phát triển bền vững đúng như mong ước của Đảng,
Bác Hồ và toàn dân tộc.
2.1.2. Mục tiêu thể dục thể thao trong trường học
- Mục tiêu thể dục thể thao trong trường học giúp học sinh biết được một
số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực.
- Góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ
luật, thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh.
- Có sự tăng tiến về thể lực, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện
khả năng của bản thân về thể dục thể thao.
- Biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học và nếp sinh hoạt ở
trường và ngoài nhà trường.
Thông qua các hoạt động thể dục thể thao rèn luyện cho học sinh tác
phong khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tính kỉ luật và một số phẩm chất đạo đức cần
thiết chính là góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống lành mạnh, tốt
đẹp. Góp phần giáo dục đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người có ích
cho xã hội, chuẩn bị về thể lực và nếp sống cho người lao động tương lai thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học
Đặc điểm tâm lý:
Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi quá độ và là giai đoạn rất nhạy cảm, có sự
phát triển đặc biệt mạnh mẽ, linh hoạt của các đặc tính nhân cách. Các em


luôn mong muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau, nên hành
vi của các em phức tạp và mâu thuẫn.
Vì vậy cần thường xuyên giám sát và giáo dục cho phù hợp trên cơ sở
phát huy tính tích cực, sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động, tạo
điều kiện phát triển tốt các khả năng cho các em
Đặc điểm về mặt sinh lý
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì thế
mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin
gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới
các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa
các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm
bảo sự an toàn cho trẻ.
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố
vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,...Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục
nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.
2.1.4. Cơ sở lí luận về bài tập thể lực chuyên môn trong chạy cự ly ngắn
Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thể
chất con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹ xảo vận động
cơ bản trong đời sống con người, cùng những hiểu biết có liên quan đến
những kỹ năng, kỹ xảo đó.


Trong thể dục thể thao nói chung và điền kinh nói riêng, các bài tập thể
dục thể thao được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt, tác động đến đối
tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích giáo dục thể chất.
Dựa theo các quan điểm khác nhau, các bài tập thể dục thể thao dùng
trong giảng dạy, huấn luyện được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Một
trong những cách phân loại phổ biến là phân thành các bài tập nhằm tạo điều
kiện cho việc nắm vững kỹ thuật động tác (bài tập bổ trợ) và các bài tập thể
lực chuyên môn nhằm phát triển các tố chất thể lực: sức nhanh, sức mạnh, sức
bền,…Trên thực tế các tố chất này thể hiện dưới dạng tổng hợp gắn liền với
nhau. Tuy nhiên, trong cự ly ngắn thì sức mạnh tốc độ và sức nhanh thể hiện
rõ ràng hơn. Để đạt được thành tích cao trong chạy cự ly ngắn thì cần phối
hợp có hiệu quả và sử dụng các bài tập huấn luyện về sức mạnh tốc độ, sức
nhanh…Phải được lựa chọn phù hợp với lứa tuổi, giới tính và điều kiện cơ sở
vật chất ở từng địa phương.
2.1.5. Nguyên lý kỹ thuật và tác dụng tập luyện môn chạy cự ly ngắn
2.1.5.1. Nguyên lý kỹ thuật chạy cự ly ngắn
Môn chạy cự ly ngắn có các cự ly 60m, 100m, 200m, 400m. Chạy cự
ly ngắn là một hoạt động có tính chu kỳ, có cường độ tối đa, chủ yếu phát
triển sức mạnh bền tốc độ. Đặc điểm chung của cự ly ngắn là tốc độ cao nhất,
cường độ lớn nhất và thời gian ngắn nhất. Một chu kỳ hoạt động trong chạy
cự ly ngắn đều có hai bước chạy, bao gồm 4 thời kỳ: chống tựa của một chân,
bay, chống tựa của chân kia, bay. Mỗi thời kỳ chống tựa có 2 giai đoạn:
Giai đoạn chống trước: Từ khi chân lăng mới tiếp xúc xuống mặt đất
tới khi tổng trọng tâm của cơ thể dọi thẳng góc xuống chân chống tựa (thời
điểm thẳng đứng).
Giai đoạn chống sau: Từ khi tổng trọng tâm thân thể dọi thẳng góc
xuống chân chống tựa (thời điểm thẳng đứng) tới khi chân chống tựa đạp sau


rời khỏi mặt đất. Bước chạy càng tích cực, tốc độ càng nhanh thì thời kỳ bay
trên không càng ngắn, hệ số tích cực của bước chạy càng nhỏ.
Như vậy, muốn chạy nhanh phải giảm thời gian bay trên không. Hay
nói cách khác, trong giai đoạn chống sau, phải giảm tốc độ đạp sau và tăng
lực đạp sau, để đưa cơ thể chuyển động nhanh về phía trước. Ở giai đoạn
chống sau, các cơ duỗi chân chống tựa phải hoạt động rất tích cực theo chế độ
khắc phục đạp thẳng hết chân. Các cơ chân kia (chủ yếu là cơ tứ đầu đùi)
cũng phải hoạt động tích cực, để phối hợp đánh đùi về phía trước lên trên.
Muốn đánh đùi của chân lăng tích cực và nhanh, cẳng chân phải theo quán
tính gập sát với đùi trên để rút ngắn bán kính chuyển động, tăng tốc độ góc.
Ngoài hoạt động của hai chân còn có sự phối hợp hiệu quả của các cơ
tham gia đánh tay và các cơ tham gia giữ thân trên ở vị trí hợp lý. Giai đoạn
chống sau có liên quan mật thiết hữu cơ với giai đoạn chống trước, giai đoạn
chống trước lại có quan hệ mật thiết với thời kỳ bay.
Trong khi chạy xuất phát thấp, thân người ngã nhiều về phía trước. Ở
các bước đầu, chân chống tựa đặt phía sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể, ít
bị tác động bất lợi của phản lực chống tựa. Trọng tâm cơ thể cao nhất ở thời
kỳ bay và thấp nhất ở thời kỳ chống tựa. Trọng tâm cơ thể càng ít di động thì
tốc độ càng cao.
Trong quá trình chạy, tốc độ bước chạy phụ thuộc vào tần số bước và
độ dài bước. Những công trình nghiên cứu chưa nhất trí khẳng định: Tốc độ
trong chạy cự ly ngắn phụ thuộc vào tần số bước chạy hay độ dài bước. Tuy
nhiên một số công trình nghiên cứu gần đây khẳng định tốc độ bước chạy phụ
thuộc vào tần số bước chạy với độ dài bước thích hợp. Động tác chạy phải hết
sức thoải mái, không bị căng thẳng, kết hợp tốt việc phối hợp bước chạy với
hô hấp.
2.5.1.2. Tác dụng tập luyện môn chạy cự ly ngắn


- Nhằm rèn luyện tư thế cơ bản của cơ thể, tăng cường sức khoẻ cho
học sinh, phát triển sức mạnh cơ chân và sự chịu đựng của cơ quan nội tạng.
Rèn luyện chạy làm cho hoạt động cơ bắp, các hệ thống cơ quan nội tạng
được đẩy mạnh, quá trình trao đổi chất và năng lượng được nhanh hơn. Các
tố chất nhanh nhẹn, khéo léo được phát triển, làm cơ sở tốt cho việc hình
thành các kĩ năng vận động phức tạp khác.
- Giúp học sinh hiểu biết và rèn luyện tư thế đi đúng, đẹp, tự nhiên,
khắc phục các tư thế đi sai lệch như : đi chân chữ bát, đi vòng kiềng, đi hay
cúi đầu, đi thân hay lắc lư, lệch vai, gù lưng... Trên cơ sở đó mà các em sửa
đổi tốc độ và bước đi dài ngắn cho thích hợp, để nâng dần khả năng hoạt
động tự nhiên, phục vụ cuộc sống. Cần quan tâm và bảo đảm các yêu cầu kĩ
thuật, để học sinh thực hiện được tư thế đi chính xác.
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thực trạng hoạt động dạy học môn thể dục của trường tiểu học
trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la hiện nay
Trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la có 15 lớp với
tổng số 205 học sinh có tất cả 31 cán bộ giáo viên. Trong đó có 2 giáo viên
dạy thể dục có trình độ trung học sư phạm thể dục đảm nhiệm giảng dạy.
Điều này cũng làm chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng. Vì vậy cần nâng cao
hơn nữa về trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, cơ sở
vật chất, trang thiết bị của trường nhằm góp phần vào việc phần nâng cao
chất lượng giảng dạy của nhà trường.
2.2.2.Thực trạng thành tích chạy 30m của học sinh lớp 5 trường tiểu học
xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la
Do ý thức chủ quan của một số bộ phận học sinh thường lơ là trong
việc tập


luyện thể dục thể thao, chưa hiểu hết được tầm quan trọng trong việc rèn
luyện thể lực để nâng cao sức khỏe cho bản thân. điều này dẫn đến sức mạnh
tốc độ trong chay cự ly ngắn của các em còn thấp. Do đó, thành tích chạy của
các em chưa được cao.
2.2.3. Nguyên nhân
- Do các em chưa ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tập luyện
thể dục thể thao để nâng cao sức khỏe cho bản thân,
- Do các em chưa có hứng thú trong tập luyện, khi thích thì tập, không
thích thì thôi. Không duy trì tập luyện thường xuyên, tính tự giác tích cực
trong tập luyện chưa cao.
- Một số học sinh biểu hiện rất thích thú và bị lôi cuốn vào các trò chơi
điện tử, chat trên mạng, nên ít thời gian dành cho hoạt động thể dục thể thao
và lao động chân, tay.
2.3. Kết quả nghiên cứu
2.3.1. Cơ sở để xây dựng các biện pháp
Nhằm tìm hiểu hiệu quả việc sử dụng các bài tập thể lực chuyên môn
để nâng cao sức mạnh tốc độ trong chạy cự ly ngắn cho học sinh lớp 5 trường
tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la. Kết quả nghiên cứu có thể
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn chạy cự li ngắn cho học sinh
tiểu học tạo một nền tảng vững chắc cho các em bước qua cấp trung học cơ
sở.
Trong quá trình giảng dạy nội dung chạy ngắn, có rất nhiều bài tập bổ
trợ nhằm nâng cao thành tích cho các em học sinh. Tuy nhiên, căn cứ vào
điều kiện thực tế của nhà trường, trình độ của các em học sinh cũng như
nguyên lý của kỹ thuật chạy tôi đưa vào một số bài tập bổ trợ như sau.
2.3.2. Các biện pháp


Biện pháp 1: Một số bài tập bổ trợ
- Chạy bước nhỏ:
- Chạy nâng cao đùi:
- Chạy đạp sau:
- Chạy tăng tốc 30m:
- Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay:
- Vịn tay vào tường và thực hiện động tác đạp chân:
- Chạy nhanh tại chỗ:
-Thực hiện kỹ thuật sau các lệnh: vào chỗ- sẵn sàng- chạy, và chạy tốc độ
cao cự ly 20m.
- Mục đích nhằm tăng sức mạnh của lực đạp chân và sức nhanh phản xạ.
- Chạy biến tốc các đoạn 20- 30m.
- Chạy tốc độ cao 60m.
- Chạy lặp lại các đoạn 30- 40m với tốc độ tối đa:
- Chạy có giới hạn độ dài bước:
- Bật cao tại chỗ:
- Bật xa di chuyển:
- Phối hợp 4 giai đoạn kỹ thuật có dây đích hoàn thiện cự ly 100m.
Biện pháp 2: Phương pháp tổ chức và ứng dụng những bài tập bổ trợ
vào tập luyện.
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng hai nhóm:
 Nhóm thực nghiệm: Ngoài những bài tập theo phân phối chương trình
chuẩn thì tôi có sử dụng thêm những bài tập phát triển sức mạnh tốc độ để
nâng cao thành tích cho học sinh.
 Nhóm đối chứng: Tôi soạn theo phân phối chương trình chuẩn của Bộ
Giáo Dục và Đào Tạo.
Nhiệm vụ cụ thể của hai nhóm như sau:


- Nhóm đối chứng.

 Buổi học 1:
+ Giới thiệu kỹ thuật chạy ngắn.
+ Chạy bước nhỏ.
+ Chạy nâng cao đùi.
+ Chạy đạp sau.
+ Chạy tăng tốc độ 30m.
+ Kiểm tra thử 100m
Bài tập về nhà: Chạy bước nhỏ, chạy nâng cao đùi, chạy đạp sau, chạy tăng
tốc độ 30m.

 Buổi học 2:
+ Chạy bước nhỏ.
+ Chạy nâng cao đùi.
+ Chạy đạp sau.
+ Chạy tăng tốc độ 30m.
+ Thực hiện kỹ thuật sau các lệnh: “vào chỗ”, “sẵn sàng”,
“chạy”.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp chạy 20m.
Bài tập về nhà: Chạy nâng cao đùi, chạy đạp sau, xuất phát thấp không bàn
đạp cự ly khoảng 60m.

 Buổi học 3:
+ Chạy bước nhỏ.
+ Chạy nâng cao đùi.
+ Chạy đạp sau.
+ Chạy tăng tốc độ 30m.


+ Thực hiện kỹ thuật sau các lệnh: “vào chỗ”, “sẵn sàng”,
“chạy”.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp chạy 15m.
+ Chạy có giới hạn độ dài bước.
+ Chạy lặp lại các đoạn ngắn 20- 30m.
Bài tập về nhà: Chạy nâng cao đùi, chạy đạp sau, xuất phát thấp không bàn
đạp cự ly khoảng 100m.

 Buổi học 4:
+ Chạy bước nhỏ.
+ Chạy nâng cao đùi.
+ Chạy đạp sau.
+ Thực hiện kỹ thuật sau các lệnh: “vào chỗ”, “sẵn sàng”,
“chạy”.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp chạy 15m.
+ Chạy tốc độ cao đoạn ngắn cự ly 20m.
Bài tập về nhà: Chạy đạp sau, chạy tốc độ cao đoạn ngắn cự ly 20m, chạy
nâng cao đùi.

 Buổi học 5:
+ Luật điền kinh (phần chạy ngắn).
+ Chạy bước nhỏ.
+ Chạy nâng cao đùi.
+ Chạy đạp sau.
+ Chạy tốc độ cao đoạn ngắn cự ly 20m.
+ Kỹ thuật đánh đích.
Bài tập về nhà: Chạy đạp sau, chạy tốc độ cao đoạn ngắn cự ly 20m, chạy
nâng cao đùi, luật điền kinh (phần chạy ngắn).

 Buổi học 6:


+ Xuất phát thấp với bàn đạp hoàn thành cự ly 100m.
+ Phối hợp 4 giai đoạn kỹ thuật, hoàn thành cự ly 100m.
Bài tập về nhà: Chạy đạp sau, chạy tốc độ cao đoạn ngắn cự ly 20m, phối
hợp 4 giai đoạn kỹ thuật, hoàn thành cự ly 100m.
- Nhóm thực nghiệm.

 Buổi học 1:
+ Giới thiệu kỹ thuật chạy 30m.
+ Chạy đạp sau.
+ Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay.
+ Vịn tay vào tường thực hiện động tác đạp chân.
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Bật xa di chuyển.
+ Thực hiện kỹ thuật sau các lệnh: “vào chỗ”, “sẵn sàng”,
“chạy” và chạy cự ly 20m.
+ Kiểm tra thử chạy 30m.
Bài tập về nhà: Chạy đạp sau, tại chỗ thực hiện động tác đánh tay, bật xa tại
chỗ, chạy nhanh tại chỗ.

 Buổi học 2:
+ Chạy đạp sau.
+ Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay.
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Bật xa di chuyển.
+ Kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp cự ly 20m tốc độ tối đa.
+ Chạy lặp lại các đoạn 30- 40m tốc độ gần tối đa.
+ Bật cao tại chỗ
Bài tập về nhà: Chạy đạp sau, thực hiện động tác đánh tay, bật xa tại chỗ, bật
cao tại chỗ ôm gối, chạy tốc độ cao cự ly 30m.


 Buổi học 3:
+ Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay.
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp cự ly 20m tốc độ tối đa.
+ Chạy tốc độ 30m.
+ Chạy tốc độ 60m.
+ Chạy có giới hạn độ dài bước.
Bài tập về nhà: Thực hiện động tác đánh tay, bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ
ôm gối, chạy nhanh tại chỗ, xuất phát thấp không bàn đạp chạy tốc độ cao cự
ly 60m.

 Buổi học 4:
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Thực hiện kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp chạy cự ly 20m tốc độ tối đa.
+ Chạy có giới hạn độ dài bước.
+ Chạy lặp lại các đoạn 30m tốc độ tối đa.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp hoàn thành cự ly 100m.
Bài tập về nhà: Thực hiện động tác đánh tay, bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ
ôm gối, chạy nhanh tại chỗ, xuất phát thấp không bàn đạp chạy tốc độ cao cự
ly 100m.
 Buổi học 5:
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Vịn tay vào tường thực hiện động tác đạp chân.
+ Thực hiện kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp chạy cự ly 20m
tốc độ tối đa.
+ Chạy biến tốc 20m tốc độ tối đa.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp hoàn thành cự ly 100m.


+ Kỹ thuật đánh đích.
Bài tập về nhà: Thực hiện động tác đánh tay, bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ
ôm gối, xuất phát thấp không bàn đạp chạy tốc độ cao cự ly 100m.
 Buổi học 6:
+ Giới thiệu luật điền kinh nội dung chạy ngắn.
+ Chạy nhanh tại chỗ.
+ Kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp cự ly 20m tốc độ tối đa.
+ Chạy biến tốc 20m tốc độ tối đa.
+ Xuất phát thấp với bàn đạp hoàn thành cự ly 100m.
Bài tập về nhà: Bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ ôm gối, chạy tốc độ cao cự ly
60m,
2.3.3. Đánh giá hiệu quả của biện pháp trong thực tiễn giảng dạy tại nhà
trường
Cho học sinh tập thể lực tăng cường các bài tập bổ trợ. Nhằm tăng sức
mạnh của nhóm cơ chân. Qua thời gian ứng dụng, tôi thu được kết quả đánh
giá kết quả thành tích chạy 60m như sau:
Thành tích
Điểm
9 – 10
7–8
5–6
4

Nam

Nữ

≤ 10''30
10''31 – 11''9”
11''10 – 12''9 10”
≥ 12''10

≤ 11''20
11''20 – 12''19
12''20 – 13''9
≥ 13''10

Quá trình thực nghiệm test :

Nhóm
Nội dung
Số lượng
Thời gian
Phương pháp tập

Đối chứng (5A1)

Thực nghiệm (5A2)

30 học sinh
2 tháng
Sử dụng các bài tập

30 học sinh
2 tháng
Thức hiện các bài tập


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×