Tải bản đầy đủ

ĐỀ KIỂM TRA PHẦN II (Lớp Bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

ĐỀ KIỂM TRA PHẦN II
(Lớp Bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II)

Câu 1. Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH là gì? Mục đích, ý nghĩa của
sinh hoạt chuyên môn theo NCBH?
Câu 2. Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh
hoạt chuyên môn theo NCBH
Câu 3. Nêu khó khăn gặp phải trong SHCM ở trường thầy, cô công tác.
BÀI LÀM

Câu 1. Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là gì?
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học: Là hoạt động giáo viên
cùng nhau học tập từ thực tế việc học của học sinh (HS). Ở đó, giáo viên cùng
nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập
trung chủ yếu vào việc học của HS) bài học. Đồng thời đưa ra những nhận xét

về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa
ra… có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, giáo viên được chia sẻ,
học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào bài học
hằng ngày một cách hiệu quả.
* Mục đích ý nghĩa của SHCM theo hướng NCBH
Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia thực sự vào quá trình học
tập, giáo viên quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh, đặt biệt những
học sinh có khó khăn về học.
Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng
sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ
thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ.
Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: cải thiện mối
quan hệ giữa Ban giám hiệu với giáo viên; giáo viên với giáo viên, giáo viên với
học sinh, cán bộ quản lý/giáo viên/học sinh với các nhân viên trong nhà trường;
giữa học sinh với học sinh. Tạo môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân
thiện cho tất cả mọi người.
Triết lí SHCM dựa trên nghiên cứu bài học:
– Đảm bảo cơ hội học tập cho từng học sinh;
– Đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho từng giáo viên;
– Xây dựng cộng đồng nhà trường để đổi mới nhà trường;
– Mỗi học sinh đến trường đều phải được học và học được;
– Giáo viên phải chấp nhận mọi em học sinh với đặc điểm riêng của HS.

1


Câu 2: Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh
hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
SHCM truyền thống
SHCM theo NCBH
1. Mục đích
1. Mục đích
– Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu – Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo
chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp tiêu chí, quy định.
trên.
– Người dự tập trung quan sát các hoạt – Người dự giờ tập trung phân tích các
động của giáo để rút kinh nghiệm sau hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.
tiết dạy
– Thống nhất cách dạy các dạng bài để – Tạo cơ hội cho giáo phát triển năng lực


tất cả giáo viên trong từng khối thực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.
hiện.
2. Thiết kế bài dạy minh hoạ
2. Thiết kế bài dạy minh hoạ
– Bài dạy minh hoạ được phân công – Bài dạy minh hoạ được các giáo viên
cho một giáo viên thiết kế; được trong tổ, nhóm thiết kế. Chủ động linh
chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy hoạt không phụ thuộc máy móc vào quy
định.
trình, các bước dạy học trong SGK, giáo
viên
– Nội dung bài học được thiết kế theo – Các hoạt động trong thiết kế bài học cần
sát nội dung giáo viên, SGK, không đảm bảo được mục tiêu bài học, tạo cơ hội
linh hoạt xem có phù hợp với từng đối cho tất cả HS được tham gia bài học.
tượng HS không.
– Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng
các phương pháp, kĩ thuật dạy học.
3. Dạy minh hoạ, dự giờ
3. Dạy minh hoạ, dự giờ
* Người dạy minh hoạ
* Người dạy minh hoạ
– Giáo dạy hết các nội dung kiến thức – Có thể là một giáo tự nguyện hoặc một
trong bài học, bất luận nội dung kiến người được nhóm thiết kế lựa chọn.
thức đó có phù hợp với HS không.
– Giáo viên áp đặt dạy học một chiều, – Thay mặt nhóm thiết kế thể hiện các ý
máy móc: hỏi – đáp hoặc đọc – chép tưởng đã thiết kế trong bài học.
hoặc giải thích bằng lời.
– Giáo viên thực hiện đúng thời gian – Quan tâm đến những khó khăn của HS.
dự định cho mỗi hoạt động. Câu hỏi Kết quả giờ học là kết quả chung của cả
đặt ra thường yêu cầu HS trả lời theo nhóm.
đúng đáp án dự kiến trong giáo án
(mang tính trình diễn).
* Người dự giờ
* Người dự giờ
– Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát – Đứng ở vị trí thuận lợi để quan sát, ghi
người dạy như thế nào, ít chú ý đến chép, sử dụng các kĩ thuật, chụp ảnh, quay
những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt phim… những hành vi, tâm lí, thái độ của
động của HS.
HS để có dữ liệu phân tích việc học tập
của HS.
2


4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ
4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ
– Các ý kiến nhận xét sau giờ học – Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học,
nhằm mục đích đánh giá, xếp loại những ý tưởng mới, những cảm nhận của
giáo viên.
mình qua giờ học.
– Những ý kiến thảo luận, góp ý – Người dự đưa ra các ý kiến nhận xét,
thường không đưa ra được giải pháp góp ý về giờ học theo tinh thần trao đổi,
để cải thiện giờ dạy. Giáo viên dạy trở chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng; tập
thành mục tiêu bị phân tích, mổ xẻ các trung vào phân tích các hoạt động của HS
thiếu sót.
và tìm các ra nguyên nhân.
– Không khí các buổi SHCM nặng – Không đánh giá, xếp loại người dạy mà
nề, căng thẳng, quan hệ giữa các giáo coi đó là bài học chung để mỗi giáo viên
viên thiếu thân thiện.
tự rút kinh nghiệm.
– Cuối buổi thảo luận người chủ trì – Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe tất
tổng kết, thống nhất cách dạy chung cả ý kiến của giáo viên, không áp đặt ý
cho các khối.
kiến của mình hoặc của một nhóm người.
Tóm tắt các vấn đề thảo luận và đưa ra các
biện pháp hỗ trợ HS.
5. Kết quả
5. Kết quả
*Đối với HS
*Đối với HS
– Kết quả học tập của HS ít được cải – Kết quả của HS được cải thiện.
thiện.
– HS tự tin hơn, tham gia tích cực vào các
hoạt động học, không có học sinh nào bị
“bỏ quên”.
– Quan hệ giữa các HS trong giờ học – Quan hệ giữa các học sinh trở nên thân
thiếu thân thiện, có sự phân biệt giữa thiện, gần gũi về khoảng cách kiến thức.
HSG với HS yếu kém
*Đối với giáo viên
*Đối với giáo viên
– Các PPDH mà giáo viên sử dụng – Chủ động sáng tạo, tìm ra các biện pháp
thường mang tính hình thức, không để nâng cao chất lượng dạy và học.
hiệu quả. Do dạy học một chiều nên
giáo viên ít quan tâm đến HS .
– Quan hệ giữa giáo viên và HS thiếu – Tự nhận ra hạn chế của bản thân để điều
thân thiện, cởi mở.
chỉnh kịp thời.
– Quan tâm đến những khó khăn của HS,
đặc biệt là HS yếu, kém.
– Quan hệ giữa các giáo viên thiếu sự – Quan hệ giữa đồng nghiệp trở nên gần
cảm thông, chia sẻ, luôn phủ nhận lẫn gũi, cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ lẫn
nhau.
nhau.
* Đối với cán bộ quản lí
*Đối với cán bộ quản lí
– Cứng nhắc, theo đúng quy định – Đặt bài học lên hàng đầu, đánh giá sự
chung. Không dám công nhận những linh hoạt sáng tạo của của từng giáo viên.
ý tưởng mới, sáng tạo của giáo viên.
– Có cơ hội bám sát chuyên môn, hiểu
được nguyên nhân của những khó khăn

3


trong quá trình dạy và học để có biện pháp
hỗ trợ kịp thời.
– Quan hệ giữa cán bộ quản lí với giáo
– Quan hệ giữa cán bộ quản lí và giáo viên
viên là quan hệ mệnh lệnh, xa cách,
gần gũi, gắn bó và chia sẻ.
hành chính…
Câu 3: Nêu khó khăn gặp phải trong SHCM ở trường thầy, cô công tác
- Nội dung, chương trình hiện nay chưa theo định hướng phát triển năng
lực học sinh, do đó giáo viên phải chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp
dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp, của trường.
- Trong cùng một lớp học trình độ của học sinh chưa đồng đều, số lượng
học sinh đông dẫn đến việc tổ chức dạy thực nghiệm gặp nhiều khó khăn.
- Tổ chuyên môn chưa đồng bộ về chuyên môn đào tạo cũng như trình độ
chuyên môn, giáo viên kiêm nhiệm nhiều chức vụ cùng một lúc, dẫn đến hiệu
quả công việc chưa cao.
- Về cơ sở vật chất: Thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm chưa đầy đủ,
không đồng bộ.
- Giáo viên dạy phải chuẩn bị trước các đồ dùng dạy học, chủ động thay
thế những đồ dùng thiếu, điều này làm ảnh hưởng đến thời gian nghiên cứu.
- Giáo viên chuẩn bị bài dạy mất nhiều thời gian nên không sẵn sàng hợp
tác.
- Trong tiết dạy giáo viên không thể quan sát hết thái độ, hành động, sai
sót từng HS nên giáo viên ngại dạy vì sợ sau mỗi tiết dạy bị tham gia góp ý,
đánh giá sẽ hạ thấp uy tín bản thân. Nhiều giáo viên hoài nghi về tác dụng sinh
hoạt chuyên môn mới này.
Chư Sê, ngày 08 tháng 6 năm 2018
NGƯỜI VIẾT

4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×