Tải bản đầy đủ

BÀI TẬP TIỂU LUẬN DÀNH CHO LỚP GIÁO VIÊN THCS (HẠNG II)

BÀI TẬP TIỂU LUẬN DÀNH CHO LỚP GIÁO VIÊN THCS (HẠNG II)
Tại: Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông - ĐHTN
Câu hỏi: Trình bày những kiến thức mà thầy/cô đã tiếp thu được qua
10 chuyên đề, rút ra bài học cho bản thân và liên hệ với thực tiễn ở trường
trung học cơ sở nơi thầy/cô đang công tác.
Sau khi tham gia khóa học bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên
THCS hạng II em đã được tiếp thu những kiến thức bổ ích từ các chuyên đề
như: các kiến thức về quản lý nhà nước, chiến lược và chính sách phát triển giáo
dục và đào tạo, quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế
thị trường định hướng XHCN, tổ chức hoạt động dạy học xây dựng và phát triển
kế hoạch dạy học ở THCS, phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS
hạng II, thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng, dạy học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh, giáo viên với công tác tư vấn học
sinh. Trong các chuyên đề trên đều là những kiến thức bổ ích phục vụ cho công
tác chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mỗi giáo viên. Một trong các chuyên đề
của khóa học đã giúp em hiểu sâu hơn và để áp dụng có hiệu quả trong hoạt
động dạy học của bản thân .
Hiện nay giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ
chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học –
từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học
sinh học được cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải

thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ
một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình
thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo
dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến
thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra,
đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất
lượng của hoạt động dạy học và giáo dục.

1


Trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công
việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được
những thành công bước đầu. Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng
ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát
triển năng lực của người học. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng
như việc đi dự giờ đồng nghiệp tại trường tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc
đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh…
chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng
chưa được quan tâm. Hoạt động kiểm tra, đánh giá còn nhiều hạn chế, chú trọng
đánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá cả quá trình học tập. Tất cả những điều
đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong
thực tiễn.
Qua thời gian học tập, được bồi dưỡng kiến thức thuộc lớp bồi dưỡng tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II được Quý thầy, cô của
trường: Đại học sư phạm Thái Nguyên, Trường Đại học Công nghệ thông
tin và truyền thông - ĐHTN truyền đạt những kiến thức và kỹ năng gồm
những nội dung:
Chuyên đề 1. Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước.
Chuyên đề 2. Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo.
Chuyên đề 3. Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ
chế thị trường định hướng XHCN.
Chuyên đề 4. Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS.
Chuyên đề 5. Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch
giáo dục ở trường THCS.
Chuyên đề 6. Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II.
Chuyên đề 7. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường
THCS.
Chuyên đề 8. Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng
trường THCS.


2


Chuyên đề 9. Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên
trong trường THCS.
Chuyên đề 10. Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng
cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS.
Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lí, giáo
viên giảng dạy trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Với 10
chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực
tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân đã tiếp
thu được nhiều kiến thức bổ ích qua đó mạnh dạn đưa ra một số bài học nhằm
phục vụ cho quá trình công tác sau này tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn,
việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn do đó dù đã cố
gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được
sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
I . Nội dung đầu tiên được nghiên cứu thuộc chuyên đề 1 “Lý luận về nhà nước
và hành chính nhà nước”, Qua chuyên đề 1 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng
với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ
thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực
chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Quản lý nhà
nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà
nước.
Ở nước ta việc quản lí nhà nước thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất nguyên tắc Đảng cẩm quyền lãnh đạo hành chính nhà nước: Hoạt
động hành chính nhà nước luôn nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền.
Đảng cầm quyền lãnh đạo hành chính nhà nước là để hoạt động của bộ máy
hành chính nhà nước đi đúng đường lối, chủ trương của đảng, phục vụ cho mục
tiêu hiện thực hóa đường lối chính trị của đảng cầm quyền trong xã hội. Do đó,
sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với hoạt động hành chính nhà nước là tất
yếu.
3


Thứ hai là nguyên tắc pháp trị: Nguyên tắc pháp trị trong hành chính nhà
nước là xác lập vai trò tối cao của pháp luật, là việc tiến hành các hoạt động
hành chính nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ
để tiến hành hoạt động công vụ.
Thứ ba nguyên tắc phục vụ: Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu
thành không tách rời của bộ máy nhà nước nói chung nên hoạt động mang đặc tính
chung của bộ máy nhà nước với tư cách là công cụ chuyên chính của giai cấp cầm
quyền. Do đó, khi tiến hành các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động duy trì trật tự xã
hội theo các quy định của pháp luật, các quyết định quản lý hành chính nhà nước tiềm
ẩn khả năng cưỡng chế đơn phương của quyền lực nhà nước và có thể sử dụng các
công cụ cưỡng chế của nhà nước (như công an, nhà tù, tòa án,...) để thực hiện quyết
định.
Thứ tư là nguyên tắc hiệu quả: Hiệu lực của hoạt động hành chính nhà
nước thể hiện ở mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà
nước trong quá trình quản lý xã hội, còn hiệu quả của hoạt động hành chính nhà
nước phản ánh mối tương quan giữa kết quả của hoạt động so với chi phí bỏ ra
để đạt kết quả đó.
Ngoài ra nhà nước còn quản lí theo nguyên tắc hoạt động hành chính nhà
nước phải chịu sự giám sát chặt chẽ của công dân và xã hội và nguyên tắc tập trung
dân chủ. Từ thực tiễn công tác và nội dung đã học, bản thân tôi nhận thấy việc quản
lí cơ quan đơn vị phải thực hiện theo các nguyên tắc cụ thể để đảm bảo sự thống
nhất trong các hoạt động và tạo sự hiệu quả cao trong công việc, cụ thể:
Một là nâng cao vai trò của Đảng trong đơn vị công tác qua một số nội dung.
Hai là nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện.
Ba là xây dựng quy chế hoạt động của đơn vị đảm bảo.
Bốn là nguyên tắc hiệu quả trong công việc.

4


II. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 2:
“Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo” Qua chuyên đề 2 em
nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là
động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã
hội trong 10 năm vừa qua và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020
với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với
Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề
cơ bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát triển giáo dục.
Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và
truyền thông sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới
một nền giáo dục điện tử đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học.
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn
cầu tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô
hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát
triển giáo dục.
Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Khoảng
cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng
miền ngày càng rõ rệt, gây nguy cơ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong tiếp cận
giáo dục, gia tăng khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền và
cho các đối tượng người học.
Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế theo chiều sâu tri thức với
công nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo
dục là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với phát triển giáo dục.
Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế, tri thức, giáo dục giữa
Việt Nam và các nước ngày càng gia tăng. Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế
5


thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa
và lối sống không lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dục kém
chất lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi
mới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù hợp để phát triển giáo
dục.
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là
giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên
thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý
thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất,
kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi,
kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.
- Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận
chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí
vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài
chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu
và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về
phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng
đầu" còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế
hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã
hội .
- Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình
thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng
hơn. Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã
hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo.
6


- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ
sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra,
giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ . Nguồn lực quốc gia và khả năng
của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu.
III. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 3:
“Quản lí giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường
định hướng Xã Hội Chủ nghĩa.”, qua chuyên đề 3 em nhận thức được các vấn đề cơ
bản sau:
Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19/03/2008 quy định vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ GD&ĐT như sau:
*Vị trí và chức năng Bộ GD&ĐT là cơ quan của Chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về GD&ĐT thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
và các cơ sở giáo dục khác về các lĩnh vực, mục tiêu, chương trình, nội dung, kế
hoạch, chất lượng GD&ĐT, tiêu chuẩn nhà giáo, cán bộ quản lý GD, quy chế
thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, cơ sở vật chất và thiết bị trường
học, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
theo quy định của pháp luật.
b. Tổ chức bộ máy của Sở Giáo dục và Đào tạo
Chức năng, nhiệm vụ của Sở Giáo dục – Đào tạo được xác định theo
thông tư 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2011 Hướng dẫn về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo
như sau:
c. Tổ chức bộ máy của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Thông tư liên tịch số 47/ TTLT-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2011 hướng dẫn
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Giáo dục
1. Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện,
có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung
7


giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục;
tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử
và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
2. Phòng Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản
riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và nhiệm vụ công tác của
UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Sơ đồ hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục
Chính phủ

Bộ GD&ĐT
ĐH, VỤ, CỤC
ĐVSN

UBNDTỉnh
Sở GD&ĐT

Trường CĐ, TC,
UBND
Huyện

THPT, TTGDTX
Phòng GD&ĐT
Trường mầm non
tiểu học, THCS

UBND Xã

Chú thích:
Mũi tên

:Quản lý, chỉ đạo thực hiện

Mũi tên

: Phối hợp, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra

IV. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 4:
“Giáo viên THCS với công tác tư vân học sinh trong trường THCS.”, qua
chuyên đề 4 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
- Trình bày được các khái niệm cơ bản: tư vấn, tư vấn học đường; mối
quan hệ hỗ trợ về tâm lý, chức năng tư vấn của giáo viên; mục đích và tầm quan
trọng của tư vấn học đường.
8


- Phân tích được các đặc điểm tâm lý và những khó khăn tâm lý cơ bản của
HS THCS.
- Phân tích được các nội dung cơ bản của tư vấn học đường ở trường
THCS, phương pháp tư vấn, các hình thức tư vấn.
- Phân tích được các kỹ năng tư vấn cơ bản.
- Xác định các khó khăn tâm lý ở HS THCS.
- Thiết lập và duy trì mối quan hệ hỗ trợ về tâm lý đối với HS.
- Vận dụng linh hoạt các kỹ năng tư vấn để hiểu và đánh giá đúng vấn đề
của HS.
- Hỗ trợ HS tìm kiếm, lựa chọn các giải pháp để vượt qua khó khăn.
- Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ (chuyển tiếp) từ tuổi thơ sang tuổi trưởng
thành. Nếu được định hướng đúng, được tạo điều kiện thuận lợi thì trẻ em sẽ trở
thành cá nhân thành đạt, những công dân tốt. Ngược lại, nếu định hướng không
đúng, hoặc để trẻ bị tác động bởi các yếu tố tiêu cực thì trẻ sẽ có sự phát triển
lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách.
- Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các mối quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn
ngang hàng; trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương
lai của mình và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng.
- Thứ ba: Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ
lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lí, hoạt động, tương tác xã hội
và tâm lí, nhân cách. Từ đó hình thành cơ sở, nền tảng và vạch chiều hướng cho
sự trưởng thành thực thụ của cá nhân.
- Thứ tư: Tuổi thiếu niên là thời kỳ khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn
trong qúa trình phát triển. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh
phát triển của trẻ: Một mặt, có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của
người lớn, mặt khác hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự
phát triển tính người lớn như phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ
khác với gia đình, phụ thuộc kinh tế, xã hội vào cha mẹ ...
9


Đánh giá là một công việc thường xuyên của cán bộ tư vấn, đánh giá diễn
ra trong tất cả các giai đoạn của tư vấn, có thể trước, trong hoặc sau khi tư vấn
nhằm trợ giúp có hiệu quả. Trong tư vấn học đường đánh giá tâm lí HS là một
việc làm cần thiết để thu thập số liệu cho việc phòng ngừa, can thiệp đảm bảo tư
vấn chính xác, giúp HS nhận thức được bản thân từ đó nâng cao năng lực giải
quyết những khó khăn, vướng mắc đang gặp phải.
Kỹ năng đánh giá tâm lí HS là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thu thập
những dữ liệu chính xác về đặc điểm tâm lí của HS (năng lực, tính cách, điểm
mạnh, điểm yếu, mức độ khó khăn tâm lí…) để có kế hoạch trợ giúp can thiệp
kịp thời và hiệu quả.
Mục đích của kỹ năng: Phát hiện những nguy cơ, thu thập dữ liệu để hướng
nghiệp cho HS, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của HS để giúp HS nâng cao
năng lực giải quyết vấn đề dựa trên thế mạnh của họ.
V. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 5:
“Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở
trường trung học cơ sở.”, qua chuyên đề 5 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
- Hiểu được các hoạt động dạy học và giáo dục trong trường THCS, hiểu
được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động dạy học và
giáo dục trong trường THCS.
- Biết cách tổ chức, xây dựng các hoạt động dạy học và giáo dục trong
trường THCS.
- Tổ chức và thực hiện được một số hoạt động dạy học và giáo dục trong
trường THCS.
- Hoạch định được các công việc cụ thể trong trường THCS của tổ chuyên
môn, đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn , các tổ chức
đoàn thể khác…
- Đề xuất, vận dụng phương thức giải quyết và giải quyết một cách hiệu
quả các tình huống giáo dục/ mâu thuẫn giáo dục.
- Viết báo cáo SKKN, chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm với đồng nghiệp
- Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục
10


- Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục
Hàng năm, trước mỗi năm học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có văn
bản gửi cho các sở giáo dục và đào tạo về phương hướng cho từng cấp học đồng
thời nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm học . Trên cơ sở đó,
các sở giáo dục và đào tạo sẽ cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm cho phù hợp
với điều kiện thực tế của địa phương. Công văn v/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ giáo dục trung học thường gồm có 4 phần: (1) Nhiệm vụ trọng tâm; (2)
Nhiệm vụ cụ thể; (3) các kỳ thi trong năm; (4) Tổ chức thực hiện. Từ công văn
hướng dẫn chung đó, các trường phổ thông xây dựng kế hoạch năm học cụ thể
cho đơn vị mình.
(1). Rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục Theo lãnh đạo Bộ
Giáo dục và Đào tạo, việc triển khai rà soát, quy hoạch lại các cơ sở giáo dục và
đào tạo nhằm tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả
đầu tư, phù hợp với nhu cầu xã hội.
Cụ thể, trong năm học 2016 - 2017 Bộ tập trung thực hiện xây dựng
nguyên tắc, tiêu chí quy hoạch để các địa phương thực hiện quy hoạch mạng
lưới các cơ sở giáo dục các cấp phù hợp với điều kiện của từng vùng, địa
phương.
Với giáo dục đại học, Bộ sẽ tiến hành kiểm định chất lượng để xếp hạng, phân
tầng các cơ sở giáo dục đại học để sắp xếp lại mạng lưới. Trong đó, ngành giáo
dục ưu tiên quy hoạch trước mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên mầm non, phổ
thông.
(2). Nâng cao chất lượng đội ngũ Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bô quản lý giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai của Bộ Giáo dục và
Đào tạo trong năm học tới.
Theo đó, trong năm học 2016 – 2017, Bộ sẽ tập trung xây dựng và hoàn thiện
các chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục.

11


Sau khi có chuẩn, ngành tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng chất lượng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp theo chuẩn. Từ đó, có kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng hoặc tinh giản biên chế.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết sẽ tạo sự công bằng trong đào tạo, bồi
dưỡng giữa nhà giáo trong và ngoài công lập.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đồi ngũ, Bộ cũng đặt vấn đề rà soát những
bất cập về chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân
viên ngành giáo dục, tiến tới triển khai nghiên cứu, xây dựng Luật Nhà giáo.
(3). Đẩy mạnh phân luồng và hướng nghiệp
Công tác phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh đã được Bộ đưa ra là nhiệm
vụ trọng tâm trong nhiều năm học nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Trong năm học 2016-2017, hai giải pháp mới với hai mô hình thí điểm được
lãnh đạo Bộ đưa ra: Thứ nhất, thí điểm hình thành trường trung cấp vừa tổ chức
học văn hóa và học kỹ năng nghề trên địa bàn cấp huyện; Thứ hai, thí điểm triển
khai mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa
về cơ phương.
Bên cạnh đó, các chương trình cũ như mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục
thường xuyên và cơ sở giáo dục nghề nghiệp để cấp hai văn bằng cho người
học; hợp tác, liên kết giữa trường phổ thông và trường chuyên nghiệp trên địa
bàn để đào tạo và công nhận kỹ năng nghề cho học sinh… cũng sẽ được đánh
giá và tiếp tục.
(4). Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ . Có 7 nhiệm vụ cụ thể được
Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dạy


học

ngoại

ngữ,

đặc

biệt



tiếng

Anh.

Các nhiệm vụ với các giải pháp khá truyền thống như bồi dưỡng, chuẩn hoá đội
ngũ giáo viên; hoàn thiện chương trình, tài liệu; đổi mới thi và kiểm tra; tăng
cường cơ sở vật chất; nhân rộng các mô hình tiêu biểu; tăng cường hợp tác, hỗ
trợ của quốc tế.

12


Điểm đáng lưu ý nhất là Bộ đặt nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu, xây dựng lộ trình
đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 ở Việt Nam. Theo đó, với mỗi lộ trình,
Bộ sẽ nghiên cứu và xây dựng các nguồn lực cần huy động, các hoạt động cần
triển khai và các kết quả cần đạt được.
(5). Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Bộ Giáo dục cho biết sẽ
xây dựng các đề án, dự án và kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
một cách hiệu quả.
Hệ thống hạ tầng và thiết bị công nghệ thông tin sẽ được phát triển trong toàn
ngành theo hướng đồng bộ, hiện đại.
Công nghệ thông tin cũng sẽ được đẩy mạnh ứng dụng trong đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá một cách sáng tạo, thiết thực và
hiệu quả. Cụ thể như xây dựng kho bài giảng e-Learning trực tuyến đáp ứng nhu
cầu tự học và học tập suốt đời của người học, thu hẹp khoảng cách tiếp cận các
dịch vụ giáo dục và đào tạo có chất lượng của người học giữa các vùng, miền...
(6). Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các trường đại học. Theo lãnh
đạo Bộ, việc tăng quyền tự chủ và yêu cầu về trách nhiệm giải trình của các cơ
sở giáo dục đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với xu
thế chung của thế giới. Mức độ tự chủ căn cứ vào năng lực tự chủ và kết quả
kiểm định, xếp hạng chất lượng của các cơ sở đào tạo.
(7). Tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo Ngành giáo
dục xác định hội nhập quốc tế vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp nâng cao chất
lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo.
Để hội nhập quốc tế đạt hiệu quả cao, trong năm học 2016 – 2017, ngành tiếp
tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội nhập quốc tế trong
giáo dục.
Bộ cũng xác định tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí và phương
pháp tiếp cận chung của khu vực và quốc tế trong quá trình xây dựng, cập nhật
chương trình và triển khai đào tạo, nghiên cứu khoa học.

13


Bên cạnh hợp tác cấp Bộ, lãnh đạo ngành giáo dục cũng khuyến khích các cơ sở
giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp nhận chuyển giao chương trình tiên tiến
của nước ngoài, sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy chuyên ngành...
(8). Tăng cường cơ sở vật chất. Để nâng cao chất lượng thì vấn đề nâng cao
cơ sở vật chất có vai trò rất quan trọng. Đối với giáo dục mầm non và phổ thông,
năm học 2016-2017 ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án kiên cố hóa
trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 - 2015, lộ trình
2020.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, phải thu hút các nguồn đầu tư ngoài ngân
sách nhà nước, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp.
(9). Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba
khâu đột phá để phát triển đất nước trong những năm sắp tới. Để thực hiện chủ
trương này, trong năm học 2016 - 2017 tập trung thực hiện 8 nhiệm vụ cụ thể.
Các nhiệm vụ được đề ra như đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới chương
trình đào tạo; kiểm định chất lượng theo các tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế;
trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung trình độ quốc gia và các cơ chế,
chính sách cần thiết để thực hiện Khung trình độ quốc gia...
Ngành cũng sẽ đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm trọng điểm cho các
cơ sở giáo dục đại học có nhu cầu; xây dựng chính sách thu hút sinh viên đi du
học nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học; thực hiện
hiệu quả các đề án đào tạo giảng viên, cán bộ có trình độ ở các nước phát triển
theo các đề án sử dụng kinh phí nhà nước; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học.../.
VI. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 6:
“Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II.”, qua
chuyên đề 6 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
- Trình bày được những vấn đề cốt lõi của giáo viên thế kỷ XXI: Các yêu
cầu cơ bản đối trong đạo đức nghề nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp

14


trước yêu cầu đổi mới chương trình GDPT;Đội ngũ giáo viên cốt cán cấp THCS
với nhiệm vụ đổi mới chương trình GDPT.
- Phân tích được những vấn đề cốt lõi của giáo viên THCS:Đạo đức nghề
nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS; Giáo viên cốt cán
và vai trò của giáo viên cốt cán ở trường THCS; Kế hoạch dạy học, giáo dục và
hợp tác, hỗ trợ đồng nghiệp về phương pháp và chiến lược dạy học và giáo dục
trong trường THCS; Đánh giá và hợp tác hỗ trợ đồng nghiệp đánh giá kết quả
dạy học và giáo dục học sinh THCS; Phát triển môi trường học tập của giáo viên
và học sinh trong trường THCS.
- Phân tích được một số năng lực cần thiết của giáo viên cốt cán ở trường
THCS trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay:
+ Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học, giáo dục hỗ trợ đồng nghiệp về xây
dựng kế hoạch dạy học, giáo dục trong trường THCS;
+ Năng lực giao tiếp, hợp tác, hỗ trợ đồng nghiệp về phương pháp và chiến
lược dạy học và giáo dục trong trường THCS;
+ Năng lực đánh giá và hợp tác hỗ trợ đồng nghiệp đánh giá kết quả việc
dạy học và giáo dục học sinh trong trường THCS;
+ Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường.
- Phân tích được nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS:Kế hoạch
phát triển đội ngũ trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục;Tổ chức thực
hiện kế hoạch phát triển đội ngũ theo yêu cầu đổi mới chương trình GDPT.
- Tìm hiểu được thực trạng năng lực, đạo đức nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức
danh nghề nghiệp của giáo viên THCS ở thế kỷ XXI.
- Xây dựng được hệ thống biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp cho
đội ngũ giáo viên cốt cán ở trường THCS.
Người thầy thực sự tâm huyết yêu nghề, yêu người : Nghị quyết Trung
ương 8 khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào
tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo
theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề
15


nghiệp” (4).Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là vấn đề then chốt có ý
nghĩa quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được một đội ngũ đông
đảo người làm công tác giáo dục thực sự yêu nghề, yêu người, hết lòng chăm
sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Theo Hồ
Chí Minh, người thầy phải luôn luôn gương mẫu, phải không ngừng bồi dưỡng
đạo đức cách mạng. Muốn phụng sự nhân dân, để xã hội tôn kính, trước hết đội
ngũ nhà giáo cần yêu nghề, yêu trường, tận tụy, tôn trọng, yêu mến người học và
thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn học hỏi đồng nghiệp. Có động cơ, thái
độ, trách nhiệm tốt, thực sự yên tâm với nghề mà mình đã chọn; toàn tâm, toàn ý
trong thực hiện nhiệm vụ, luôn có tinh thần say mê, sáng tạo, quyết tâm vượt
mọi khó khăn để cống hiến sức lực, trí tuệ cho từng tiết giảng, bài giảng. Khắc
phục mọi khó khăn trong cuộc sống đời thường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
được giao.Yêu nghề, yêu người là một trong những phẩm chất hàng đầu của nhà
giáo cách mạng, càng yêu người bao nhiêu thì càng yêu nghề bấy nhiêu.
Nêu cao tinh thần tự học: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì “đức
và tài” của người thầy càng phải gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhà giáo dục không
chỉ làm một việc là truyền thụ tri thức đã có sẵn mà phải trở thành nhà tổ chức
hoạt động nhận thức, định hướng nhận thức, gợi mở và xây dựng bản lĩnh chính
trị, lập trường bản chất giai cấp công nhân cho người học. Vì vậy, đội ngũ nhà
giáo phải thực sự là con người văn hóa cao, tâm, trí rộng, “vừa hồng vừa
chuyên”. Như vậy, yêu cầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ nặng nề và vinh
quang của mình, đội ngũ nhà giáo phải không ngừng “làm mới” chính mình về
tri thức, kĩ năng sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn. Muốn làm được điều đó, đội
ngũ nhà giáo, phải không ngừng tự học tập để mở rộng hiểu biết của mình về cả
kiến thức chuyên ngành, liên ngành, khoa học xã hội nhân văn,… những tri thức
mới về khoa học sư phạm hiện đại, kĩ năng giảng dạy theo phương pháp tích
cực. Thực tế giảng dạy cho thấy rằng, một thầy, cô giáo không thể giảng dạy tốt
môn học của mình đảm nhiệm nếu chỉ nắm vững kiến thức môn đó.Mà đội ngũ
16


thầy, cô giáo phải uyên bác, thông tuệ, hiểu sâu, biết rộng, có phương pháp sư
phạm tốt, nhiệt tình, trách nhiệm ý thức xã hội cao, yêu thương người học, bao
giờ cũng có kết quả giảng dạy cao, uy tín rộng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự
phát triển của xã hội để xứng đáng là người “kỹ sư tâm hồn” trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phát huy tốt những năng lực cần thiết của người giáo viên Theo Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), trong thế
kỷ XXI, “thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều
hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức”.Đó cũng là đội ngũ “những người
thầy có nhân cách phát triển toàn diện, có phẩm chất và năng lực của nhà giáo
dục toàn cầu để tạo ra những công dân toàn cầu”.Trong những năng lực cần thiết
này, một số năng lực nổi lên, đó là: Năng lực dạy học và giáo dục. Tức là giáo
viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mà trở thành nhà quản
lý, cố vấn, trọng tài, người điều khiển, nhà giáo dục để hình thành nên những
phẩm chất nhân cách cần thiết cho học sinh. Đó chính là thực hiện tốt lời Bác
Hồ dạy là tạo ra những con người vừa “chuyên”, vừa “hồng”.
VII. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 7:
“Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học
cơ sở.”, Qua chuyên đề 7 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Tự nâng cao được những kiến thức cơ bản nhất về: Dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh; Một số phương pháp dạy học hiệu quảphát
triển năng lực học sinh;Thiết kế và vận dụng dạy học tích hợp theo chủ đề liên
môn nhằm phát triển năng lực học sinh.
Tiếp tục củng cố và tự nâng cao được các nhóm kĩ năng chủ yếu dưới đây:
- Nhóm kĩ năng nghiên cứu, tìm hiểu về dạy học theo định hướng phát triển
năng lực;
- Nhóm kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, thảo luận
và làm việc nhóm;

17


- Nhóm kĩ năng vận dụng như là vận dụng một số phương pháp dạy học
tích cực nhằm phát triển năng lực người học; Xây dựng được bảng tiêu chí với
các chỉ báo cụ thể đánh giá hiệu quả phát triển năng lực; Xây dựng được chủ đề
dạy học tích hợp liên môn để phát triển năng lực người học;
- Nhóm kĩ năng tư duy như là phân tích, so sánh dạy học theo tiếp cận nội
dung và dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực; Tổng hợp và khái quát hóa về
năng lực, cấu trúc và các loại năng lực.
- Phân tích được mục đích, ý nghĩa của việc vận dụng dạy học dự án
(DHDA) trong dạy học môn Sinh học đối với việc hình thành và phát triển năng
lực của học sinh.

Thực tiễn giáo dục ở trên thế giới và ở Việt Nam đã chỉ ra rằng, có nhiều
phương thức, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học tiên tiến và có
hiệu quả để hình thành và phát triển năng lực của học sinh. Chẳng hạn như:
1/ Dạy học theo dự án.
2/ Dạy học tình huống.
3/ Dạy học theo chủ đề.
4/ Dạy học giải quyết vấn đề.
18


5/ Dạy học hợp tác nhóm.
Tóm lại, nếu như vận dụng phương pháp dạy học thì học sinh có cơ hội
tốt hình thành và phát triển những tri thức, phẩm chất và những kĩ năng cần thiết
đáp ứng việc nâng cao năng lực thích ứng với thực tiễn công việc và đời sống
trong thời đại ngày nay. Chẳng hạn như:
- Kĩ năng phát hiện vấn đề, hình thành ý tưởng nghiên cứu
- Kĩ năng thu thập và xử lý thông tin
- Kĩ năng nghiên cứu tài liệu
- Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng tổ chức; Kĩ năng lãnh đạo
- Kĩ năng hợp tác; Kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năngphán đoán, tư duy sáng tạo
- Kĩ năng trình bày, ứng dụng công nghệ thông tin.
VIII. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 8:
“Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường trung
học cơ sở.”, Qua chuyên đề 8 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Trình bày được những vấn đề cơ bản về thanh tra và kiểm tra ở trường
THCS bao gồm: thanh tra chuyên ngành các nội dung liên quan đến hoạt động
dạy học và giáo dục ở trường THCS; công tác kiểm tra nội bộ việc thực hiện
nhiệm vụ dạy học và giáo dục ở trường THCS;
Phân tích được những vấn đề cơ bản trong thanh tra kiểm tra chuyên môn,
việc thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục trường THCS: Kết quả thanh tra,
kiểm tra, quy trình thanh tra kiểm tra bao gồm thanh tra kiểm tra và kiểm tra nội
bộ trường THCS;
Phân tích và đề xuất được các biện pháp kiểm soát và nâng cao chất lượng
giáo dục ở trường THCS phù hợp với yêu cầu và tình hình địa phương;
Trong thực tiễn giáo dục phổ thông hiện nay, công tác thanh tra kiểm tra
nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường
trên cơ sở những quy định về các hoạt động chuyên môn (mục tiêu, kế hoạch,
19


chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, quy chế chuyên môn, quy chế
thi, xét tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ, quy chế đánh giá, xếp loại giáo
viên) và những quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo.
Đánh giá đúng thực trạng, tình hình nhà trường trong mối quan hệ chung và có
sự so sánh với mặt bằng của địa phương, khu vực vùng miền và tiêu chuẩn
trường chuẩn quốc gia, trường học thân thiện, học sinh tích cực theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khẳng định những mặt đã làm được và tư vấn biện
pháp khắc phục hạn chế, yếu kém đồng thời đưa ra các biện pháp kiểm soát,
nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS cần thiết phù hợp với thực tế địa
phương
“Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường trung
học cơ sở” là chuyên đề thuộc phần II: Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên
ngành và đạo đức nghề nghiệp trong chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn
chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II. Nội dung chuyên đề
trình bày một số vấn đề cơ bản về thanh tra kiểm tra hoạt động chuyên môn,
chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo
dục và các biện pháp kiểm soát, nâng cao chất lượng giáo dục ở trường trung
học cơ sở.
Theo Điều 1 chương 1 trong Quyết định số 478/QĐ ngày 11/3/1993 của Bộ
GD&ĐT ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo
dục và đào tạo” có ghi:
“Thanh tra giáo dục và đào tạo thực hiện quyền thanh tra nhà nước về giáo
dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nhằm tăng cường hiệu lực quản bảo đảm
và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo”.
Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục. Thanh tra giáo
dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lí nhà nước về giáo dục, nhằm
bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lí
vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục.
20


- Thanh tra giáo dục là kiểm tra có tính nhà nước của cơ quan quản lí giáo
dục cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới do một tổ chức
chuyên biệt (tổ chức thanh tra) tiến hành với các chức năng: đánh giá, phát hiện,
điều chỉnh và giúp đõ đối tượng thanh tra nhằm đảm bảo pháp chế, giữ vững kỉ
cương, tăng cường kỉ luật và góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
và đào tạo.
- Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra
Nhà nước về giáo dục và đào tạo vừa bộc lộ quyền lực Nhà nước, vừa đảm bảo
dân chủ, kỉ cương trong hoạt động giáo dục và đào tạo.
Hệ thống tổ chức của thanh tra giáo dục được xây dựng theo các câp quản
lí giáo dục và đào tạo, bao gồm:
- Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo.
Hoạt động thanh tra giáo dục ở cấp huyện do Trưởng phòng giáo dục và
đào tạo trực tiếp phụ trách và theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của Thanh tra Sở Giáo
dục và Đào tạo.
*.Mục đích của thanh tra giáo dục
- Quan sát, theo dõi, phát hiện, kiểm nghiệm và đánh giá khách quan tình
hình thực hiện công việc.
- Việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng tác động đến mức cần thiết công
tác của tổ chức, cơ quan và cá nhân, đảm bảo tốt việc chấp hành chính sách,
pháp luật về giáo dục của Nhà nước, thực hiện các văn bản pháp quy của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đối với các cấp quản lí giáo dục, các đơn vị cơ sở và trường
học.
- Giúp đỡ phát hiện những ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, khen chê kịp
thời, xử lí cần thiết để cải tiến tổ chức quản lí và nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục và đào tạo.
Như vậy, mục đích của thanh tra giáo dục thể hiện: Phát huy nhân tố tích
cực, khuyến khích, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cho những nhân tố tích cực
21


phát triển, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm, giúp đd đối tượng
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; hoàn thiện cơ chế quản lí, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
* Nhiệm vụ của thanh tra giáo dục
Thanh tra giáo dục có những nhiệm vụ sau đây:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục;
- Thanh tra việc thực hiện mục tiêu kế hoạch, chương trình, nội dung,
phương pháp giáo dục; quy chế chuyên môn; quy chế thi cử, cấp văn bằng,
chứng chỉ; việc thực hiện các quy định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất
lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục;
- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục
theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của
pháp luật về xử lí vi phạm hành chính;
- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng;
- Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về giáo dục; Đề nghị
sừa đổi, bổ sung các chính sách và quy định của Nhà nước về giáo dục;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của pháp luật.
IX. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 9:
“Chuyên đề đổ mới sinh hoạt chuyên môn ở trường trung học cơ sở.”, Qua
chuyên đề 9 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành của trường THCS. Các tổ nhóm
chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận nghiệp vụ
khác và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ, và các
nhiệm vụ khác trong chiến lược phát triển nhà trường để đưa nhà trường đạt
mục tiêu đề ra.
- Tổ chuyên môn là nơi triển khai các mặt hoạt động của nhà trường, trong
đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học; là đầu mối quản lý mà Hiệu
22


trưởng nhất thiết phải tập trung dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều
phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động giáo dục dạy học; Là nơi tập hợp,
đoàn kết, tìm hiểu tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của giáo
viên, giúp đỡ GV hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ
- Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo
KHDH, PPCT và các hoạt động giáo dục khác.
- Tham gia đánh giá các thành viên trong tổ theo chuẩn nghề nghiệp GV
trung học và các quy định khác hiện hành.
- Giới thiệu TT, TP
- Đề xuất khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên.
- Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 tuần /1 lần và có thể đột xuất khi Hiệu trưởng
yêu cầu.
- Có kế hoạch công tác và hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định tại Điều
lệ trường trung học (được đánh giá qua các minh chứng: Có KH chung của tổ
theo năm, kỳ, tháng, tuần nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và
các hoạt động khác; Kế hoạch cụ thể dạy chuyên đề, tự chọn, ôn thi tuyển sinh,
bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém; kế hoạch cụ thể về sử dụng
đồ dùng, thiết bị dạy học đúng, đủ theo PPCT; văn bản của lãnh đạo nhà trường
về việc nhận xét thực hiện các nhiệm vụ năm học của TCM)
- Sinh hoạt ít nhất 2 tuần một lần về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và
các hoạt động giáo dục khác (minh chứng: BB sinh hoạt TCM, nhóm CM, Sổ
nhật kí hoặc BB đánh giá chất lượng về hiệu quả giáo dục của các thành viên
trong tổ, BB đánh giá xếp loại GV, Chú ý đánh giá chất lượng các buổi SH
chuyên môn)
- Hàng tháng rà soát, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ được phân
công (minh chứng: các BB rà soát, đánh giá để cải tiến các biện pháp thực hiện
nhiệm vụ được giao của TCM, BB chỉnh sửa, bổ sung các nội dung mới, các

23


biện pháp mới vào kế hoạch. Chú ý đánh giá các hoạt động cải tiến, điều chỉnh,
tăng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của tổ).
X. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 10:
“Công tác xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất
lượng giáo dục và phát triển trường THCS” Qua chuyên đề 10 em nhận thức
được các vấn đề cơ bản sau:
- Trình bày được vai trò, nhiệm vụ của trường THCS trong xã hội hóa giáo
dục, xây dựng xã hội học tập và xây dựng môi trường giáo dục.
- Phân tích được tầm quan trọng của việc phát triển mối quan hệ giữa
trường THCS với các bên liên quan để phát triển nhà trường.
- Phân tích được các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường.
- Phát triển được các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường đáp ứng nhu
cầu dạy học, giáo dục, xây dựng xã hội học tập, xã hội hóa giáo dục.
- Phát triển được quan hệ giữa nhà trường với chính quyền địa phương và
cộng đồng, giữa nhà trường với gia đình học sinh và hợp tác quốc
Với công tác xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài nhà trường là
rất quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là vận động toàn xã hội tham gia vào sự
nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người
trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức
hưởng thụ giáo dục của nhân dân.
Xã hội hóa giáo dục gồm 2 thành phần chính:
+ Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường
xuyên, học tập suốt đời.
+ Vận động toàn xã hội tham gia đóng ghóp cho giáo dục.
Các lực lượng xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Liên
hiệp phụ nữ, Hội khuyến học…có thể tham gia rộng rãi vào nhiều lĩnh vực hoạt
động giáo dục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, làm cho giáo dục gắn bó
24


với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng. Làm đa
dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường.
Việc mở rộng, phát triển các loại hình bán công, dân lập, tư thục bên cạnh
trường công lập vốn là hình thức độc tôn trước đây đã mở ra khả năng huy động
nhiều lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục, tạo điều kiện cho công tác
giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, thực hiện hiệu quả hơn nhiệm vụ: “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước.
Xây dựng môi trường giáo dục
Nhà trường là một môi trường đạo đức, cởi mở và thân thiện
Xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp gắn bó, hợp tác và chia sẻ
Phát triển mối quan hệ với chính quyền các cấp ở địa phương để phát triển
nhà trường
Xây dựng mối quan hệ giữa Hiệu trưởng với các tổ chức đoàn thể
Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, giáo viên với cộng đồng để nâng
cao chất lượng giáo dục THCS
Quan hệ phối hợp và trách nhiệm giải trình của nhà trường với cha mẹ học
sinh. Nhà trường THCS với việc hợp tác, giao lưu trong nước và quốc tế.
Trên đây là bài thu hoạch kiến thức và kỹ năng thu nhận được từ
Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên
THCS hạng II trong thời gian 06 tuần. Nội dung còn thiếu xót em rất mong
quý thầy cô trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Trường Đại học Công
nghệ thông tin và truyền thông - ĐHTN bổ sung và góp ý cho em. Em xin
chân thành cảm ơn
Người viết thu hoạch

Sằm Văn Khiêm
Tài liệu tham khảo
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x