Tải bản đầy đủ

chuyen de

1. Thành phần hóa học của cá mú
Cũng giống như các ĐVTS khác, cơ thể cá mú bao gồm 5 thành phần: nước,
potein, lipid, khoáng, glucid, muối vô cơ và vitamin.
- Nước: chiếm khoảng 60 – 80% khối lượng cơ thể, tùy loài.
- Protein là thành phần hóa học chủ yếu trong thịt ĐVTS, chiếm khoảng 60–
75% (khối lượng khô).
Protein trong cơ thể ĐVTS thường liên kết với nhóm chất hữu cơ khác như
lipid, acid nucleic, glycogen để tạo thành các phức chất phức tạp có những tính
chất sinh hóa đặc trưng khác nhau.
- Lipid:
+ Dựa vào lượng mỡ để chia ra các nhóm cá.
+ L dự trữ chủ yếu trong gan
- Khoáng: khác nhau tùy giống loài, thời tiết và môi trường sống. Nguồn
khoáng quan trọng và chiếm số lượng lớn trong cơ thể ĐVTS là Ca, P, Fe.
Trong khoáng của ĐVTS có chứa iod, có nhiều trong gan, noãn sào, túi tinh,
trong cơ thịt hàm lượng lipid ít hơn.
- Vitamin: A, D, B, E. Tập trung chủ yếu ở nội tạng đặc biệt là gan và một
phần ở tuyến sinh dục (chủ yếu nhóm A, D)

Nuôi cá mú ở Quảng Ninh cũng như toàn quốc và cả trên thế giới, hiện nay chủ
yếu cho ăn bằng thức ăn cá tươi. Nguồn thức ăn này không ổn định, giá đôi lúc

cao và chất lượng biến động. Vì thế việc phát triển các loại thức ăn tổng hợp có
hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường là rất cần thiết.
Một vài nghiên cứu gần đây về khả năng tiêu hóa các nguyên liệu thức ăn của cá
mú tập chung vào cá mú chấm nâu (E.coioides) và cá mú chuột (Cromileptes
altivelis). Eusebio và cộng sự (2004), nghiên cứu khả năng tiêu hóa của cá mú
chấm nâu đối với các nguyên liệu là bột cá Chi-lê, bột cá trắng, bột tô, bã đậu
nành, bột đậu đũa, bột mực và bột xương thịt. Kết quả cho thấy các giá trị độ


tiêu hóa chất khô (ADMD) thay đổi theo hàm lượng xơ và các thành phần
carbohydrate khác trong nguyên liệu. Cá mú chấm nâu có thể sử dụng tốt protein
trong thức ăn bất kể có nguồn gốc động vật hay thực vật.
Laining và cộng sự (2004) nghiên cứu khả năng tiêu hóa của cá mú chuột đối
với nguyên liệu là bột đầu tôm, ba dạng bột huyết (dạng khô, dạng được bảo
quản bằng acid formic và dạng được bảo quản bằng acid propionic), hai dạng
bột cá (cá mòi và hỗn hợp cá địa phương), bã đậu nành, bã dầu cọ và cám gạo.
Kết quả thu được tương tự cá mú chấm nâu, cá mú chuột cũng có thể sử dụng
protein trong thức ăn một cách hiệu quả bất kể nó có nguồn gốc động vật hay
thực vật, Cá mú chấm đen???
Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn của cá mú
- giai đoạn cá con: trong suốt giai đoạn ương ấu trùng của cá mú, thức ăn phổ
biến nhất được cấp là luân trùng, artemia và thịt tôm hoặc cá. Khoảng 2 – 3 ngày
sau khi nở, noãn hoàng đã sử dụng hết, cá bắt đầu ăn thưc ăn ngoài. Ở giai đoạn
này ấu trùng cá sẽ bị chết đói nếu cung cấp thức ăn với kích cỡ không phù hợp,
vì miệng ấu trùng cá rất nhỏ, chỉ có thể ăn được vật mồi khoảng 150 – 193Mm.
Các thử nghiệm thức ăn cho ấu trùng cá mú, như
Có thể cho ấu trùng cá song mú ăn trứng và ấu trùng của hàu hoặc vẹm, ấu trùng
muỗi, trứng cầu gai và copepod. Tuy nhiên việc sử dụng các loại thức ăn này đòi
hỏi phải có kỹ thuật nuôi sinh khối tốt thì mới có thể đảm bảo tốt thức ăn cho ấu
trùng cá.
Việc sử dụng trứng cá làm thức ăn thay thế cũng đã được khuyến cáo.
Các loài tảo Nannochloropsis, Chlorella và Tetraselmis chủ yếu được dùng làm
thức ăn để nuôi luân trùng hoặc Artemia, nhưng cũng có thể được sử dụng làm
thức ăn trực tiếp cho ấu trùng cá. Những loài tảo này rất được chuộng, vì chúng
có hàm lượng protein cao.
Có thể làm giàu luân trùng hoặc artemia trong nhiều giờ (3 – 6g) bằng cách
dùng tảo, men bánh mỳ, nhũ tương trứng sống, methyl-esters, dầu cá hoặc nhũ
tương chất béo như Selco để bổ sung thành phần acid béo. Theo chavez & CS
(1995),, việc cho ăn thức ăn được làm giàu HUFA đã làm tăng sức chống chịu



của ấu trùng đối với stress nhưng không thúc đẩy sinh trưởng của ấu trùng và tỷ
lệ sống ở ngày thứ 24. Tác động có lợi của việc sử dụng thức ăn nhân tạo trong
các giai đoạn ấu trùng, như hạn chế sự xuất hiện của vi khuẩn thông qua chuỗi
thức ăn, cũng đã được ghi nhận.
* Khả năng tiêu hóa các nguyên liệu cung cấp protein của cá mú chấm đen
* Xác định nhu cầu protein và lipid của cá mú chấm đen
* Xác định nhu cầu HUFA của cá mú chấm đen
1. Nhu cầu về protein
40 – 50% (Teng et al.;1978)
Thông tin về nhu cầu protein của cá mú chấm đen còn hạn chế. Chen và Taisai
(1994) cho rằng loài cá mú chấm đen ở giai đoạn giống cỡ nhỏ đòi hỏi: 478g
protein /kg thức ăn cho sinh trưởng tối đa. Shiau và Lan (1996), cho rằng mức
protein tron thức ăn thúc đẩy sinh trưởng tối đa của cá mú chấm đen cỡ lớn là
502 g/kg.
2. Nhu cầu lipid trong khẩu phần của cá
Lipid trong khẩu phần ăn của cá như là một nguoonf năng lượng. Khoảng 10 –
20% lipid trong các khẩu phần ăn của cá cho các tốc độ sinh trưởng tối ưu mà
không tạo ra một cơ thể qúa béo (Cowey và Sargent,1979).
Cá bị bỏ đói thường sử dụng các nguồn dự trữ lipid như là một nguồn năng
lượng hơn là sử dụng protein và carbohydrat.
Những loài cá dữ như cá song thường chuyển từ thức ăn là giáp xác sang ăn
thức ăn là cá khi chúng lớn lên cũng đã từng được ghi nhận. Dạng mồi này
dường như đặc biệt quan trọng với những loài cá rạn. Cá giống cá song có xu
hướng di cư từ cửa sông hoặc đầm ra rạn san hô theo thời gian từ đầu tháng 1
đến giưaax tháng 8 hàng năm, khi lớn, chúng di chuyển ra những vùng có độ sâu
đến 150 m nước.
Cá song là loài cá dữ có thành phần thức ăn chủ yếu cá, cua, tôm, chân đầu
nhưng thức ăn ưa thích của chúng là cá và giáp xác. Cá song càng lớn càng có
xu hướng ăn cá nhiều hơn và ăn giáp xác ít hơn.


Cá mú chấm đen là đối tượng có giá trị kinh tế cao trên thị trường cá tươii sống
của Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nuôi thương
phẩm cá song ở nước ta chủ yếu dựa vào việc cho ăn bằng cá tươi có giá trị thấp
hơn như cá mối, cá sơn, cá dìa…
Mặc dù sản lượng cá song nuôi ở nước ta đang tăng lên hàng năm và đạt khoảng
3000 tấn/năm trong những năm gần đây, nhưng quy mô của nghề nuooi đói
tượng này vẫn còn khiêm tốn nên các công ty thức ăn vẫn chưa thực sự tham gia
vào. Cá tươi vì thế vấn sẽ được sử dụng làm thức ăn chủ yếu trong nuô cá song
ở nước ta trong một số năm nữa. Đây là một nguồn thức ăn tương đối sẵn có ở
các địa phương, mặc dù tính sẵn có và giá của nó luôn biến động trong năm.
Nguồn thức ăn có thể trở nên khan hiếm và đắt đỏ vào những ngày biển động.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cho ăn và chăm sóc quản lý kém cũng có thể làm cho một
lượng lớn thức ăn bj thất thoát và kéo theo đó nó có thể gây ra các vấn đề về ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Theo Lê Anh Tuấn (2004), sử dụng cá mối và cá sơn làm thức ăn cho cá song
chấm đen, kết quả chỉ ra rằng, cá song chấm đen khi cho ăn bằng cá mối thì sinh
trưởng tốt hơn khi cho ăn bằng cá sơn, vì cá mối có hàm lượng lipid cao hơn và
hàm lượng tro thấp hơn so với cá sơn.Tuy nhiên, sinh trưởng của cá mú chấm
đen sẽ cao hơn khi cho ăn kết hợp hai loại thức ăn này. Thức ăn kết hợp đã cung
cấp một phổ dinh dưỡng tốt hơn cho cá song. Thức ăn là cá sơn thiếu 3 acid
amin thiết yếu là Arginine, Histidine và Lysine. Thức ăn là cá mối thiếu sẽ thiếu
một acid amin đó là Methionine (Bảng). Thức ăn kết hợp giữa cá mú và và cá
sơn khắc phục được sự thiếu sót này. Đây cũng là lý do tại sao việc sinh trưởng
thông qua sử dụng thức ăn gồm nhiều loài cá tươi kết hợp đôi khi tốt hon so với
thức ăn viên (Tacon và CS; Bech và CS).
Bảng: Thành phần acid amin thiết yếu của cá mối, cá sơn và cá song tự nhiên
Acid amin

Cá mối

Cá sơn

Cá song


- Vitamin C có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp chất tạo keo (collagen),
một lượng thích hợp vitamin C sẽ đảm bảo sự hình thành chất tạo keo và qua đó
thúc đẩy tốc độ sinh trưởng cho cá nuôi. Cá song cũng như hầu hết các loài cá,
đều không có khả năng tổng hợp acid ascorbic, hoặc nếu có thì số lượng tạo ra
cũng không đủ đáp ứng các nhu cầu chuyển hóa, vì thế acid ascorbic buộc phải
được cung cấp qua con đường thức ăn.
Cá thiếu acid ascorbic sẽ bị dị hình xương sống, thường là những dị dạng của
lớp sụn ở mắt, mang, nắp mang và vây. Cá không muốn ăn, sinh trưởng chậm,
xuất huyết nội và ngoại tạng, mòn vây và giảm hồng cầu.
Lượng acid ascorbic tối thiểu trong thức ăn cần cho sinh trưởng và sức khỏe
bình thường của cá dao động trong khoảng 10 – 50 mg/kg thức ăn đối với thức
ăn viên khô (Li, M.H. và Robinson, E.H. 2001).
Vitamin C giúp động vật chống chịu tốt với những biến động của môi trường,
giúp vật nuôi giảm stress, giúp lành vết thương. Vitamin có khả năng tạo ra chất
ức chế sinh sản giúp chống lại các tác động của rirus và kích thích tạo ra kháng
thể IgS và IgM (Cuzon, G., Guillaume, J. (1991).
Lê Anh Tuấn, Với cá mú chấm đen cỡ 47,4 – 96,2g trong điều kiện phòng thí
nghiệm,việc bổ sung vitamin C (dạng acid ascorbic tinh thể) vào thức ăn (cá
mối) ở mức 50 mg/kg là cho sinh trưởng tốt. Tuy nhiên, mức bổ sung tối ưu cho
sinh trưởng là 88,38 mg/kg và mức bổ sung tối thiểu là 100 mg/kg cho tỷ lệ sống
tốt.
Theo Laining, A., Palinggi, N., Atmomarsono, M. và cs (2004) cho rằng, với
một đối tượng nuôi nào đó, mức bổ sung vitamin C thích hợp cho sinh trưởng
dường như thấp hơn so với mức thích hợp để nâng cao tỷ lệ sống.
Theo Li, M.H. và Robinson, E.H. (2001), lượng acid ascorbic tối thiểu trong
thức ăn cần cho sinh trưởng và sức khỏe bình thường của cá dao động trong
khoảng 10 – 50 mg/kg thức ăn đối với thức ăn viên khô. Nhu cầu này, thay đổi
tùy loài, kích cỡ và tuổi cá. Subyakto và cộng sự (2000) cho rằng, mức vitamin


C thích hợp là 25mg/kg thức ăn cho cá mú chuột Cromileptes altivelis nuôi
trong điều kiện phòng thí nghiệm; còn khi nuôi ngoài lồng thì mức vitamin C
thích hợp là 150 mg/kg thức ăn.
Lê Anh Tuấn chỉ ra rằng, cá mú chấm đen có thể sử dụng hiệu quả protein trong
thức ăn bất kể nguồn gốc thực vật (bã đậu nành và bột đậu lupin) hay động vật
(bột cá và bột xương thịt động vật). Tuy nhiên, bột cá có khả năng tiêu hóa đối
với chất khô (ADMD) và protein (ACPD) cao nhất lần lượt là 86,01% và
98,12%. Về khả ăng tiêu hóa, ba loại nguyên liệu bã đậu nành, bột đậu lupin và
bột xương thịt động vật chưa thể thay thế hoàn toàn vị trí của bột cá.
Cá mú chấm đen bị hạn chế về khả năng tiêu hóa tinh bột và các thành phần
carbohydrat khác của nguyên liệu thức ăn.
De Silva và cs (1990), nghiên cứu trên cá Oreochromis aureus, cho thấy giá trị
hệ số độ tiêu hóa đối với chất khô (ADMD) thấp là do hiệu quả sử dụng các chất
dinh dưỡng của cá mú chấm đen giảm khi hàm lượng xơ trong nguyên liệu làm
thức ăn tăng lên.
XÁC ĐỊNH NHU CẦU PROTEIN VÀ LIPID
Những nghiên cứu gần đây trên cá song Epinephelus đã cho thấy nhu cầu
protein và lipid trong thức ăn khác nhau theo loài và kích cỡ cá.
Việc tăng hàm lượng protein trong thức ăn đã làm tăng hàm lượng lipid và giảm
hàm lượng protein của cá.
Việc tăng hàm lượng lipid trong thức ăn đã làm tăng cả hàm lượng lipid và
protein của cá.
Sự tích lũy năng lượng từ thức ăn của cá đã tăng lên cùng với sự gia tăng hàm
lượng protein và giảm đi cùng với sự gia tăng hàm lượng lipid trong thức ăn.
Năng lượng tích lũy đạt cao nhất khi cá được cho ăn bằng thức ăn có hàm lượng
protein là 55,6% và hàm lượng lipid là 11,6%.
Tác giả

khối

Loại

lượng
TN

cá thức

Thành

phần P và TN (ngày)

ban ăn TN L của TĂ

đầu (g)

Thời gian Tốc độ sinh Lý do
trưởng



hiệu quả sử
dung




đạt tối ưu
Chen

và 4

ăn 50

(g/ngày)
0,18g/ngày

chứa

thức

do cá không

Tsai

casein

chứa

8%

(1994)



lipid



dextri

48%

chứa casein

n

protein



chuộng loại
thức

ăn
dextrin

lắm
Shiau

và 9

Lan (1986)

bột cá

56

0,93

và tinh
bột



Anh 16,9±1,32

1,13

Tuấn
(2004)

Lê Anh Tuấn: lượng thức ăn cá ăn vào tỷ lệ nghịch với hàm lượng lipid của thức
ăn. Lượng thức ăn của cá ăn vào cũng bị giảm đi khi hàm lượng chất béo trong
cơ thể cá tăng lên.
Hàm lượng chất béo của cơ thể cá song tăng lên theo mức tăng lipid của thức ăn.
Tuy nhiên, khi cá được cho ăn thức ăn có hàm lượng protein thấp thì hàm lượng
chất béo của cá lại giảm, vì lúc này cá sẽ giảm ăn thức ăn chứa lipid.
Những loài cá song khác như cá song chuột (Cromileptes altivellis), cá song
chấm nâu (Epinephelus coioides) đều thể hiện không thích ăn những thức ăn có
hàm lượng lipid cao (Lou, Z., và cs, 2005).
Nhiều nghiên cứu cho thấy, để đáp ứng nhu cầu năng lượng của bản thân, cá
song chấm đen thiên về hướng oxy hóa protein thay vì lipid.
Trong thí nghiệm của Lê Anh Tuấn chỉ ra rằng, cá song chấm đen thích sử dụng
protein hơn lipid làm nguồn năng lượng. Trong khi đó có kết quả của một
nghiên cứu khác lại ngược lại với kết quả của Lê Anh Tuấn, cá song chấm đen
có thể sử dụng lipid thay cho protein.
NHU CẦU VỀ ACID BÉO CHƯA NO BÃO HÒA CÓ TRÊN BA NỐI ĐÔI: n3 HUFA


Ngoài tự nhiên, thức ăn của hầu hết các cá biển là những sinh vật rất giàu 22:6n3 (DHA) và 20:5n-2 (EPA) nên chúng mất khả năng kéo dài mạch carbon và tạo
thêm nối đôi (dạng 18:3n-3 Linnolenic acid) để tạo thành các HUFA tương ứng.
Vì thế cá biển cần phải được cung cấp thêm DHA và EPA nhằm giúp chúng sinh
trưởng tốt.
Nhu cầu n–3 HUFA trong thức ăn thay đổi theo loài và kích cỡ cá.
Loài

Nhu cầu n–3

Tác giả

HUFA trong
thức ăn
cá hanh đầu vàng giai đoạn cá bột

2,2

Sailhi và cs (1994)

cá hồng mỹ ở giai đoạn cá giống

0,5-1

Lochmann và cs (1993)

cá chẽm

1

Wanakowat và cs (1993)

cá mú chuột

1,5

Suwirya và cs (2004)

cá mú cọp

2,5

cá mú chấm đen

1,62

Lê Anh Tuấn (2004)

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rẳng, n-3 HUFA rất cần cho sinh trưởng cảu cá mú
chấm đen cũng như với các cá biển khác. Trong thức ăn của cá nếu thiếu n-3
HUFA sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ tử vong cao và gây ra sự phát
triển bất thường của bóng hơi (Koven, 1990.,Sorgeloos, 1994.,Webster, 1995).
Các acid béo họ n-3 được cho là có một mức chưa bão hào lớn – đây là điều cần
cho tính hu động, tính co giãn và tính thấm lớn hơn của màng tế bào và ccs bào
quan ở nhiệt độ thấp. Trong thực tế người ta cho rằng, nhu cầu của cá về acid
béo họ n-3 cao hơn họ n-6, lý do chính là nhiệt độ nước của môi trường sống
của cá thấp (hơn so với động vật trên cạn).

1. Gross, F. (1937) Notes on the culture of some marine
plankton organisms. J. Mar. Biol. Assoc. UK, 21, 753-768


2. Seale, A. (1933) Brine Shrimp (Artemia) as a satisfactory
food for fishes. Trans. Am. Fish. Soc., 63, 129-130
3. Hirata, H. (1979) Rotifer culture in Japan. In: Cultivation of
Fish fry and its Live food. (Ed. by E. Styezynska-Jurewiez, T.
Backiel, E. Jaspers& J. Persoone), pp. 361-375. European
Mariculture Society, Special Publication No. 4, Bredene
4. Mourente,G., Rodriguez ,A., & Sargent, J.R.(1993) Effects of
dietary docosahexaenoic acid (DHA; 22:6n-3) on lipid and
fatty acid composition and growth in gilthead sea bream
(Sparus aurata) larvae during first feeding. Aquaculture,
112, 79-98
5. Nanton, D.A., & Castell, J. D. (1998) The effects of dietary
fatty acids on the fatty acid coposition of the harpacticoid
copepods, for use as live food for marine fish larvae.
Aquaculture, 163, 251-261
6. Rainuzzo, J. R. , Reitan, K. I. & Olsen, Y. (1997) The
significance of lipids at early stages of marine fish: a
review. Aquaculture, 155, 103-115
7. Zheng, F., Takeuchi, T., Yoseda, K., Kobayashi, M.,
Hirokawa, J. & Watanabe, T. (1996) Requirement of larval
cod for arachidonic acid, eicosapentaenoic acid and
docosahexaenoic acid using enriched Artemia nauplii. Bull.
Jap. Soc. Sci. Fish, 62, 669-676
8. Bell, J.G, Castell, J.D.,Tocher, D.R., MacDonald, F.M.&
Sargent, J.R.(1995) Effects of different dietary arachidonic
acid docosahexaenoic acid ratios on phospholipid fatty
acid compositions and prostaglandin production in juvenile
tubort (Scophthalmus maximus). Fish Physiol Biochem., 14,
139-151
9. Castell, J.D., Bell, J.G., Tocher, D.R.& Sargent, J.R. (1994)
Effects of purified diets containing different combinations
of arachidonic and docosahexaenoic acid on survival,
growth and fatty acid composition of juvenile turbot
(Scophthalmus maximus). Aquaculture, 128, 315-333
10.Mc Evoy, L.A., Naess, T., Bell, J.G.& Lie, O. (1998) Lipid and
fatty acid composition of normal and malpigmented
Atlantic halibut Hippoglossus hippoglossus fed enriched
artemia: coparison with fry fed wild copepod. Aquaculture,
163, 237-250



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×