Tải bản đầy đủ

Chuyên de dd

GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển phát triển mạnh, góp phần
vào sự phát triển nuôi trồng thủy sản ở nước ta. Mục tiêu của Bộ thủy sản đến
năm 2010 sản lượng nuôi cá biển đạt 200.000 tấn, đối tượng nuôi chủ yếu là
cá Song (Epinephenus spp), cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Giò
(Rachycentron canadum), cá Hồng (Lutjanus spp).
Cá Song (Epinephenus spp) là một loài cá có giá trị kinh tế cao, tốc độ
sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon có thể nuôi ở các thủy vực nước lợ và nước
mặn, là đối tượng nuôi quan trọng. Từ năm 2004, khi công nghệ sản xuất
giống nhân tạo cá song đã hoàn thiện, đối tượng này được nuôi khá phổ biến
ở nước ta ở các ao nuôi ven biển hay nuôi lồng tập trung ở các tỉnh Hải
Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Phú Yên, …đã mang lại lợi nhuận không
nhỏ cho người nuôi.
Tuy vậy, sự phát triển của nghề nuôi cá biển ở nước ta nói chung còn
gặp nhiều khó khăn về giống, vấn đề về bệnh và đặc biệt là thức ăn . Ở Việt
Nam đã có nhiều nhà máy chế biến thức ăn cho thuỷ sản nhưng chủ yếu mới
tập trung cho đối tượng tôm nuôi và cá nước ngọt. Hiện tại, nguồn thức ăn
chính cho cá biển nuôi lồng bè vẫn là cá tạp khai thác ngoài tự nhiên do vậy
kông chủ động được nguồn thức ăn dài ngày cho cá khi thời tiết thay đổi và
đặc biệt thành phần dinh dưỡng của nguồn thức ăn này không đầy đủ chất
dinh dưỡng dẫn đến hệ số thức ăn tăng cao gây ô nhiễm cục bộ môi trường

khu nuôi. Đây là điểm hạn chế rất lớn trong quá trình phát triển nghề nuôi
này. Vì vậy, việc tìm hiểu đặc tính dinh dưỡng để chủ động nguồn thức ăn
nhân tạo cho cá song nuôi là hết sức cần thiết hiện nay.

1


PHẦN I. TÔNG QUAN
1.1. Sơ lược đặc điểm sinh học của cá song
1.1.1 Phân loại
Cá Song là tên gọi chung ở miền Bắc nước ta và còn có một cái tên
khác thường được người dân Nam Trung Bộ gọi, đó là cá mú.
Họ cá song Serranidae, thuộc bộ cá vược Perciformes, là một họ lớn
gồm có 5 họ phụ: Serranidae, Anthiinae, Niphonidae, Grammistinae và
Epinephelinae. Trong đó, họ phụ Epinephelinae được nghiên cứu tương đối
nhiều. Họ phụ Epinephelinae có 15 giống và khoảng 159 loài cá song. Đây là
những loài cá biển có giá trị kinh tế cao, đặc biệt trong nghề khai thác cá biển
ven bờ ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới.
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Cá song là những loài cá sống đáy được phát hiện thấy ở nhiều vùng
nước nhiệt đới và á nhiệt đới của tất cả các đại dương. Phần lớn các loài phân
bố ở các rạn san hô. Tuy nhiên, một số loài lại sống ở các cửa sông hoặc
quanh các rạn đá. Cá song nhìn chung, sống trên các nền đáy cứng (đá), mặc
dù cá con được phát hiện trong các thảm cỏ biển và con trưởng thành của một
số loài thích các vùng đáy cát hoặc đáy bùn. Một số loài được phát hiện ở độ
sâu 100 – 200 m (đôi khi 500 m). Tuy nhiên, phần lớn sống ở độ sâu không
quá 100 m và cá con thường thấy ở các bãi triều.
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá song là một trong những loài ăn thịt chủ yếu, phần lớn chúng ăn
nhiều loài cá khác nhau và giáp xác, nhuyễn thể chân đầu. Một vài loài cá
song như Parathias spp, E. undulosus có nhiều lược mang dài và vì thế thích
nghi cho việc ăn sinh vật phù du. Hầu hết cá song có tập tính rình bắt mồi.
Chúng nấp trong rạn hoặc hốc đá chờ khi vật mồi mát cảnh giác đi qua thì lao
nhanh ra ngoạm lấy con mồi.
Cá song (Epinephenus spp) là loài cá dữ sống rạn san hô, thức ăn của
chúng là các loại động vật thuỷ sinh thuộc các nhóm giáp xác, cá, … Trong
2


giai đoạn cá nhỏ, chúng ăn sinh vật phù du (bao gồm cả động và thực vật)


nhưng qua giai đoạn biến thành cá con, chúng biểu hiện là một loài cá dữ
thiên về ăn động vật thậm chí ăn thịt lẫn nhau.
Trong quá trình sản xuất giống, người ta đã phát hiện ra một số loại
thức ăn sống cho cá con như Nauplii của artermia (Seale 1933; Gross 1937;
Rollepsen 1939) và luân trùng (Brachionus plicatilis) (Hirata 1979). Sự phát
hiện này đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ sống cũng như tốc
độ sinh trưởng, biến thái của ấu trùng cá song.
1.1.4. Đặc điểm sinh sản
Các loài thuộc họ cá song có thể đẻ nhiều hơn 1 lần/mùa và vài lần
trong 1 năm.
Cá song E. coioides thường đẻ theo cặp, cá đực hoạt động mạnh trước
để tìm kiếm được bạn tình phù hợp. Khi cá đã kết đôi, chúng thường hoạt
động mạnh và đẻ ngay sau đó (Sudaryano, Meyer và Mous 2004). Thời gian
cá đẻ thường từ ngày 21 đến ngày 9 tháng sau (theo lịch âm) và 84% cá đẻ
trong thời gian từ 17h00 dến 18h00, trong khi đó cá song C. altivelis và E.
fuscoguttatus đẻ muộn hơn vào 21h00-23h00 (Sudaryano, Meyer và Mous,
2004).
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển??
1.2. Tình hình nuôi cá song trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Cá song được nuôi chủ yếu ở khu vực châu Á Thái Bình Dương bằng 2
hình thức là lồng nổi và ao đất (Tucker, 1999). Ở khu vực Đông Nam Á, cá
song được nuôi chủ yếu ở trong lồng. Kích thước lồng thường từ 3x3x2 đến
5x5x3m. Năm 2001, tổng sản lượng cá song khoảng 25.000 tấn, trong đó sản
lượng cá song nuôi chiếm hơn 60%. Trung Quốc là nước sản xuất lớn nhất,
tiếp theo là Đài Loan, Indonesia, Việt Nam, và Thailand (Sadovy et al., 2003).
Sản xuất cá song giống và nuôi thương phẩm đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho
người dân. Ví dụ ở Bali, Indonesia, các trại sản xuất cá song giống mang lại
3


lợi nhuận từ 12-356%, trong khi lãi xuất đầu tư trong nuôi thương phẩm tại
Philippine từ 59-83% (Sadovy et al., 2003).
Ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, có gần 10 loài cá song khác nhau
được đưa vào nuôi thương phẩm như song chấm đỏ (E. akaara), song chấm
nâu (E. coioides), song Malabar (E. malabaricus),… Tại khu vực Đông nam
của Mỹ và các nước vùng Caribbean, các loài cá song E. striatus,
Mycteroperca microlepis, M. bonaci và E. itajara đã và đang được đưa vào
nuôi thương phẩm và rất có triển vọng phát triển (FAO, 1993; Tucker, 1999).
Theo Sadovy and Lau (2002), hàng năm có khoảng vài trăm triệu cá
giống đánh bắt ngoài tự nhiên trong khu vực Đông Nam Á như Thailand,
Philippine, Indonesia,… cung cấp cho nuôi thương phẩm. Phần lớn trong số
cá giống đó thuộc họ cá song và bán cho Trung Quốc và Đài Loan. Nhiều loài
cá song như Plectropomus leopardus, P. areolatus, E. coioides, E.
polyphekadion, và Cheilinus undulates đang bị khai thác quá mức ngoài tự
nhiên (Mous et al. 2006; Sadovy & Vincent, 2002). Trong tương lai, nuôi thủy
sản sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc làm giảm áp lực lên khai thác thủy
sản. Việc nuôi cá song đã được triển khai với nhiều mức độ thành công khác
nhau trên thế giới. Các loài cá mú thường được nuôi bao gồm: Cromileptes
altivelis,

Epinephelus

akaara,

E.

amblycephalus,

E.

coioides,

E.

fuscoguttatus, E. lanceolatus, E. malabaricus, E. rivulatus, E. tauvina, E.
bleekeri…
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, nghề nuôi cá song chính thức phát triển vào năm 1988, và
nghề này đã phát triển mạnh từ Bắc vào Nam, nhưng tập trung chủ yếu ở
Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa và gần đây Vũng Tàu.
Các loài cá song được nuôi chủ yếu đó là, cá song chấm nâu E.
coioides, cá song chấm đỏ, cá song sáu vạch, cá song chấm tổ ong, cá song
chấm xanh, cá song chấm đen….Giống cá song chủ yếu đánh bắt ngoài tự
nhiên.
4


1.3. Khái niệm về dinh dưỡng và thức ăn cho cá song
1.3.1. Dinh dưỡng và thức ăn
- Dinh dưỡng là sự chuyển hóa vật chất của thức ăn thành những yếu tố
cấu tạo nên cơ thể thông qua các quá trình sinh lý, hóa học. Dinh dưỡng bao
gồm nhiều giai đoạn: từ khi cá lấy thức ăn vào cho đến khi tiêu hóa và hấp thu
dưỡng chất kế đến là hàn loạt các phản ứng biến dương và sau cùng là bài tiết
các sản phẩm của quá trình trao đổi chất [4].
- Thức ăn là vật chất chứa các chất dinh dưỡng mà cá có thể ăn, tiêu
hóa và hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống của cơ thể cá
[4].
1.3.2. Các loại thức ăn
- Thức ăn tươi sống (live food): đó là những sinh vật sống có kích
thước nhỏ như tảo, động vật phiêu sinh, Artemia, Rotifer...dùng làm thức ăn
cho giai đoạn cá con mởi nở từ 3 – 15 ngày tuổi, hoặc tôm Post [4].
- Thức ăn tươi (fresh food): bao gồm các loại đọng vật tươi làm thức ăn
cho cá như: tôm, cá tạp, ốc, cua... [4].
- Thức ăn nhân tạo: là thức ăn do con người tạo ra để cung cấp cho
động vật thủy sản [4]. Bao gồm:
++ Thức ăn tự chế (home made feed): do người nuôi tự phối chế, dạng
ẩm, nguyên liệu chủ yếu là bột sắn, khoai lang, bột cám, bột đậu nành...
++ Thức ăn viên/thức ăn công nghiệp (commercial feed): dạng khô,
được sản xuất theo quy mô công nghiệp. Có hai dạng thức ăn viên chìm được
sử dụng chủ yếu để nuôi giáp xác và thức ăn viên nổi, được sử dụng nuôi cá
biển.

5


PHẦN II. NỘI DUNG
2.1. Thành phần hóa học của cá song
Cũng giống như các ĐVTS khác, cơ thể cá mú bao gồm 5 thành phần:
nước, potein, lipid, khoáng, glucid, muối vô cơ và vitamin.
- Nước: chiếm khoảng 60 – 80% khối lượng cơ thể, tùy loài.
- Protein là thành phần hóa học chủ yếu trong thịt ĐVTS, chiếm
khoảng 60– 75% (khối lượng khô). Protein trong cơ thể ĐVTS thường liên
kết với nhóm chất hữu cơ khác như lipid, acid nucleic, glycogen để tạo thành
các phức chất phức tạp có những tính chất sinh hóa đặc trưng khác nhau.
- Lipid: thành phần này thường dự trữ nhiều trong gan, có thể dựa vào
lượng mỡ để chia ra các nhóm cá.
- Khoáng (tro): thành phần khoáng khác nhau tùy giống loài, thời tiết
và môi trường sống. Nguồn khoáng quan trọng và chiếm số lượng lớn trong
cơ thể ĐVTS là Ca, P, Fe. Trong khoáng của cá song cũng như nhiều ĐVTS
khác có chứa iod, có nhiều trong gan, noãn sào, túi tinh, trong cơ thịt hàm
lượng lipid ít hơn.
- Vitamin: A, D, B, E. Tập trung chủ yếu ở nội tạng đặc biệt là gan và
một phần ở tuyến sinh dục (chủ yếu nhóm A, D).
Các thành phần lipid, protein, gluxit…trong cơ thể cá, thay đổi tùy
thuộc vào từng vị trí tổ chức cơ thể, giai đoạn phát triển, loại thức ăn và môi
trường sống của cá. Chẳng hạn, tỷ lệ lipid của cá tăng mạnh vào giai đoạn
thành thục và sinh sản, sau giai đoạn này lipid giảm đáng kể. Cá trong điều
kiện nuôi thường có hàm lượng lipid cao hơn rất nhiều so với cá tự nhiên, vì
trong điều kiện nuôi, cá được cho ăn đầy đủ dinh dưỡng và đảm bảo khẩu
phần ăn…
2.2. Nhu cầu năng lượng của cá song

6


Cũng như các ĐVTS khác, cá song cũng cần có năng lượng để duy trì
hoạt động sống của cơ thể; bao gồm: năng lượng dự trữ, năng lượng cho tăng
trưởng, cho sinh sản.
- Năng lượng này dự trữ trong các liên kết hóa học của các chất dinh
dưỡng lấy từ thức ăn và chúng được giải phóng bởi quá trình oxy hóa. Năng
lượng sinh ra từ thức ăn sẽ được cơ thể cá dự trữ lại một phần ở dạng
adenosine triphosphate (ATP) [1].
- Tùy theo năng lượng thức ăn mà cá điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào
để thỏa mãn nhu cầu năng lượng cho sự tăng trưởng.
- Nhu cầu năng lượng cho sinh sản rất lớn. Ở cá song và hầu hết các
loài cá khác, tuyến sinh dục đực ở giai đoạn thành thục chiếm <10% khối
lượng cơ thể, trứng chiếm hơn 30% khối lượng cơ thể. Năng lượng trung bình
của 1 g trứng khoảng 23KJ/g vật chất khô [1].
Khi năng lượng cung cấp từ thức ăn không đủ, cá sẽ sử dụng năng
lượng tích lũy trong cơ thể để cung cấp cho tế bào sinh dục.
2.3. Các nguồn thức ăn cung cấp năng lượng
Nhiều nghiên cứu cho thấy, cá song và các ĐVTS khác, yêu cầu năng
lượng từ protein và lipid rất cao (cao hơn so với động vật trên cạn), mà nguồn
năng lượng đó cá chỉ có thể lấy được do tổng hợp từ 3 nguồn lipid, protein và
carbohydrate có trong thức ăn.
Ngoài vai trò chính là cung cấp năng lượng, lipid có trong thức ăn, giúp
làm tăng mùi vị và độ trơn láng của viên thức ăn.
Carbohydrate để cung cấp năng lượng cho cá, đó là từ các phụ phẩm
của các nhà máy xay xát lúa mì, cám gạo, bột bắp, bột mì…
2.4. Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn của cá song
Cá song ở giai đoạn cá con, thức ăn phổ biến nhất được cấp là luân
trùng, artemia và thịt tôm hoặc cá. Khoảng 2 – 3 ngày sau khi nở, noãn hoàng
đã sử dụng hết, cá bắt đầu ăn thưc ăn ngoài. Ở giai đoạn này ấu trùng cá sẽ bị
chết đói nếu cung cấp thức ăn với kích cỡ không phù hợp, vì miệng ấu trùng
cá rất nhỏ, chỉ có thể ăn được vật mồi khoảng 150 – 193Mm.
7


Có thể cho ấu trùng cá song mú ăn trứng và ấu trùng của hàu hoặc vẹm,
ấu trùng muỗi, trứng cầu gai và copepod. Tuy nhiên việc sử dụng các loại
thức ăn này đòi hỏi phải có kỹ thuật nuôi sinh khối tốt thì mới có thể đảm bảo
tốt thức ăn cho ấu trùng cá. Hiện nay, việc sử dụng trứng cá làm thức ăn thay
thế cũng đã được khuyến cáo.
Các loài tảo Nannochloropsis, Chlorella và Tetraselmis chủ yếu được
dùng làm thức ăn để nuôi luân trùng hoặc Artemia, nhưng cũng có thể được
sử dụng làm thức ăn trực tiếp cho ấu trùng cá. Những loài tảo này rất được
chuộng, vì chúng có hàm lượng protein cao.
Có thể làm giàu luân trùng hoặc artemia trong nhiều giờ (3 – 6g) bằng
cách dùng tảo, men bánh mỳ, nhũ tương trứng sống, methyl-esters, dầu cá
hoặc nhũ tương chất béo như Selco để bổ sung thành phần acid béo. Theo
chavez & CS (1995), việc cho ăn thức ăn được làm giàu HUFA đã làm tăng
sức chống chịu của ấu trùng đối với stress nhưng không thúc đẩy sinh trưởng
của ấu trùng và tỷ lệ sống ở ngày thứ 24. Tác động có lợi của việc sử dụng
thức ăn nhân tạo trong các giai đoạn ấu trùng, như hạn chế sự xuất hiện của vi
khuẩn thông qua chuỗi thức ăn, cũng đã được ghi nhận.
2.5. Nhu cầu protein và lipid của cá song
2.5.1. Nhu cầu về protein
Thông tin về nhu cầu protein của cá song chấm đen còn hạn chế. Chen
và Taisai (1994) cho rằng loài cá mú chấm đen ở giai đoạn giống cỡ nhỏ đòi
hỏi: 478g protein /kg thức ăn cho sinh trưởng tối đa. Shiau và Lan (1996), cho
rằng mức protein tron thức ăn thúc đẩy sinh trưởng tối đa của cá songchấm
đen cỡ lớn là 502 g/kg.
Theo Teng et al, (1978) thi nhu cầu protein chung của các loài cá song
khoảng từ 40 – 50% .
Lê Anh Tuấn chỉ ra rằng, cá mú chấm đen có thể sử dụng hiệu quả
protein trong thức ăn bất kể nguồn gốc thực vật (bã đậu nành và bột đậu
lupin) hay động vật (bột cá và bột xương thịt động vật). Tuy nhiên, bột cá có
khả năng tiêu hóa đối với chất khô (ADMD) và protein (ACPD) cao nhất lần
8


lượt là 86,01% và 98,12%. Về khả ăng tiêu hóa, ba loại nguyên liệu bã đậu
nành, bột đậu lupin và bột xương thịt động vật chưa thể thay thế hoàn toàn vị
trí của bột cá.
Cá mú chấm đen bị hạn chế về khả năng tiêu hóa tinh bột và các thành
phần carbohydrat khác của nguyên liệu thức ăn.
De Silva và cs (1990), nghiên cứu trên cá Oreochromis aureus, cho
thấy giá trị hệ số độ tiêu hóa đối với chất khô (ADMD) thấp là do hiệu quả sử
dụng các chất dinh dưỡng của cá mú chấm đen giảm khi hàm lượng xơ trong
nguyên liệu làm thức ăn tăng lên.
2.5.2. Nhu cầu lipid trong khẩu phần của cá
Lipid trong khẩu phần ăn của cá như là một nguoonf năng lượng.
Khoảng 10 – 20% lipid trong các khẩu phần ăn của cá cho các tốc độ sinh
trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể qúa béo (Cowey và Sargent,1979).
Cá bị bỏ đói thường sử dụng các nguồn dự trữ lipid như là một nguồn
năng lượng hơn là sử dụng protein và carbohydrat.
Những loài cá dữ như cá song thường chuyển từ thức ăn là giáp xác
sang ăn thức ăn là cá khi chúng lớn lên cũng đã từng được ghi nhận.
Theo Lê Anh Tuấn (2004), sử dụng cá mối và cá sơn làm thức ăn cho
cá song chấm đen, kết quả chỉ ra rằng, cá song chấm đen khi cho ăn bằng cá
mối thì sinh trưởng tốt hơn khi cho ăn bằng cá sơn, vì cá mối có hàm lượng
lipid cao hơn và hàm lượng tro thấp hơn so với cá sơn.Tuy nhiên, sinh trưởng
của cá mú chấm đen sẽ cao hơn khi cho ăn kết hợp hai loại thức ăn này. Thức
ăn kết hợp đã cung cấp một phổ dinh dưỡng tốt hơn cho cá song. Thức ăn là
cá sơn thiếu 3 acid amin thiết yếu là Arginine, Histidine và Lysine. Thức ăn là
cá mối thiếu sẽ thiếu một acid amin đó là Methionine. Thức ăn kết hợp giữa
cá mú và và cá sơn khắc phục được sự thiếu sót này. Đây cũng là lý do tại sao
việc sinh trưởng thông qua sử dụng thức ăn gồm nhiều loài cá tươi kết hợp
đôi khi tốt hon so với thức ăn viên (Tacon và CS; Bech và CS).

9


Bảng: Thành phần acid amin thiết yếu của cá mối, cá sơn và cá song tự nhiên
(Lê Anh Tuấn, 2004)
Acid amin

Cá mối

Cá sơn

Cá song

Arginine

1,75

1,16

1,76

Histidine

0,79

0,60

0,80

Isoleucine

0,72

0,94

0,73

Leucine

4,81

4,26

4,27

Lysine

2,10

1,07

2,07

Methionine

0,63

0,99

1,02

Phenylalanine

1,32

1,15

0,88

Theoronine

1,79

1,86

1,08

Tryptophan

0,02

0,01

0,03

Valine

1,13

1,00

1,10

Việc tăng hàm lượng protein trong thức ăn đã làm tăng hàm lượng lipid
và giảm hàm lượng protein của cá.
Việc tăng hàm lượng lipid trong thức ăn đã làm tăng cả hàm lượng lipid và
protein của cá.
Sự tích lũy năng lượng từ thức ăn của cá đã tăng lên cùng với sự gia tăng hàm
lượng protein và giảm đi cùng với sự gia tăng hàm lượng lipid trong thức ăn. Năng lượng
tích lũy đạt cao nhất khi cá được cho ăn bằng thức ăn có hàm lượng protein là 55,6% và
hàm lượng lipid là 11,6%.

Tác giả

khối

Loại

lượng
TN

cá thức

Thành

Thời gian Tốc độ sinh Lý do

phần P và TN (ngày)

ban ăn TN L của TĂ

đầu (g)

trưởng



hiệu quả sử
dung



đạt tối ưu
Chen

và 4

ăn 50

(g/ngày)
0,18g/ngày

chứa

thức

Tsai

casein

chứa

8%

(1994)



lipid



dextri

48%

chứa casein

n

protein



10

do cá không
chuộng loại
thức

ăn
dextrin


lắm
Shiau

và 9

Lan (1986)

bột cá

56

0,93

và tinh
bột



Anh 16,9±1,32

1,13

Tuấn
(2004)

Theo Lê Anh Tuấn, (2004), lượng thức ăn cá ăn vào tỷ lệ nghịch với
hàm lượng lipid của thức ăn. Lượng thức ăn của cá ăn vào cũng bị giảm đi khi
hàm lượng chất béo trong cơ thể cá tăng lên.
Hàm lượng chất béo của cơ thể cá song tăng lên theo mức tăng lipid của thức
ăn. Tuy nhiên, khi cá được cho ăn thức ăn có hàm lượng protein thấp thì hàm
lượng chất béo của cá lại giảm, vì lúc này cá sẽ giảm ăn thức ăn chứa lipid.
Những loài cá song khác như cá song chuột (Cromileptes altivellis), cá song
chấm nâu (Epinephelus coioides) đều thể hiện không thích ăn những thức ăn
có hàm lượng lipid cao (Lou, Z., và cs, 2005).
Nhiều nghiên cứu cho thấy, để đáp ứng nhu cầu năng lượng của bản
thân, cá song chấm đen thiên về hướng oxy hóa protein thay vì lipid.
Trong thí nghiệm của Lê Anh Tuấn chỉ ra rằng, cá song chấm đen thích sử
dụng protein hơn lipid làm nguồn năng lượng. Trong khi đó có kết quả của
một nghiên cứu khác lại ngược lại với kết quả của Lê Anh Tuấn, cá song
chấm đen có thể sử dụng lipid thay cho protein.
2.6. Nhu cầu về HUFA của cá song
Ngoài tự nhiên, thức ăn của hầu hết các cá biển là những sinh vật rất
giàu 22:6n-3 (DHA) và 20:5n-2 (EPA) nên chúng mất khả năng kéo dài mạch
carbon và tạo thêm nối đôi (dạng 18:3n-3 Linnolenic acid) để tạo thành các
HUFA tương ứng. Vì thế cá biển cần phải được cung cấp thêm DHA và EPA
nhằm giúp chúng sinh trưởng tốt.
Nhu cầu n–3 HUFA trong thức ăn thay đổi theo loài và kích cỡ cá.

11


Loài

Nhu cầu n–3
HUFA

Tác giả

trong

thức ăn
cá hanh đầu vàng giai đoạn cá bột

2,2

Sailhi và cs (1994)

cá hồng mỹ ở giai đoạn cá giống

0,5-1

Lochmann và cs (1993)

cá chẽm

1

Wanakowat và cs (1993)

cá mú chuột

1,5

Suwirya và cs (2004)

cá mú cọp

2,5

cá mú chấm đen

1,62

Lê Anh Tuấn (2004)

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rẳng, n-3 HUFA rất cần cho sinh trưởng của
cá mú chấm đen cũng như với các cá biển khác. Trong thức ăn của cá nếu
thiếu n-3 HUFA sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ tử vong cao và gây
ra sự phát triển bất thường của bóng hơi (Koven, 1990.,Sorgeloos,
1994.,Webster, 1995).
Các acid béo họ n-3 được cho là có một mức chưa bão hào lớn – đây là
điều cần cho tính hu động, tính co giãn và tính thấm lớn hơn của màng tế bào
và ccs bào quan ở nhiệt độ thấp. Trong thực tế người ta cho rằng, nhu cầu của
cá về acid béo họ n-3 cao hơn họ n-6, lý do chính là nhiệt độ nước của môi
trường sống của cá thấp (hơn so với động vật trên cạn).
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng ấu trùng cá song không có khả năng
tổng hợp các HUFA từ các acid béo mạch ngắn như Linolenic acid (18:3n-3)
và Linoleic acid (18:2n-6). Nguyên nhân là do hoạt tính của hệ thống enzyme
trong ấu trùng cá song là yếu vì vậy phải cung cấp HUFA cho ấu trùng cá biển
thông qua con đường thức ăn (Mourente et al 1993). Các kết quả nghiên cứu
cũng đã chứng minh rằng sự phát triển, sự sống sót và tỷ lệ hình thành sắc tố
của ấu trùng cá song trở nên tốt hơn khi hàm lượng DHA, EPA hay acid
arachidonic (ARA) được cung cấp đủ trong thức ăn hàng ngày (Castell et
al.1994; Reitan et al. 1994; Zheng et al. 1996; Sagent et al. 1997). Tỷ lệ
DHA : EPA và tỷ lệ EPA:ARA trong thức ăn hàng ngày cũng rất quan trọng
( Bell et al. 1995; Sargent et al. 1997; Nanton và Castell, 1998; Estevez et al.
12


1999). Sargent et al.(1997) cho rằng n-3 HUFA tối thiểu cũng phải chiếm 0,5 1% trọng lượng khô mới đảm bảo cho ấu trùng cá biển phát triển ở giai đoạn
đầu và có thể cần ở mức cao hơn cho ấu trùng cá phát triển nhanh ở giai đoạn
sau.
Một trong những đối tượng thức ăn tươi sống được quan tâm chú ý nữa
là copepod tự nhiên hoặc nuôi vì chúng rất cần thiết đối với cá song con mà
ăn luân trùng và artemia vẫn không đủ dinh dưỡng.
Nhiều kết quả phân tích thành phần sinh hoá cho thấy một số chất dinh
dưỡng đặc biệt có ở copepod mà vắng mặt ở luân trùng và artemia. Copepod
bình thường đã có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, là thức ăn lý tưởng của ấu
trùng nhiều loài cá song.
Ngoài tự nhiên Copepods chứa hàm lượng DHA (Docosahexaenoic
acid) nói riêng và HUFA (higtly unsaturated fatty acids) nói chung rất cao
(Reitan và ctv, 1994), chúng lấy được từ các loài thực vật phù du hay tích luỹ
dần qua các bữa ăn. DHA có trong Copepods tự nhiên cao gấp 10 lần so với ở
trong Artemia đã được cường hoá (Mc Evoy và ctv, 1998).
Hiện nay Copepods ngoài tự nhiên được các nhà sản xuất giống cá song
rất ưa dùng, nó mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người sản xuất vì nó cho
tỷ lệ sống cao hơn hẳn so với các loại thức ăn khác.
Rất nhiều nhà sản xuất giống cho rằng dinh dưỡng của ấu trùng cá song
là nhân tố quan trọng quyết định đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và khả
năng vượt qua biến thái của chúng (Mc Evoy và ctv, 1998). Tốc độ tăng
trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ dị hình phụ thuộc rất nhiều bởi hàm lượng DHA;
EPA; ARA và riêng tỷ lệ DHA:EPA có trong khẩu phần ăn (Castell, 1994;
Reitan, 1994; Sargent, 1997). Ấu trùng cá song có thể hấp thụ dễ dàng DHA
và các axit béo cần thiết khác có trong Copepods hơn là trong Artemia (Mc
Evoy và ctv, 1998).
2.7. Nhu cầu về vitamin của cá song
Vitamin C có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp chất tạo keo
(collagen), một lượng thích hợp vitamin C sẽ đảm bảo sự hình thành chất tạo
13


keo và qua đó thúc đẩy tốc độ sinh trưởng cho cá nuôi. Cá song cũng như hầu
hết các loài cá, đều không có khả năng tổng hợp acid ascorbic, hoặc nếu có thì
số lượng tạo ra cũng không đủ đáp ứng các nhu cầu chuyển hóa, vì thế acid
ascorbic buộc phải được cung cấp qua con đường thức ăn.
Cá thiếu acid ascorbic sẽ bị dị hình xương sống, thường là những dị
dạng của lớp sụn ở mắt, mang, nắp mang và vây. Cá không muốn ăn, sinh
trưởng chậm, xuất huyết nội và ngoại tạng, mòn vây và giảm hồng cầu.
Lượng acid ascorbic tối thiểu trong thức ăn cần cho sinh trưởng và sức
khỏe bình thường của cá dao động trong khoảng 10 – 50 mg/kg thức ăn đối
với thức ăn viên khô (Li, M.H. và Robinson, E.H. 2001).
Vitamin C giúp động vật chống chịu tốt với những biến động của môi
trường, giúp vật nuôi giảm stress, giúp lành vết thương. Vitamin có khả năng
tạo ra chất ức chế sinh sản giúp chống lại các tác động của rirus và kích thích
tạo ra kháng thể IgS và IgM (Cuzon, G., Guillaume, J. (1991).
Lê Anh Tuấn, Với cá song chấm đen cỡ 47,4 – 96,2g trong điều kiện
phòng thí nghiệm,việc bổ sung vitamin C (dạng acid ascorbic tinh thể) vào
thức ăn (cá mối) ở mức 50 mg/kg là cho sinh trưởng tốt. Tuy nhiên, mức bổ
sung tối ưu cho sinh trưởng là 88,38 mg/kg và mức bổ sung tối thiểu là 100
mg/kg cho tỷ lệ sống tốt.
Theo Đỗ Thị Hoà và ctv, 2004, cá song (Cromileptes altivelis) bị thiếu
vitamin C có biểu hiện biến dạng cột sống làm cho cá có dấu hiệu ưỡn lưng,
bụng hóp lại, bệnh có thể làm cho cá chết rải rác.
Theo Laining, A., Palinggi, N., Atmomarsono, M. và cs (2004) cho
rằng, với một đối tượng nuôi nào đó, mức bổ sung vitamin C thích hợp cho
sinh trưởng dường như thấp hơn so với mức thích hợp để nâng cao tỷ lệ sống.
Theo Li, M.H. và Robinson, E.H. (2001), lượng acid ascorbic tối thiểu
trong thức ăn cần cho sinh trưởng và sức khỏe bình thường của cá dao động
trong khoảng 10 – 50 mg/kg thức ăn đối với thức ăn viên khô. Nhu cầu này,
thay đổi tùy loài, kích cỡ và tuổi cá. Subyakto và cộng sự (2000) cho rằng,
mức vitamin C thích hợp là 25mg/kg thức ăn cho cá mú chuột Cromileptes
14


altivelis nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm; còn khi nuôi ngoài lồng thì
mức vitamin C thích hợp là 150 mg/kg thức ăn.
2.8. Nhu cầu về carbohydrate trong thức ăn cho cá song
2.9. Nhu cầu về muối khoáng (tro) của cá song

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×