Tải bản đầy đủ

vitamin trong nuôi trồng thủy sản

CHƯƠNG VII
VITAMIN TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN
1. GIỚI THIỆU
2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VITAMIN
2.1. Điều kiện chế biến và bảo quản vitamin
2.2. Khả năng tổng hợp vitamin
2.3 Tập tính dinh dưỡng
2.4. Điều kiện nuôi dưỡng
2.5. Điều kiện sinh lý của cá
2.6. Chất kháng vitamin hiện diện trong thức ăn
3. TÍNH CHẤT VÀ NHU CẦU VITAMIN CHO ĐỘNG VẬT THỦY
SÀN
3.1. Nhóm vitamin tan trong nước
3.2. Nhóm vitamin tan trong chất béo
1. GIỚI THIỆU
Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật
thủy sản. Vai trò và nhu cầu vitamin đối với động vật thực sự được quan tâm khi nghề
nuôi thủy sản thâm canh ra đời. So sánh với các thành phần dưỡng chất chính trong
thức ăn như protein, lipid và carbohydrat, vitamin chiếm một lượng rất nhỏ từ 1-2%
trong thức ăn. Tuy nhiên, vitamin có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất
của cơ thể và chi phí có thể lên đến 15% trong khẩu phần ăn.

Hầu hết các vitamin giữ vai trò đặc biệt như là một co-enzyme hay các tác
nhân hỗ trợ các enzyme thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sinh vật.
Vitamin đóng vai trò tác nhân của phản ứng oxy hóa, chuyển các electron từ hợp chất
hữu cơ sang chất nhận như oxy hóa sinh vật. Co-enzymes trong sự thành lập hồng
cầu và tế bào thần kinh và tiền chất của các homones.
Nhiều kết quả nguyên cứu cho thấy, động vật thủy sản không có khả năng hay
khả năng tổng hợp rất ít không đủ cho nhu cầu nên việc cung cấp vitamin vào thức ăn
cho động vật thủy sản là rất cần thiết. Động vật thủy sản ăn thức ăn không được cung
cấp đầy đủ vitamin sẽ sinh trưởng chậm, tỉ lệ sống thấp, khả năng chịu đựng với biến
động môi trường kém và dễ bị bệnh. Một số dấu hiệu bệnh lý khi thiếu vitamin ở
động vật thủy sản đã được ghi nhận như: xuất huyết, dị hình, nứt sọ ở cá, đen thân ở
tôm…
Nhu cầu vitamin cho động vật thủy sản đã được một số tác giả nghiên cứu và
đề ra mức thích hợp cho một số loài động vật thủy sản. Tuy nhiên nhu cầu vitamin
chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố: kích cỡ và giai đoạn phát triển của đối tượng
nuôi, các yếu tố môi trường nuôi, mối tương tác với các thành phần dinh dưỡng khác
và đặc biệt là quá trình chế biến và bảo quản.


2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VITAMIN TRONG
THỨC ĂN THỦY SẢN
2.1. Điều kiện chế biến và bảo quản vitamin

TOP

Đa số các vitamin đều nhạy cảm với các điều kiện chế biến và bảo quản thức
ăn. Sự gia tăng nhiệt trong quá trình ép viên thức ăn thường phân hủy vitamin C,
vitamin B12 và Pyridoxine. Việc sử dụng các vitamin kháng nhiệt hay ép viên ở
nhiệt độ thức ăn không quá cao trong quá trình chế biến thức ăn sẽ giảm sự hao hụt
vitamin. Một phương pháp khácđược sử dụng là pha dung dịch “lipid-vitamin” và
phun áo ngoài bề mặt của viên thức ăn sau khi gia nhiệt.
Một số vitamin nhạy cảm với ánh sáng và tia UV như vitamin B12 hay
vitamin E sẽ bị mất đi khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Các vitamin tan
trong chất béo như vitamin A, D, E, K sẽ bị biến chất khi điều kiện chế biến thức ăn
không tốt vì chất béo sẽ bị oxy hóa khi độ ẩm và nhiệt độ cao. Khi thức ăn có hàm
lượng lipid cao thì yêu cầu phải có hàm lượng vitamin E cao hạn chế quá trình oxy
hóa lipid.
2.2. Khả năng tổng hợp vitamin

TOP



Khả năng tổng hợp vitamin của động vật thủy sản là rất kém, nhiều vitamin
không thể tổng hợp được như vitamin C, do đó việc cung cấp đầy đủ nhu cầu các
vitamin này là cần thiết. Một số vi sinh vật đường ruột của một số loài cá như cá
chép, rô phi, cá hồi có khả năng sinh tổng hợp vitamin nhóm B 12 nếu trong thức ăn
được cung cấp Co. Tuy nhiên khả năng sinh tổng hợp này có thể bị hạn chế nếu có
chất kháng sinh trong thức ăn. Cá nước ấm có khả năng tổng hợp vitamin bởi vi sinh
vật đường ruột tốt hơn ở cá vùng ôn đới.
2.3 Tập tính dinh dưỡng

TOP

Một trong những khó khăn để xác định nhu cầu về vitamin và giảm hiệu quả
sử dụng vitamin trong thức ăn thủy sản là tập tính bắt mồi. Những loài thủy sản có
tập tính ăn chậm, đặc biệt là giáp xác các vitamin trong thức ăn sẽ bị rữa trôi vào môi
trường nên nhu cầu vitamin trong thức ăn sẽ phải tăng lên. Ngoài ra tập tính xé, cạp
mảnh thức ăn của giáp xác cũng góp phần vào việc thất thoát vitamin vào môi trường
nước. Đối với những loài thủy sản ăn lọc thức ăn tự nhiên sẽ sử dụng nguồn vitamin
rất phong phú trong nguồn thức ăn này.
2.4.Điều kiện nuôi dưỡng

TOP

Hình thức nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vitamin của động vật thủy
sản. Trong mô hình nuôi quảng canh hay quảng canh cải tiến không cần cung cấp
vitamin vì ĐVTS có thể sử dụng vitamn thức ăn tự nhiên. Trong khi ở mô hình nuôi


bán thâm canh, thâm canh và nuôi trong lồng bè, thức ăn tự nhiên rất giới hạn nên cần
phải cung cấp đầy đủ vitamin.

2.5. Điều kiện sinh lý của cá

TOP

Nhu cầu vitamin của động vật thủy sản thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển.
Ở giai đoạn ấu trùng, tôm cá cần được cung cấp lượng vitamin C nhiều hơn giai đoạn
trưởng thành và giai đoạn bố mẹ. Ở giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh cần bổ sung
200 mg vitamin C/kg thức ăn, giai đoạn tôm giống cần bổ sung 100 mg/kg thức ăn.
Thủy sản trong thời kỳ sinh sản cần một lượng lớn vitamin A, E, C. Ngoài ra vitamin
C có tác dụng tăng khả năng chịu đựng trên tôm cá khi đánh bắt hay khi vận chuyển.
Khả năng đề kháng bệnh của thủy sản tăng lên khi bổ sung vitamin C, E, B6,
Panthothenic acid choline vào thức ăn.
2. 6.Chất kháng vitamin hiện diện trong thức ăn

TOP

Trong một số loại nguyên liệu làm thức ăn cho động vật thủy sản có chứa một
số chất kháng vitamin tự nhiên, các chất này là giảm hoạt tính và hiệu quả sử dụng
vitamin. Người ta ghi nhận sự hiện diện của chất kháng vitamin như enzyme
thiaminase hiện diện trong cá sống ức chế thiamine (B1) . Trong thức ăn chứa nhiều
chất béo sự oxy hóa sẽ hủy hoại các vitamin nhóm A, D, E và K tan trong chất béo.
3. TÍNH CHẤT VÀ NHU CẦU VITAMIN CHO ĐỘNG VẬT THỦY SẢN
Dựa vào đặc tính hòa tan mà vitamin được chia là hai nhóm chính. Nhóm
vitamin tan trong chất béo: vitamin A, D, E và K. Nhóm vitamin tan trong nước gồm:
nhóm vitamin B, Vitamin C, chiline và inositol. Mỗi một loại vitamin có cấu tạo,
chức năng riêng biệt. Nhu cầu vitamin được nghiên cứu trên một số đối tượng như cá
hồi, cá chép, cá nheo Mỹ và một số loài tôm biển
3.1. Nhóm vitamin tan trong nước

TOP

Nhóm vitamin tan trong nước bao gồm nhóm vitamin B, vitamin C, chiline,
inositol, có một giá trị dinh dưỡng rõ rệt. Ngoài ra số hoạt tính của vitamin chưa xác
định rõ như p-aminobenzoic acid, lipoic acid, citrin cũng liệt kê vào nhóm vitamin
tan trong nước. Chức năng chính của nhóm này là coenzime trong quá trình trao đổi
chất của tế bào. Một vài loài cá nước ấm có khả năng tổng hợp một số vitamin này.
3.1.1 .Thiamin (Vitamin B1)


Vitamin B1 có tên hóa học là thiamin hay thiamin chlohydrate. Chức năng là
Co-enzymes trong biến dưỡng carbohydrate. Do đó thiamin cần thiết cho cá tăng
trưởng và hoạt động sinh sản bình thường. Nhu cầu thiamin được xác định tùy theo
mức năng lượng có trong thức ăn. Ở cá chép, nhu cầu vitamin B1 tăng khi tăng
lượng carbohydrat trong thức ăn. Thức ăn chứa nhiều năng lượng cần bổ sung thêm
vitamin. Cá ăn tạp có thể có nhu cầu B1 cao hơn cá ăn động vật. Nhu cầu vitamin
B1 ở cá thấp khoảng 1- 15 mg/kg, trong khi ở tôm biển mức đề nghị là 60 mg/kg
Các nghiên cứu cho thấy dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B1
thường xuất hiện sau 8-10 tuần. Dấu hiệu rõ nhất là sinh trưởng của tôm cá giảm
nhanh
Dạng vitamin B1 thường được sử dụng bổ sung vào thức ăn là thiamin
mononitrate với tỉ lệ thiamin là 91-88%, đây là dạng vitamin bền. Tuy nhiên loại này
mất đi khoảng 80-90% nếu giữ ở nhiệt độ phòng trong 3 tháng. Qua ép viên mất đi từ
0-10%. Khi phối chế vào thức ăn để trong thời gian 7 tháng mất từ 11-12% (Slinger,
1979)

8m
g
4
m
g
2
mg

10
0

50
vết
2
8

4
6
10Thời gian cho
ăn (ngày)

Hình 7.1: Ảnh hưởng của vitamin B1 lên tỉ lệ sống của tôm he
3.1.2. Riboflavin ( Vitamin B2)
Vitamin B2 có tên hóa học là riboflavin. Riboflavin là thành phần cấu tạo của
flavin adenine dinucleotide (FAD) hay flavin mononucleotide (FMN) là coenzyme
cho nhiều phản ứng oxy hóa khử và trao đổi ion


Nhu cầu vitamin B2 khoảng 8-10mg/kg thức ăn cho loài cá chép và cá trơn và
25 mg/kg cho tôm.
Dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B2 biểu hiện ở cá chép sau 3
tuần và ở cá trơn sau 8 tuần. Các dấu hiệu thường gặp giảm sinh trưởng, thiếu máu,
sợ ánh sáng, xuất huyết da, vây…Ở tôm thì nhạt màu, dễ bị kích thích, có dấu hiệu
khác thường trên vỏ.
Vitamin B2 là dễ bị mất đi qua quá trình chế biến và cho ăn. Khi ép đùn có
thể mất 26%, khi cho vào nước sau 20 phút mất đi 40% (Goldblatt, 1979)
3.1.3. Pyrodoxine ( Vitamin B6)
Vitamin B6 có tên hoá học là pirodoxine. Nhóm vitamin B6 bao gồm
pyridoxine, pyridoxal, pyridoxamine và nhiều dẫn xuất khác trong đó pyridoxal có
hoạt tính sinh học cao nhất. Pyridoxine là coenzyme cho phản ứng decarboxyl hóa
cho các acid amin nên pyridoxine liên quan đến sự biến dưỡng protein. Dấu hiệu
thiếu vitamin B6 tăng lên khi thức ăn có hàm lượng protein cao. Vì vậy vitamin B6
đóng vai trò quan trọng đối với những loài tôm cá động vật.
Nhu cầu vitamin B6 ở cá khoảng 5-10 mg/kg cho cá. Trong khi ở tôm được đề
nghị là 50 –60 mg/kg.
Dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B6 biểu hiện ở cá chép sau 4-6
tuần và ở cá trơn sau 6- 8 tuần. Các dấu hiệu thường gặp rối loạn thần kinh, giảm khả
năng miễn dịch, thiếu máu…Ở tôm sẽ chậm sinh trưởng, tỉ lệ chết cao (Deshimaru,
1979)
Vitamin B6 được sử dụng bổ sung vào thức ăn dạng pyridoxine
hydrochloride. Hàm lượng vitamin B6 mất đi khoảng 7-10% qua quá trình ép viên và
bảo quản.
3.1.4. Pantothenic acid
Pantothenic acid tham gia cấu tạo acetyl coenzyme A là một bước trung gian
trong biến dưỡng carbohydrate, lipid và protein nó giữ vai trò quan trọng cho các
chức năng sinh lý của cá đang sinh trưởng.
Nhu cầu Pantothenic acid ở cá khoảng 30- 50 mg/kg thức ăn . Ở tôm mức đề
nghị là 70 - 75 mg/kg thức ăn.
Những biểu hiện thường gặp trên các loài cá khi thức ăn thiếu pantotheic acid
lâu là mang sần sùi, bỏ ăn, hoại tử, chậm lớn. Ở tôm tỉ lệ sống và sinh trưởng giảm.
Pantothenic acid được bổ sung vào thức ăn dưới dạng: calciun d -pantothenate
(92% hoạt tính) hoặc : calciun dl- pantothenate (46% hoạt tính). Hàm lượng
Pantothenic acid mất đi khoảng 10% qua quá trình ép viên
3.1.5. Vitamin PP
Vitamin PP bao gồm niacin, nicotinic acid và nicotinamide chúng có tác dụng
tương tự vì chúng có thể biến đổi qua lại trong quá trình biến dưỡng. Niacine là
thành phần của coenzyme nicotinamide adenine dinucleotide (NAD) và nicotinamide
adenine dinucleotide phosphate (NADP). Các coenzyme này liên quan đến các phản


ứng oxy hóa và khử trong quá trình chuyển vận hydrogen và biến dưỡng của
carbohydrate, lipid và amino acid.
Nhu cầu vitamin PP là 14 mg/kg cho cá chép, 28 mg/kg cho cá trơn. Ở tôm
mức được đề nghị là 40 mg/kg thức ăn.
Dấu hiệu thiếu vitamin PP ở cá là lở loét da và vi cá, tỉ lệ chết cao, xuất huyết
da và biến dạng xương hàm. Vitamin PP có trong thức ăn thực vật và một số mô động
vật. Tuy nhiên đa số vitamin PP trong thực vật ở dạng khó hấp thu đối với các loài cá.
Hàm lượng vitamin PP mất đi khoảng 20% qua quá trình ép viên (Anonymous,
1981)
3.1.6. Biotin
Biotin có tác dụng như chất chuyển vận CO2 trong chuỗi phản ứng carboxyl
hóa và khử carboxyl. Các enzyme chứa biotin hoạt hoá các phản ứng trên bao gồm
acetyl-CoA carboxylase, pyruvate carboxylase và propyonyl-coA carboxylase. Như
vậy. Biotin tham gia vào quá trình sinh tổng hợp các acid béo chuỗi dài và purine.
Nhu cầu biotin cho cá là 1.5–2 mg/kg , cho tôm là 1 mg/kg thức ăn. Một số
loài cá có khả năng tổng hợp biotin nhờ hệ vi khuẩn đường ruột như ở cá nheo.
Biểu hiện của cá khi thiếu biotin chậm tăng trưởng, màu sắc cá nhạt hơn, cá rất
nhạy với tiếng động khi thức ăn thiếu biotin lâu dài. Ở tôm khi thiếu Biotin là tỉ lệ
sống thấp, sinh trưởng chậm.
Biotin hiện diện phổ biến trong thức ăn thực động vật. Cám gạo, cám mì, bột
thịt, bột cá, bột bắp, bánh dầu các loại là nguồn cung cấp đáng kể biotin. Dạng biotin
thường được sử dụng bổ sung vào thức ăn là d-biotin. Qua quá trình ép viên hàm
lượng bitoin trong thức ăn mất đi khoảng 15% (Anonymous, 1981).
3.1.7. Vitamin B12
Vitamin B12 được biết như là cyanocobalamin, trong thành phần có Co. Cả
động vật và thực vật đều không có khả năng tổng hợp Vitamin B12. Vitamin B12 cần
cho quá trình thành thục và phát triển phôi. Đối với tôm, Vitamin B12 giữ vai trò
quan trọng trong tổng hợp nucleotic, protein, biến dưỡng carbohydrat và chất béo.
Vitamin B12 có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn đường ruột của một số loài cá như cá
trơn,
Nghiên cứu nhu cầu vitamin B12 cho tôm cá còn rất hạn chế, nhu cầu cho cá
hồi được đề nghị là 0.015 –0.2 mg/kg, đối với tôm là 0.2mg/kg thức ăn Vitamin B12
có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn đường ruột bởi một số loài cá như cá trơn, cá rô
phi, cáchép. Biểu hiện thiếu vitamin B12 chưa thể hiện rõ ở các loài, biểu hiện
thường thấy là giảm sinh trưởng. Qua quá trình chế biến, hàm lượng vitamin B12
không bị ảnh hưởng.
3.1.8. Choline và inositol
Choline và inositol thuộc nhóm vitamin tan nước, nhưng khác với nhóm này là
không tham gia vào thành phần coenzime. Choline có chức năng là thành phần
phosphotydylcholine tham gia vào cấu trúc màng sinh học và sử dụng lipid trong cơ


thể, là thành phần của chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine và là tiền chất của
betain chất đóng vai trò như nguồn cung cấp gốc methyl cho các phản ứng methyl
hóa như sự tạo thành methionine từ cystine.
Đối với giáp xác, hai chất này có chức năng cơ bản là tham gia vào cấu trúc cơ
thể hơn là coenzime, vì thế nhu cầu lớn hơn so với các vitamin tan trong nước khác.
Yêu cầu cung cấp choline cho cá rất cao 1500 – 2000 mg/kg(cá chép), tôm là
600 mg/kg thức ăn. Nhu cầu inositol cho cá là 500 – 1000 mg/kg và 400 mg/kg thức
ăn cho tôm. Dấu hiệu thiếu Choline và inositol ở cá là giảm sinh trưởng, sưng gan,
xuất huyết ruột, thận. Ở giáp xác thì dấu hiệu giảm sinh trưởng và tỉ lệ sống giảm.
Cholin được bổ sung vào thức ăn dưới dạng chiline chloride (70% choline).
Choline không bi mất đi qua quá trình chế biến nhưng khi vào nước sẽ mất đi khoảng
10% sau 60 phút (Kanazawa, 1976)
3.1.9. Vitamin C
Trong nghiên cứu về thức ăn cho nuôi trồng thủy sản, Vitamin C đã được
nghiên cứu và đánh giá là cần thiết cho tôm cá cách đây trên 25 năm (Merchie, 1997).
Vitamin C được xác định là rất quan trọng cho động vật thủy sinh bởi vì trong khi hầu
hết các động vật khác có khả năng tổng hợp vitamin C từ glucuronic acid thì cá và
giáp xác lại thiếu enzim gulonolactone oxidase cần thiết cho bước cuối cùng của quá
trình tổng hợp (Dabrowki, 1990). Chính vì thế vitamin C của động vật thủy sản được
hấp thu chủ yếu từ thức ăn.
Bảng 7.2: Một số dấu hiệu bệnh do thiếu vitamin C trên cá
Loài
Dấu hiệu bệnh
Tác giả
- Cá Trê Phi
- Có sự rạn nứt, xuất huyết ở đầu và Eya 1996
(Clarias gariepinus)
ăn mòn vây, mõm và mang.
- Cá Chép
- Không tìm thấy dấu hiệu biểu hiện. Sato (1978)
(Cyprinus carpio)
- Tật ưỡn lưng, ăn mòn vây đuôi, Dabrowksi
biến dạng mang và uốn cong mõm.
(1988)
- Cá chẽm
- Không tìm thấy dấu hiệu biểu hiện. Merchie và ctv.
(Scophthalmus maximus)
(1996)
- Cá trắm cỏ
- Vây và mắt bị xuất huyết
Lin (1991)
(Ctenopharyngodon idella)
- Cá Rô Phi lai
- Giảm hàm lượng khoáng, mất sắc Shiau và Jan
(Tilapianilotica♀xT.auea ♂) tố ở da, tổn thương da, mất vẩy, xuất ( 1992)
huyết da và vây.
- Cá bơn
- Dị tật xương sống, tật ưỡn lưng, Coustans và ctv.
(Scophthalmus maximus)
xuất huyết, mất thăng bằng.
(1990)
Bảng 7.3: Nhu cầu Vitamin của một số loại tôm cá
Loài
- Cá Trê Phi
(Clarias gariepinus)
- Cá trê trắng
(Clarias batrachus)

Nhu
Nguồn Kích cỡ Tác giả
Cầu
AA

(mg/kg)
(g)
45
ECAA 19,9
Eya 1996 *
69

AA

1,5

Misfra và ctv. (1996)*


- Cá Chép
(Cyprinus carpio)
- Cá chẽm
(Scophthalmus maximus)
- Cá Rô Phi lai
(Tilapia nilotica♀xT.auea ♂)
- Cá bơn Nhật Bản
(Paralichthys olivaceus)
- Tôm he Nhật Bản
(Penaeus. Japonicus)
- Tôm Sú
(Penaeus monodon)
- Tôm Càng Xanh
(Macrobrachium rosenbergii)

45

APP

Cá bột

Gouillou-Coustans (1998)

20

APP

Cá bột

Merchie và ctv.(1996)

79

AA

1,1

Shiau và Jan ( 1992)

60-100 AMP

3,43

Teshima và ctv. (1993)

99

AA

Giống

Shigueno và Itoh, 1988

209
200
100
200

APP
APP
AMP

Giống
Âú trùng
Giống
Ấu
trùng
Giống

Chen và Chang, 1994
Merchie và ctv, 1997
D' Abramo và ctv, 1994
Hiền, 2002

Tôm thẻ chân trắng
120
AA
He và Lawrence, 1993
(Penaeus vannamei)
*(AA, L-ascorbic acid tinh; ECAA, ethylcellulose-coated ascorbic acid; APP,
ascorbyl-2-polyphosphate)
Vitamin C được ghi nhận là có vai trò quan trọng trong trao đổi chất, nó tham
gia vào quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật bởi việc tạo thành collagen,
tăng cường các phản ứng miễm dịch và sức đề kháng bệnh của tôm cá, tổng hợp
corticosteroids, chất có liên quan đến khả năng chịu đựng của tôm cá. Thức ăn có
hàm lượng vitam C cao được đề xuất là có lợi ích cho việc giảm sốc của cá (Hardie
và ctv, 1991).
Thức ăn thiếu vitamin C là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng bệnh lý như
bệnh vẹo cột sống ở cá và bệnh chết đen ở tôm. Ở giai đoạn ấu trùng tôm cá cần
nhiều vitamin C hơn giai đoạn trưởng thành, nó không những làm gia tăng tốc độ sinh
trưởng mà còn làm tăng sức đề kháng của ấu trùng (Dabrowski và ctv, 1988).
Đối với tôm càng, khả năng chống lại virus Vibrio harveyi sau 18 ngày thí
nghiệm với thức ăn vitamin C từ mức 0-40% AA/kg thức ăn thì sau một tuần tôm
chết từ 63-73% trong khi mức 1500 AA/kg thì không có tôm chết (Kontara và ctv,
1997). Kanazawa (1996) cho biết, vitamin C có ảnh hưởng đến khả năng chống lại vi
khuẩn của tôm he Nhật Bản giống, sau một tuần gây cảm nhiễm với vi khuẩn Vibrio
sp, ở lô thức ăn không có vitamin C tỷ lệ sống chỉ là 14%, trong khi ở lô 50 mg
AA/kg thức ăn tỷ lệ sống đạt 80%. Đối với tôm cá bố mẹ, khi bổ sung vitamin C vào
thức ăn có khả năng làm tăng tỉ lệ nở, khả năng chịu đựng của cá bột và ấu trùng.
Theo Viện nghiên cứu thủy sản quốc gia Mỹ (1993) hàm lượng vitamin C cần
thiết cho cá giống dao động trong khoảng từ 25-50 mg/kg thức ăn, trong khi đó mức
độ cho tôm được đề nghị bởi D’Abramo (1995) là 100 mg/kg thức ăn.
Để làm giảm sự hòa tan nhanh của vitamin C trong nước, người ta dùng
ethylcellulose để bao lấy các hạt vitamin C (thành thể AA bọc vỏ). Một thể khác của
AA bọc vỏ là dùng dầu để bao lấy hạt vitamin C hoặc dùng một số chất có màng chứa


vitamin C. Lớp mỡ sẽ ngăn chặn sự thấm nước và hoạt động của oxy trong suốt quá
trình chế biến và bảo quản. Thường dầu thực vật được sử dụng làm vỏ bọc cho
vitamin. Vitamin C dạng bọc vỏ có hàm lượng vitamin C hoạt tính cao từ 80 - 90% và
có thể lưu trữ trong vài tháng mà không bị oxy hóa (Gill, 1991). Phương pháp thành
công nhất trong việc gia tăng độ bền của vitamin C là nhóm phosphate như ascorbate2-mono phosphate (AMP), ascorbate-2-poly phosphate (APP) hay palmitic (ascorbyl6-palmitate, AP). Sự hiện diện của các nhóm này sẽ làm giảm khả năng tan trong
nước và bị oxy hóa của vitamin C.
Bảng 7.4: Sự ổn định Vitamin C trong thức ăn cá sau khi chế biến.
Dẫn xuất Phương thức sản Tỉ lệ mất đi Tác giả
Vitamic.
xuất
(%)
C
AA
Ép viên nóng
90
Shelbaek và ctv. (1990)
APP
Ép viên bằng hơi
5
Grant và ctv. (1989)
ECAA
Ép đùn
40-55
Lovell và Lim (1978)
FCAA
Ép đùn
43
Robinson (1992)
APP
Ép đùn
17
Robinson và ctv.(1989)
NaAA
Ép viên nguội
39
Soliman và ctv.(1987)
GCAA
Ép viên nguội
12
Soliman và ctv.(1987)
AS
Ép viên nguội
4
Soliman và ctv.(1987)
*(AA, L-ascorbic acid tinh; ECAA, ethylcellulose-coated ascorbic acid; FCAA, fatcoated ascorbic acid; APP, ascorbyl-2-polyphosphate; NaAA, ascorbic acid Natri;
GCAA, glyceride-coated ascorbic acid; AS, ascorbyl-2-sulfat)
3.2. Nhóm vitamin tan trong chất béo

TOP

Nhóm vitamin tan trong chất béo là vitamin A, D, E, và K. Nhóm này được
hấp thu qua ruột cùng với chất béo trong thức ăn. Vì vậy khi chất béo trong thức ăn
được hấp thu tốt thì tạo điều kiện cho nhóm vitamin này cũng được hấp thu tốt hơn.
Nhóm vitamin này sẽ tích lũy trong cơ thể khi được cung cấp vượt quá nhu cầu. Vì
vậy nhu cầu về nhóm vitamin này rất biến động và phụ thuộc vào lượng vitamin được
tích lũy trước đó của cơ thể động vật thủy sản.
3.2.1.Vitamin A
Vitamin A có hai dạng là vitamin A1 (rettinol) được tìm thấy ở động vật hữu
nhũ và động vật biển, vitamin A 2 (3-dehydroretinol còn được gọi là retinol 2) được
tìm thấy ở cá nước ngọt (Lehninger, 1975). Vitamin A cần thiết cho mắt, vận chuyển
Ca qua mang tế bào, thành thục và phát triển phôi. Ở giai đoạn cá giống thường rất
nhạy cảm với việc thiếu Vitamin A trong thức ăn, trong khi ở giai đoạn trưởng thành,
viamin A có thể được tích lũy nhiều trong gan nên ít bị ảnh hưởng hơn. Một vài loài
cá có thể chuyển đổi β-caroten thành vitamin A. Ở tôm vitamin A có hàm lượng cao ở
trong mắt. Một số loại như astaxanthin, carotenoids cũng là nguồn cung cấp vitamin
A cho tôm cá. Vitamin A có nhiều trong dầu cá. Do đó khi thức ăn cho tôm biển được
bổ sung dầu cá biển và carotenoid thì không cần cung cấp vitamin A.


Vitamin A cũng được chứng minh là cần thiết cho sự phát triển của buồng
trứng, buồng tinh và phôi của giáp xác. Điều này có thể được chứng minh qua sự tích
lũy vitamin A trong trứng của tôm trong quá trình thành thục (Fisher, 1985)
Hàm lượng vitamin A được đề nghị cho cá là 1000- 2000 UI/kg, trong khi ở
tôm thì yêu cầu cao hơn 5000 UI/kg thức ăn.
Dấu hiệu thiếu vitamin A ở cá là thiếu máu, xuất huyết mắt, mang, thận, màu
sắc cơ thể thay đổi...
Dạng vitamin A được sử dụng bổ sung vào thức ăn là acetace, palmitate,
propionate. Hàm lượng vitamin A bị mất đi khoảng 20% qua quá trình ép đùn, mất
53% sau thời gian bảo quản trong phòng 6 tháng.
3.2.2.Vitamin D
Vitamin D có hai dạng là Vitamin D2 ( engocalciferol) và vitamin D3
(cholecalciferol). Vitamin D3 có nhiều vitamin D hoạt tính hơn vitamin D2 và được
tìm thấy chủ yếu ở động vật. Vitamin D3 được sử dụng tốt hơn là vitamin D2.
Vitamin D có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển và hấp thu Ca và P. Khi bổ
sung thiếu hoặc thừa vitamin D đều làm ảnh hưởng đến động vật thủy sản.
Hàm lượng vitamin D cần bổ sung cho cá từ 500- 1000 UI/kg cho cá nước ấm,
cho tôm được đề nghị là 2000 UI/kg thức ăn. Khi thức ăn có bổ sung lượng dầu cá
lớn có thể không cần cung cấp vitamin D.
Dấu hiệu khi thiếu vitamin D ở tôm cá là sinh trưởng và hàm lượng khoáng
trong cơ thể giảm.
Dạng vitamin D thường được bổ sung vào thức ăn là vitamin D3
(cholecalciferol)
3.2.3. 3.2.3. Vitamin E
Vitamin E có tên hóa học là tocophenol. Vitamin E có một số dạng khác
nhau,trong đó dạng α - tocophenol là có chứa hàm lượng vitamin E hoạt tính cao
nhất. Một trong những chức năng sinh học của vitamin E là ngăn cản quá trình oxy
hóa chất béo cao phân tử không no (HUFA) của lipid trong màng tế bào sinh học.
Vitamin E có vai trò trong quá trình tổng hợp và hoạt động của các hormone sinh dục.
Nhu cầu vitamin tăng khi hàm lượng PUFA trong thức ăn cao. Nhu cầu
vitamin E ở cá khoảng 30-100 mg/kg và ở tôm là 100 mg/kg thức ăn
Dấu hiệu khi thiếu vitamin E ở cá là giảm sinh trưởng, tỉ lệ chết cao thoái hóa
cơ, tích mỡ trong gan… Đối với tôm biển, sức sinh sản và tỉ lệ nở của tôm giảm khi
10thức ăn được cung cấp thêm HUFA nhưng thiếu vitamin E. Mức đề nghị cho tôm biển
20mg/
0 ở giai đoạn nuôi vỗ là 600mg/kg thức ăn. Đối với cá chép hệ số thành thục cũng được
100g
40mg/E.
cải thiện khi thức ăn có bổ sung đầy đủ vitamin

100g

Vitamin E rất dễ phân hủy qua quá trình chế biến và bảo quản, đặc biệt là ở
10mg/
5 các nước vùng nhiệt đới. Vì vậy dạng vitamin E thường được sử dụng bổ sung vào
100g
0 thức ăn cho tôm cá là α - tocophenol acetace.

vết

0

2

4

6 gian
8
Thời

10


cho ăn (ngày)

Hình 7.2 Ảnh hưởng của vitamin E trong thức ăn lên tỉ lệ sống của tôm he

3.2.4. Vitamin K
Vitamin K có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu ở động vật và cả ở
cá. Thiếu vitamin K dẫn tới cá không có khả năng tổng hợp proconvertin và
prothrombin ở trong gan, đây là các chất cần thiết cho quá trình đông máu. Dạng
vitamin K được sử dụng tốt cho tôm cá lá vitamin K3
Nhu cầu vitamin K ở cá là 10 mg/kg thức ăn, ở tôm được đề nghị là 5 mg/kg.
Ở một số loài tôm khi cho ăn thiếu vitamin K thì sinh trưởng của tôm giảm.
Vitamin K được bổ sung vào thức ăn dưới dạng muối menadione, menadione
sodium bisulfite (50% vitamin K3), hỗn hợp menadione sodium bisulfite (33%
vitamin K3), menadione dimethylpyrimidinal (45.5% K3). Vitamin K bị phân hủy
dưới điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao và hàm lượng khoáng vi lượng cao
(anonymous, 1981).
Bảng 7.5. Nhu cầu vitamin cho một số loài tôm cá (mg/kg thức ăn)
Vitamin
Thiamin (B1)
Riboflavin (B2)
Pyridoxine (B6)
Pantothenate
Niacin( PP)
Folic acid
Cyanocobalamin (B12)
Inositol
Choline

Cá chép
1- 1- 3
7- 10
5- 10
30- 40
30- 50
200- 300
1500- 2000

Cá trơn Mỹ
1-3
9
3
25- 50
14
-

Cá hồi
10- 15
20- 25
15- 20
40- 50
150- 200
6- 10
0.015- 0.02
300- 400
600- 800

Tôm biển
60
25
50
75
40
10
0.2
400
600


Biotin
Vitamin C
Vitamin A(IU)
Vitamin D (IU)
Vitamin E
Vitamin K

1- 1- 1,5
30- 50
1000- 2000
80- 100
-

60
1000- 2000
500- 1000
30
-

2- 2- 1,5
100- 150
2000- 2500
2400
30
10

1
200
5000
2000
100
5

Bảng 7.6. Dấu hiệu bệnh lý khi thiếu vitamin của một số loài cá
Vitamin
Cá trơn
Cá chép
Lươn Nhật Bản
1. Thiamin
Sẫm màu, tỉ lệ chết
Xung huyết ở vây,
Mất điều hòa, cơ thể
cao
rối loạn, giảm khả
uốn khúc, xuất huyết
năng cảm nhận âm
ở vây
thanh
2. Riboflavin
Vây xuất huyết, sợ
Cồi cọc
Da và vây bị xuất
ánh sáng
huyết, có sự tử vong
3. Pyridoxine
Rối loạn
Rối loạn, màu sắc
Rối loạn
nhợt nhạt, tetany
4. Pantothenic
Mang sưng phòng,
thiếu máu, ăn mòn
da, tử vong, quẹo
hàm dưới

Tăng trương chậm.
thiếu máu, xuất
huyết da, lồi mắt

5. Niacin

Bơi lội bất bình
thường, tổn thương da

Xuất huyết da, tử
vong

Bơi lội bất bình
thường, tổn thương
da, sẫm màu

Thiếu máu, mất sắt
tố

Tăng trưởng chậm

Bơi lội bất bình
thường

Không phát hiện

Không phát hiện

Tăng trưởng chậm,
sẫm màu

Giảm khả năng tạo
máu

Không phát hiện

Tăng trưởng chậm

Da và cây bị tổn
thương, xuất huyết,
tử vong, lồi mắt
6. Biotin
7. Folic acid
8. Vitamin B12
9.Choline


10. Inoistol

Gan phì to, xuất
huyết trong thận và
ruột

11. Ascorbic acid

Mỡ bao bọc gan

Ruột màu trắng xám

Tổn thương da

Ruột màu trắng xám

Không kiểm tra

Vây đầu xuất huyết,
quẹo hàm dưới

Màu sắc kỳ quặc, lồi
mắt, vây và da xuất
huyết, mang biến
dạng

Không kiểm tra

Không phát hiện

12. Vitamin A

13. Vitamin D

Giảm khả năng tạo
keo trong xương, bị
sán, mẫn cảm với
bệnn, ưỡn mình.
Có nhiều chất lỏng
trong xoang của cơ
thể, lồi mắt

Không kiểm tra
14. Vitamin E

Trong xương thấp
khoáng chất

Không kiểm tra
Không kiểm tra

15. Vitamin K

Cơ quan nội tạng có
chất dịch rỉ, tử vong,
gan nhiều mỡ, mất
sắc tố, thiếu máu

Cơ thịt bị rối loạn
dinh dưỡng

Xuất huyết da

Không kiểm tra

Không kiểm tra

CHƯƠNG VIII


MUỐI KHOÁNG TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN
1. GIỚI THIỆU
2. CHỨC NĂNG CỦA MUỐI KHOÁNG
3. KHOÁNG ĐA LƯỢNG
3.1. Calci (Ca) và Phosphorus (P)
3.2. Magnesium (MG)
3.3. Các khoáng đa lượng khác
4. CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG
4.1. Sắt (Fe)
4.2. Cu
4.3. Kẽm (Zn)

1. GIỚI THIỆU

TOP

Đối với động vật hiện nay người ta xác định có 6 nguyên tố khoáng đa lượng
(Ca, Mg, P, Na và Cl) và 16 nguyên tố vi lượng là (As, Cr, Co, Cu, I, F, Fe, Mn, Mo,
Ni, Se, S, Si, Sn, Zn và V) là cần thiết cho cơ thể động vật. Trong nhóm khoáng vi
lượng chức năng sinh lý của Cr, Co, Cu, Fe, Mn, Mo, Se, Zn, F và I thì đã được
khẳng định, tuy nhiên vai trò của Ni, V, Si và As thì chưa được nghiên cứu. Tuy nhiên
các nghiên cứu cho thấy động vật thủy sản cần Ni, V, As nếu sinh trưởng trong nước
không có khoáng
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thiếu P, Ca, Mg, Fe, Zn, Cu, Mn và Se
đã được nghiên cứu trên một số loài tôm cá. Có rất nhiều trở ngại khi nghiên cứu về
nhu cầu khoáng cho động vật thủy sản là do động vật thủy sản có thể hấp thu khoáng
trực tiếp từ môi trường nước thông qua việc uống nước hoặc hấp thu qua mang, da...
Do đó rất khó xác định nhu cầu chính xác về khoáng cho động vật thủy sản.
Nhu cầu về khoáng cho động vật thủy sản phụ thuộc vào:
• 
• 
• 

Thành phần và hàm lượng khoáng hiệu quả trong thức ăn
Nồng độ khoáng trong môi trường nước
Tình trạng dinh dưỡng trước đó của động vật thủy sản

2. CHỨC NĂNG CỦA MUỐI KHOÁNG

TOP

  Thành phần cấu tạo của cơ thể như các nguyên tố đa lượng Ca, P, Mg
tham gia cấu tạo khung cơ thể.
  Có thể có vai trò cần thiết duy trì chức năng sinh lý bình thường
  Vai trò chất xúc tác cho phản ứng sinh hoá.


  Duy trì chức năng sinh lí thể hiện ở những muối kiềm ảnh hưởng đến sự
cân bằng acid và baze góp phần việc ổn định nồng độ thẩm thấu cơ thể cũng
như duy trì sự cân bằng nước.
  Dẫn truyền thần kinh và một số nguyên tố là thành phần cấu tạo một số
hormon như iod trong Thyroxine giúp cơ thể thích ứng điều kiện bên trong và
bên ngoài.
  Tham gia vào cấu tạo máu như Fe (hemoglobin), Cu (hemocyanin)
  Nồng độ thẩm thấu muối vô cơ trong cơ thể và môi trường ngoài khác
nhau lớn do đó cơ thể và môi trường luôn có quá trình trao đổi muối khoáng
thông qua da,mang, ruột...
3. KHOÁNG ĐA LƯỢNG
3.1. Calci (Ca) và Phosphorus (P)

TOP

Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành xương. Trong xương cá Ca chiếm tỉ
lệ cao. Ở vảy cá rô phi hàm lượng ca cũng chiếm đến 19 –21%. Hàm lượng Ca trong
một số loài cá giảm khi sinh sản và thức ăn thiếu Ca, điều này cho thấy Ca được hấp
thu từ vảy cho các hoạt động sinh lý. Tỉ lệ ca/P ở vảy và xương cá là 1.5 – 2.1 và tỉ lệ
Ca/P cả cơ thể là 0.7-1.6. Ngoài vai trò cấu trúc cơ bản của xương, Ca còn tham gia
vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất
thẩm thấu. Trong khi đó P có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng
trong cơ thể. P là chất cấu thành hợp chất cao năng Adenosine triphosphate (ATP),
Phospholipid, AND, ARN và một số coenzime. Vì vậy P tham gia vào quá trình trao
đổi năng lượng, điều khiển sinh sản, sinh trưởng …Phospho tham gia vào việc duy trì
ổn định pH trong cơ thể động vật thủy sản.
Đối với động vật trên cạn, Ca được lấy từ thức ăn, tuy nhiên ở động vật thủy
sản, đặc biệt là động vật biển có khả năng hấp thu Ca từ việc uống nước hoặc hấp thu
qua mang, da. Đối với cá biển sẽ hấp thu một lượng khoáng rất lớn từ nước biển như
Ca, Na, Cl, và Mg, nhưng rất ít P (Spoltte, 1970). Hàm lượng Ca hấp thu được ở cá
biển khoảng 40 – 52% so với lượng cung cấp từ thức ăn. Trái lại cá nước ngọt hầu
như không lấy được Ca từ thức ăn vì chúng ít uống nước. Khi hàm lượng P trong
nước biển thấp ít hơn 0.1 mg/l, do đó lượng P mà cá lấy được từ nước biển chỉ
khoảng 1% so với lượng P lấy từ thức ăn.
Như vậy, sự hấp thụ Ca có thể được cá tự điều chỉnh thông qua sự gia tăng hấp
thu từ môi trường nước chỉ khi nào nước quá mềm và thức ăn không cung cấp đủ Ca
thì vấn đề thiếu hụt Ca mới xảy ra. Do đó nhu cầu Ca của cá ít được chú ý tuy nhiên
cá được nuôi trong môi trường nước thật mềm lượng Ca trong thứcăn cũng rất cần
lưu ý vì hàm lượng Ca trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.
Trái ngược với Ca, P hầu như được lấy chủ yếu từ thức ăn, tỉ lệ P hấp thụ từ môi
trường nước rất thấp chỉ đạt 1/40 so với Ca. Lượng phosphorus hấp thu từ môi trường


nước lệ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường, thức ăn, hàm lượng Ca trong nước và
giống loài thủy sản có một ảnh hưởng đến sự hấp thu P
Dấu hiệu thiếu P chủ yếu là giảm sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khoáng
trong xương, vảy, vỏ. Ngoài ra ở cá chép còn có dấu hiệu tăng hàm lượng mỡ, giảm
lượng nước trong cơ thể và lượng P trong máu.
@ Các dạng Ca và P động vật thủy sản có thể sử dụng:
Khả năng sử dụng và hấp thu Ca phụ thuộc vào dạng và hàm lượng Ca,
thành phần của thức ăn và cấu trúc hệ thống tiêu hóa của động vật thủy sản. Ở cá
chép khi hàm lượng Ca trong thức ăn là 0.68% thì cá có thể hấp thu được 58% (dạng
calcium lactate), 37% (tribasic calcium phosphate) và 27% ( calcim carbonat). Khả
năng hấp thu Ca của ĐVTS tăng khi sử dụng dạng Ca hòa tan. Khả năng hấp thu Ca
sẽ giảm 20-34% khi hàm lượng P tăng cao trong thức ăn.
Giống như Ca, hiệu quả sử dụng và hấp thu P phụ thuộc vào dạng P được sử
dụng, hàm lượng Ca và loài cá. Dạng monobasic phosphote Na và monobasic
phosphote K là dạng được sử dụng hiệu quả nhất đối với cá chép, rôphi, cá da trơn và
cá hồi. Khả năng sử dụng hỗn hợp Calci phophate thì biến động rất lớn. Dạng
monobasic calci phosphate thì được sử dụng hiệu quả nhất.
Trong khi dạng dibasic và tribasic thì ít hiệu quả hơn. Tuy nhiên khả năng sử
dụng các dạng P cũng thay đổi tùy theo loài. P trong bột cá có hiệu quả sử dụng đối
với cá khoảng 40%. P trong casein và men được sử dụng rất tốt bởi cá chép, cá da
trơn. Đối với P của thực vật hầu như động vật thủy sản không sử dụng được hoặc
hiệu quả sử dụng rất kém. P từ bột đậu nành được cá sử dụng 29-54%.
Tỉ lệ Ca/P được đề nghị cho một số loài đã được đề nghị: 0.56/1.1 cho tôm
hùm, 1:1 cho tôm he Nhật bản, 1: 1 hoặc 1:1.5 ở tôm sú. Mức Ca tối đa cho tôm là
2.3% trong thức ăn. Mức P từ 1-2%. Ở cá mức P được đề nghị là 0.29-0.8 tùy thuộc
vào loài và dạng P sử dụng.
Bảng 8.1. Giá trị sử dụng của các nguồn phosphorus đối với tôm cá
Dạng sử dụng
Mono basic Calcium phosphate
Di basic Calcium phosphate
Tri basic Calcium phosphate
Mono basis Potassium phosphate
Mono basis sodium phosphate
3.2. Magneium (MG)

Cá trơn

Cá chép

94 %
65 %
-

94%
46%
13%
-

Tôm thẻ chân
trắng
46.5
19.4
9.9
68
68.2
TOP


Mg được xác định là cần thiết cho một số loài tôm cá. Chức năng chủ yếu của
Mg là giữ vai trò quan trọng trong các phản ứng phosphoryl hóa và một số hệ thống
enzyme. Trong gan, Mg tham gia vào việc tăng hoạt lực biến dưỡng. Hàm lượng Mg
trong nước biển tiêu chuẩn khá cao 1.350 mg/l và giáp xác và cá biển có khả năng
hấp thu và đào thải lượng Mg dư ra khỏi cơ thể. Hàm lượng Mg trong máu nhóm này
thường thấp hơn môi trường ngoài và có thể chúng không cần cung cấp từ thức ăn
(Dall, 1983). Tuy nhiên, ở môi trường nồng độ muối thấp hoặc môi trường nước ngọt
thì tôm cá cần được cung cấp Mg từ thức ăn. Ở tôm thẻ chân trắng khi bổ sung
0.12% thức ăn tôm sẽ sinh trưởng tốt hơn (Liu, 1997), tôm he được đề nghị mức
0.3%
Một vài dấu hiệu bệnh lý khi thiếu Mg ở cá da trơn như giảm sinh trưởng, Đối
với cá khi thiếu Mg, giảm ăn, lờ đờ, tỉ lệ chết cao và hàm lượng Mg tích lũy trong cơ
thể giảm. Nhu cầu Mg ở cá cũng phụ thuộc vào hàm lượng Mg có trong nước, khi
hàm lượng Mg trong nước khoảng 1.35 – 3.5 g/lít thì nhu cầu Mg khoảng 0.04 g/kg
thức ăn
3.3. Các khoáng đa lượng khác

TOP

Các khoáng đa lượng như Na, Cl và K thì cần thiết cho các hoạt động sinh lý
của cơ thể động vật thủy sản. Tuy nhiên trong nước ngọt và nước biển đều có nhiều
các nguồn khoáng này, đặc biệt là nước biển. Chức năng chủ yếu là duy trì cân bằng
áp suất thẩm thấu của cơ thể, cần bằng acid – bazơ, dẫn truyền thần kinh, duy trì cấu
trúc màng tế bào.
Nhiều nghiên cứu cho thấy không cần bổ sung Na và Cl vào thức ăn. Khi hàm
lượng muối quá cao trong thức ăn (> 2%) có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của một
số loài cá. Ở tôm he, hàm lượng K yêu cầu từ thức ăn là 0.9-1%. Tuy nhiên nhiều
nghiên cứu cho thấy do K có sẵn trong nước biển, trong nhiều nguồn nguyên liệu chế
biến thức ăn do đó không cần phải bổ sung dưới dạng khoáng vào thức ăn.
Đối với cá nước ngọt, hàm lượng K đôi khi không đủ, do đó cá cần một nhu
cầu K trong khoảng 0.3 – 0.8% tuỳ theo môi trường có nhiều hay ít K.
Bảng 8.2. Nhu các muối khoáng đa lượng trên một số loài cá (g/kg)
Giống loài
Cá trơn Mỹ
Cá chép
Cá rô phi
Cá hồi ( Salmo gairdneri)
Cá chình (Anguiila anguiila)
Cá vền biển(Chrysophrys major)
* Cá nuôi trong nước không có Ca

Phosphorus
0.45
0.65
0.90
0.5-0.8
0.3

Calci Magnesium
0.45*
0.04
0.3
0.05
0.65*
0.06
0.05
0.05.
0.14
0.34

K
0.26


4. CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG

TOP

Một số nguyên tố hiện diện với một số lượng rất nhỏ (10-12%) nhưng có ảnh
hưởng một cách rõ rệt đến các quá trình trao đổi chất cơ thể đó là nguyên tố vi lượng
(như Fe,Cu, Zn,.. .)
Bảng 8.3. Nhu cầu một số khoáng vi lượng của một số tôm cá (ppm)
Loài
Zn
Mn
Co
Cu
I
Fe Se
Cá hồi
20
6
Cá trơn Mỹ
20
2.4
5
0.6
0.25
Cá chép
15-30
13
3
30
Cá phi
25
12
0.10
3.5
150
Tôm thẻ chân trắng
16-32
0.2-0.4
4.1.

Sắt (Fe)

TOP

4.1.
Fe trong cơ thể tồn tại ở dạng hợp chất hữu cơ như Hemoglobin hay có thể ở dạng
vô cơ như Fe dạng dự trữ. Fe giữ vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp. Thiếu Fe
cá sẽ giảm lượng hồng cầu và gan vàng. Trong khẩu phần thức ăn, Fe ở dạng vô cơ dễ
hấp thu hơn Fe hữu cơ và Fe có hoá trị thấp hấp thu nhanh hơn Fe có hoá trị cao.
Động vật thủy sản có thể hấp thu sắt qua môi trường. Trong thức ăn có nguồn gốc
động vật có nhiều Fe thích hợp cho sự hấp thu của động vật thủy sản. Hàm lượng Fe
được đề nghị bổ sung vào thức ăn cho cá khoảng 60- 150 ppm
4. 2. Cu

TOP

Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hoá và có vai trò quan trọng trong sự
hô hấp, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), kích thích quá trình sử dụng Fe và là
chất xúc tác cho việc tạo thành Hemoglobin (Hb). Đối với giáp xác dấu hiệu thiếu Cu
là tôm giảm sinh trưởng, giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy. Ở cá thiếu đồng
cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và dễ bị nhiễm bệnh. Hàm lượng Cu đề nghị cho
tôm là 16-32 mg/kg thức ăn. hàm lượng Cu trong bột cá khá cao và là nguồn cung
cầp Cu tốt cho động vật thủy sản.
4.3. Kẽm (Zn)

TOP

Kẽm là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng
hydrat hoá ) làm tăng khả năng vận chuyển CO 2. Ngoài ra Carbonicanhydrase còn
kích thích tiết HCl trong dạ dày. Khi thiếu Kẽm tôm cá giảm tăng tưởng và giảm sức
sinh sản. Nhu cầu kẽm cho cá từ 15 – 25 mg/kg. Và tôm là 15-20mg/kg thức ăn


Bảng 8.4. Tóm tắt nguồn gốc và vai trò chức năng một số khoáng vi lượng
Vi lượng
Fe (Sắt)

Nguồn cung cấp
-Môi trường nước(-)
-Thức ăn gốc động vật như bột cá
-FeCl2, FeSO4
-Citrate
Cu ( Đồng)
-Môi trường nước(-)
-Thức ăn gốc động vật như bột cá
Kẽm(Zn)
-Môi trường nước(-)
-ZnSO4
- Thức ăn gốc động vật như bột cá
Mangan(Mn) -Môi trường nước(-)
-MnSO4
- Thức ăn gốc động vật như bột cá

Selenium(Se) -Môi trường nước(-)
-Na2SeO4
-Bột cá

Triệu chứng khi thiếu hụt
-Giảm lượng hồng cầu
-Gan vàng
-Giảm tăng tưởng
-Dễ cảm nhiễm bệnh
-Giảm tăng tưởng
-Giảm sức sinh sản
-Giảm tăng tưởng
-Giảm sức sinh sản
-Biến dạng cột sống
-Giảm hoạt tính một
enzyme

số

-Ôi dầu
-Giảm khả năng đề kháng
bệnh
-Giảm khả năng một số
enzyme

Bảng 8.5: Nhu cầu khoáng được đề nghị cho tôm biển
Khoáng
Khoáng đa lượng
Ca
P (hấp thu)
Mn
K
Khoáng vi lượng(mg/kg)
FE
Cu
Zn
Mg
Se
Co

Yêu cầu
tối đa 2.3%
0.8%
0.2%
0.9%
tối đa 200 mg
35 mg
150 mg
20 mg
1 mg
0.05 mg


CHƯƠNG IX
NGUYÊN LIỆU CHẾ BIẾN THỨC ĂN THỦY SẢN
1. GIỚI THIỆU
2. NHÓM NGUYÊN LIỆU CUNG CẤP PROTEIN
2.1. Nhóm protein động vật
2.2. Nhóm protein thực vật

2.3. Một số nhóm cung cấp protein khác
3. NHÓM NGUYÊN LIỆU CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG
3.1. Nhóm cung cấp tinh bột
3.2. Dầu động thực vật
4. CÁC CHẤT PHỤ GIA
4.1. Chất kết dính
4.2.Chất chống oxy hóa
4.3. Chất kháng nấm
4.4. Chất tạo mùi (chất dẫn dụ)
4.5. Sắc tố
4.6. Premix vitamin - khoáng
4.7. Enzime tiêu hóa
4.8. Acid amin tổng hợp
5. CÁC CHẤT PHẢN DINH DƯỠNG VÀ CÁC CHẤT ĐỘCTRONG NGUYÊN
LIỆU CHẾ BIẾN THỨC ĂN THỦY SẢN

I. GIỚI THIỆU

TOP

Chất lượng nguyên liệu là vấn đề then chốt trong thức ăn thủy sản. Lựa chọn
nguyên liệu thích hợp để phối chế thức ăn cho động vật thủy sản cần phải hội đủ hai
điều kiện cơ bản là chất lượng và giá thành. Vì vậy việc hiểu biết về thành phần, tính
chất của từng loại nguyên liệu sử dụng trong phối chế thức ăn là rất cần thiết.
Trong sản xuất thức ăn cho động vật người ta thường phân chia theo khối
lượng và mục đích sử dụng. Trong công thức thức ăn, các nguồn nguyên liệu được
phân chia như sau:







 Nhóm cung cấp đạm: bột cá, bột tôm, bột đậu nành …
 Nhóm cung cấp năng lượng: cám, tấm, bột mì…
 Nhóm cung cấp chất khoáng: bột xương, bột sò, premix khoáng
 Nhóm cung cấp vitamin: bao gồm nhiều loại vitamin có thể có trong
nguyên liệu hoặc premix vitamin
•  Nhóm chất bổ sung: nhóm chất hỗ trợ dinh dưỡng, nhóm chất bảo quản và
duy trì giá trị dinh dưỡng, nhóm chất hỗ trợ tiêu hóa, tăng trưởng….
2. NHÓM NGUYÊN LIỆU CUNG CẤP PROTEIN

TOP

Nhu cầu protein của động vật thủy sản khoảng 25-55%, cao hơn nhiều so với
gia súc và gia cầm. Chính vì vậy trong chế biến thức ăn thủy sản, nguồn nguyên liệu
cung cấp protein luôn là yếu tố được quan tâm đầu tiên.
Nguyên liệu cung cấp protein có hàm lượng protein lớn hơn 30%, được chia
làm hai nhóm phụ thuộc vào nguồn gốc: protein động vật và protein thực vật.
2.1. Nhóm protein động vật

TOP

Nguồn protein động vật có hàm lượng protein từ 50% trở lên và thường được
động vật thủy sản sử dụng hiệu quả hơn nguồn protein thực vật. Các nguồn protein
động vật thường được sử dụng trong thức ăn thủy sản là: Bột cá, bột đầu tôm, bột
huyết, bột mực, bột nhuyễn thể…., trong đó bột cá được xem là nguồn protein thích
hợp nhất cho tất cả các loài tôm cá nuôi.

2.1.1. Bột cá
Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho các loài tôm cá. Bột cá có hàm
lượng protein cao, trung bình từ 45 –60%, có loại hơn 70% và chủ yếu được làm từ
cá biển. Bột cá chứa đầy đủ các acid amin cần thiết cho động vật thủy sản (EAAI:
>0.92). Đặc biệt trong thành phần lipid của bột cá có nhiều acid béo cao phân tử
không no (HUFA). Trong bột cá có hàm lượng vitamin A và D cao và thích hợp cho
việc bổ sung vitamin A trong thức ăn. Bột cá làm cho thức ăn trở nên có mùi hấp dẫn
và tính ngon miệng của thức ăn. Hàm lượng khoáng trong bột cá luôn lớn hơn 16%
và là nguồn khoáng được động vật thủy sản sử dụng hiệu quả. Năng lượng thô của
bột cá khoảng 4100-4200 kcalo/kg. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy trong bột cá
có chứa chất kích thích sinh trưởng, đây là nguyên nhân chính khi thay thế bột cá
bằng các nguồn protein động vật khác kết quả không hoàn toàn đạt được như sử dụng
bột cá.
Tuy nhiên một vấn đề gặp phải ở bột cá trong chế biến thức ăn là: trong một số
bột cá có thể chứa chất kháng vitamin B1 (thiaminase), giá thành cao và nguồn
nguyên liệu rất biến động.


Bột cá được chia làm hai loại: bột cá nhạt (độ mặn dưới 5%, protein >50%) và
bột cá mặn. Trong chế biến thức ăn cho động vật thủy sản chỉ sử dụng bột cá nhạt.
Bột cá thường được làm từ cá trích, cá mòi và cá cơm. Chất lượng bột cá phụ thuộc
vào loài, độ tươi của nguyên liệu tươi, phương thức chế biến và bảo quản

Bảng 9.1 : Thành phần sinh hóa (%) của một số
loại bột cá
Nguồn bột cá
Cá Anchovy
Cá trích
Cá mòi
Cá trắng
Bột cá Peru
Bột cá Kiên giang

Protein
65
72.7
62.6
65
66.9
59.2

Lipid
9
9.1
10.1
5
0.67
8.24

Khoáng
16
10.1
19.2
20
15.2
24.5


0.7
0.13
0.12

Ẩm độ
10
8.1
8.1
10
8.7
8.2

2.1.2. Bột đầu tôm:
Bột đầu đầu tôm là sản phẩm của các nhà máy chế biến thuỷ sản, bột đầu
tôm cung cấp vào thức ăn ngoài mục đích cung cấp protein còn là nguồn cung cấp
khoáng và một số chất dinh dưỡng khác. Bột đầu tôm không được xem là nguồn cung
cấp protein chính cho động vật thủy sản do hàm lượng protein thấp 35-40%. Bột đầu
tôm thường được sử dụng trong chế biến thức ăn cho tôm. Bột đầu tôm là nguồn cung
cấp khoáng, chlesterol, astaxanthin cho tôm. Hàm lượng astaxanthin trong bột đầu
tôm (>100ppp). Ngoài ra bột đầu tôm giàu chitin là chất cần thiết cho quá trình hình
thành vỏ của tôm. Mục đích bổ sung bột đầu tôm vào thức ăn cũng nhằm cải thiện
mùi vị hấp dẫn của thức ăn. Chất lượng của bột đầu tôm rất biến động phụ thuộc vào
loài, phương thức chế biến và bảo quản. Đối với thức ăn cho tôm không nên bổ sung
quá 15% vào công thức ăn
2.1.3. Bột thịt, bột thịt xương
Bột thịt có hàm lượng protein cao tương đương bột cá (50-60%). Bột thịt
xương thì có hàm lượng protein thấp hơn. Hàm lượng protein của hai loại này phụ
thuộc vào chất lượng nguồn gốc nguyên liệu chế biến. Bột thịt thường được chế biến
từ sản phẩm của lò mổ, bao gồm tất cả những phần không dùng làm thức ăn cho
người như: ruột già, gân, móng, thức ăn trong dạ dày, gân, móng và lông. Nhìn chung
giá trị protein của cả hai loại bột này đều không cao, hàm lượng methionin thấp nên
hiệu quả sử dụng không cao khi làm thức ăn cho động vật thuỷ sản. hàm lượng Ca ở
bột thịt xương (8.8 –12%) cao hơn bột thịt (Ca <3%). Hàm lượng bột thịt xương
được đề nghị sử dụng trong thức ăn cho tôm không quá 15%.
2.1.3. Bột huyết
Bột huyết là sản phẩm của lò mổ gia súc. Bột huyết có hàm lượng protein
rất cao, lớn hơn 80%. Bột huyết rất giàu lysine (9-11%), tuy nhiên thiếu Isoleusine và
Methionin. Khả năng tiêu hóa bột huyết của động vật thuỷ sản thấp. Protein và acid


amin trong bột huyết dễ bị phân hủy trong quá trình chế biến. Bột huyết rất dễ bị hư
trong quá trình tồn trữ. Hàm lượng bột huyết được đề nghị sử dụng trong thức ăn cho
tôm không quá 10%.
2.1.3. Bột phụ phẩm gia cầm và bột lông vũ
Bột phụ phẩm phẩm gia cầm là sản phẩm của lò mổ gia cầm: lông, ruột , phổi…
Hàm lượng protein khoảng 58 –60%, lipid 13 –15%. Độ tiêu hóa protein thấp hơn
70% Bột lông vũ có thành phần chủ yếu là protein nên hàm lượng protein đạt 8085%. Tuy nhiên thành phần protein chủ yếu là keratin có độ tiêu hóa rất thấp, do đó
bột lông vũ không qua xử lý hầu như không sử dụng được. Bột lông vũ qua xử lý
bằng hơi nước hoặc acid có thể được sử dụng, tuy nhiên bột này thiếu methionin lẫn
lysine. Protein của bột lông vũ mà cá có khả năng tiêu hóa thấp (khoảng 50%).

Bảng 9.2: Thành phần sinh hoá một số nguồn
protein động vật
Nguồn

Chất khô

Protein

Lipid



Bột thịt
Bột lông vũ
Bột đầu tôm
Bột máu
Bột nhuyễn
thể

94
93
88
93
92

50.9
83.3
39.5
93
34.8

9.7
5.4
3.2
1.4
2.1

2.4
1.2
12.8
1.1
11.6

2.2. Nhóm protein thực vật:

Muối
khoáng
29.2
2.9
27.2
7.1
44.66
TOP

Nguồn cung cấp protein thực vật quan trọng là những hạt có dầu như đậu
nành, đậu phộng (lạc), hạt bông vải…Nhóm protein thực vật hiện nay được sử dụng
nhiều trong thức ăn thuỷ sản với mục đích thay thế nguồn protein bột cá, nhằm giảm
giá thành thức ăn. Tuy nhiên khi sử dụng các nguồn protein thực vật sẽ gặp phải một
số trở ngại như: độ tiêu hóa thấp, thường chứa các chất kháng dinh dưỡng và độc tố,
không cân đối về acid amin, thường thiếu lysin và methionin.
2.2.1.Bột đậu nành
Bột đậu nành được xem là nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá tốt nhất
trong thức ăn cho động vật thuỷ sản. Nhiều nghiên cứu cho thấy bột đậu nành có thể
thay thế 60-80% bột cá trong khẩu phần thức ăn, ở cá rô phi O. niloticus có thể thay
thế 100%. Trong thức ăn cho tôm bột đậu nành có thể được sử dụng đến 25%.
Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật hiện nay chủ yếu là bột
đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khoảng 47-50%, lipid không quá 2%. Bột


đậu nành thiếu methionin, cystin, chỉ số acid amin thiết yếu (EAAI) của bột đậu nành
đối với tôm sú là 0.87.
Hạn chế của bột đậu nành là bột đậu nành chứa nhiều loại độc tố đặc biệt là
chất ức chế enzime tiêu hóa protein : anti – trypsine, chất này ức chế hoạt động của
enzime tiêu hóa protein là trypsin và chymontrypsine. Các anti-tripsine mất hoạt tính
khi quan sử lý nhiệt ở 105 oC trong 30 phút, tuy nhiên giá trị dinh dưỡng của protein
của đậu nành sẽ giảm. Việc sử lý này cũng giúp làm phân hủy chất haemagglutinin
trong đậu nành, đây là chất có tác dụng gắn với Hb của hồng cầu làm ảnh hưởng đến
khả năng vận chuyển Oxy của Hb.
2.2.2. Bánh dầu đậu phộng (lạc)
Bánh dầu đậu phộng là phụ phẩm của quá trình ép dầu. Tùy theo công nghệ ép
mà chất lượng bánh dầu khác nhau. Hàm lượng protein của bánh dầu đậu phộng
khoảng 45%. Hàm lượng chất béo khoảng 2% (ép công nghiệp ), 8-10% (ép thủ
công). Thành phần và hàm lượng acid amin của bánh dầu đậu phộng không tốt bằng
bánh dầu đậu nành. Bánh dầu đậu phộng thiếu methionin và lysis.
Một hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng bánh dầu đậu phộng là dễ bị mọc
nấm Aspergilus flavus. Nấm này tiết ra độc tố aflatoxine và hàm lượng aflatoxin
trong bành dầu đậu phộng thường rất cao. Đây là loại độc tố làm ảnh hưởng đến sinh
trưởng, tỉ lệ sống và gây độc cho động vật thủy sản.
2.2.3. Bánh dầu bông vải
Bánh dầu bông vải hiện đang được một số nơi sử dụng làm thức ăn cho động
vật nuôi. Đặc điểm của bánh dầu bông vải là có hàm lượng protein 40 - 50%, hàm
lượng lipid 4-5%, hàm lượng xơ khá cao (>12%). Hàm lượng acid amin Cystin,
Methionin, lysine, Ca và PO4 của bánh dầu bông vải thì thấp, nhưng giàu vitamin B1.
Ngoài ra bánh dầu bông vải chứa 0.03-0.2% gossypol, chất này ức chế hoạt động của
men tiêu hóa và giảm tính ngon miệng của thức ăn đối với động vật thủy sản.
Bảng 9.3 : Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật

Thành phần
Trọng lượng khô
Protein
Lipid
Trích không đạm
Khoáng
Năng lượng thô
(MJ/kg)
Năng lượng tiêu hóa
(MJ/kg)

Bánh dầu
đậu nành
88
45-48
1.9
28.5
6.2
17.5

Bánh dầu
bông vải
91
41
1.4
29.1
6.5
17.9

Bánh dầu
dừa
90
21.5
1.6
43.9
7.0
16.1

Bánh dầu
đậu phộng
89
45-48
1.1
4.5
-

13.5

9.1

-

-


TOP

2.3. Một số nhóm cung cấp protein khác

Trong thức ăn sử dụng nuôi thủy sản, một số nguồn protein như nấm men, tảo
đơn bào cũng là nguồn cung cấp protein cho động vật thủy sản. Các nguồn nguyên
liệu này có thể được sử dụng trực tiếp làm thức ăn cho động vật thủy sản hoặc gián
tiếp thông qua việc làm nguồn thức ăn để nuôi các động vật sống làm thức ăn cho cá
như luân trùng, artemia….
2. 3. NHÓM NGUYÊN LIỆU CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG
Nhóm nguyên liệu cung cấp năng lượng gồm có nhóm cung cấp carbohyrat
(chủ yếu là nhóm thực vật cung cấp tinh bột) và nhóm dầu mỡ (dầu động vật và thực
vật)

TOP

3.1. Nhóm cung cấp tinh bột

Tinh bột là thành phần chủ yếu trong mô của các loại khoai củ, ngũ cốc và phụ
phẩm nông nghiệp như cám gạo, cám mì…
Đặc điểm chung của nhóm cung cấp tinh bột:
•  Hàm lượng protein thấp (không quá 20%), acid amin không cân đối
•  Lipid thấp khoảng từ 2-5%. Tuy nhiên cám gạo có hàm lượng lipid cao
10-15%.
•  Hàm lượng chất xơ cao, đặc biệt là cám gạo, hàm lượng xơ biến động từ
11- 20% tùy theo chất lượng cám do đó ít được sử dụng làm thức ăn cho tôm.
•  Hàm lượng khoáng trong nhóm này thấp và không thích hợp cho động vật
thủy sản.
Khả năng sử dụng các nguồn tinh bột làm thức ăn cho động vật thủy sản tùy
thuộc vào đối tượng nuôi. Đối với nhóm ăn thiên về động vật, lượng tinh bột không
sử dụng quá 20%. Trong các nguồn tinh bột thì nguồn tinh bột từ bột mì được xem là
nguồn tinh bột tốt nhất làm thức ăn cho tôm. Hạn chế sử dụng bột bắp, cám gạo làm
thức ăn cho tôm.
Cám gạo li trích dầu hiện cũng đang được sử dụng làm thức ăn cho nuôi thủy
sản. Ưu điểm của nó là có hàm lượng protein cao hơn và lipid thấp hơn so với cám
gạo thường, do đó thuận lợi hơn cho việc phối chế vào công thức thức ăn cho động
vật thủy sản.
Bảng 9.4 : Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột:

Nguồn
Bắp vàng

Độ khô
88

Protein Lipid
8.5
3.6


2.3

Khoáng
1.3


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×