Tải bản đầy đủ

chính sách quy hoạch về đất đai

PHẦN I. MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá có vai trò to lớn trong sự
nghiệp phát triển của mỗi quốc gia. Với áp lực phát triển kinh tế xã hội, biến đổi khí
hậu làm cho thế giới ngày càng nóng lên khiến băng ở hai cực tan ra, mực nước biển
tăng cao nhấn chìm một bộ phận đất đai không nhỏ cộng thêm sự bùng nổ dân số và
hiện trạng sử dụng đất như hiện nay có thể thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng
suy thoái, khan hiếm. Từ đó, đòi hỏi phải có sự tính toán, phân bổ hợp lý để sử dụng
nguồn lực tối đa từ đất đai, đồng thời bảo vệ được nguồn tài nguyên giới hạn này. Hoà
chung với tiến trình của toàn thế giới, Việt Nam sử dụng quy hoạch sử dụng đất đai là
nền tảng. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Chính sách quy hoạch về đất đai”.

PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin thứ cập: Tài liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm những
thông tin liên quan về cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch đất đai thu thập từ
sách, báo, internet, các báo cáo địa phương.
2. Phương pháp phân tích thống kê
Thống kê mô tả: Mô tả tình hình đất đai đất đai hiện nay
3. Quan sát: quan sát quá trình thực thi chính sách quy hoạch về đất đai.


PHẦN III. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Khái niệm chính sách

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính
phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện


các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh
vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường.
2. Khái niệm về đất đai
- Định nghĩa đất là gì? đối với các nhà Địa Lý: Đối với nhà địa lý nó là cảnh quan,

-

một sản phẩm của quá trình địa chất địa mạo.
Khái niệm đất đai là gì? Đối với các những Luật gia

Đối với những luật gia đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm
trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau
quyết định những gì có thể thực hiện được với đất.
-

Khái niệm đất đai theo Land: Là phần tơi xốp của lớp vỏ trái đất mà trên đó có các
hoạt động của sinh vật, độ dày thường được quy định từ 120-150cm kể từ lớp đất
mặt. Ở những nơi có tầng đất mỏng thì được tính từ lớp đá mẹ hay tầng cứng rắn
mà dễ cây không thể xuyên qua được trở lên, có khi chỉ 10-20cm.

-

Theo luật đất đai năm 2013: Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi gianh

giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ.
3. Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử
dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi
trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng
đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính
trong một khoảng thời gian xác định.



PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
• Thực trạng quy hoạch ,kế hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp
quốc gia đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 17/2011/QH13. Bộ TN&MT
đã đôn đốc, tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương và Bộ trưởng đã ký
thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ Báo cáo số 190/BC-CP ngày 15/5/2013 của
Chính phủ gửi Quốc hội và Báo cáo số 193/BC- CP ngày 06/6/2014 của Chính phủ
trình Quốc hội về kết quả kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo
Nghị quyết số 17/2011/QH13 của Quốc hội. Cụ thể như sau:
- Đối với cấp tỉnh: Bộ đã trình Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho 63/63 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương.
- Đối với cấp huyện: có 352 đơn vị hành chính cấp huyện được Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 49,93%); có 330 đơn vị hành
chính cấp huyện đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 46,81%);
còn lại 23 đơn vị hành chính cấp huyện chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất (chiếm 3,26%).
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm quyền xét duyệt
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907 đơn vị hành chính cấp xã
đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 26,06%); còn lại 1.733


đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm
15,53%).
-Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ
cuối (2016- 2020): Bộ Tài nguyên và môi trường đã triển khai việc điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ cuối (20162020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 08/CT-TTg
ngày 20/5/2015.
-Đến hết tháng 6 năm 2015 đã có 06 Bộ, ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết quả thực
hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất giai đoạn 20162020 và còn một số tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo. Kế hoạch tổ chức và thực hiện
việc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) các cấp. đã được thành lập. Điển
hình như, Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố vừa thông qua Nghị quyết về việc
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ
cuối (2016-2020) của Thành phố.
- HĐND Thành phố nhất trí thông qua điều chỉnh chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020 với diện tích, cơ cấu các loại đất cụ thể như sau: Đất rừng: điều chỉnh tăng
4.346ha so với chỉ tiêu phân bổ, trong đó đất rừng phòng hộ tăng 589ha; đất rừng đặc
dụng giảm 2.347ha; đất rừng sản xuất tăng 3.766ha so với chỉ tiêu phân bổ. Đối với
đất quốc phòng giảm 1.425ha, đất an ninh điều chỉnh tăng lên 627ha đến năm 2020.
Đất xây dựng khu, cụm công nghiệp, điều chỉnh giảm 1.316ha. Với đất bãi thải, xử lý


chất thải, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 là 647ha, giảm 2.762ha. Đất
ở tại đô thị, khu đô thị được điều chỉnh tăng 2.928ha, đất ở nông thôn được điều chỉnh
tăng 207ha. Đồng thời, HĐND Thành phố cũng nhất trí thông qua kế hoạch sử dụng
đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) Thành phố Hà Nội với diện tích các loại đất phân bổ
trong năm. Kế hoạch cụ thể như sau:
+ Đất nông nghiệp cho năm 2016: 190.732,67ha; năm 2017: 186.404,65ha; năm 2018:
182.564,38ha; năm 2019: 179.930,97ha; năm 2020: 174428,54ha. Đất phi nông nghiệp
cho năm 2016: 139.336,95 ha; năm 2017: 144.473,93ha; năm 2018: 149.589,61ha;
năm 2019: 153.364,09ha; năm 2020: 159.716,20ha. Đất chưa sử dụng cho năm 2016:
5.831,50ha; năm 2017: 5.022,53ha; năm 2018: 3.747,13ha; năm 2019: 2.606,06ha;
năm 2020: 1.756,38ha. HĐND Thành phố yêu cầu UBND Thành phố thực hiện phân
bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các quận, huyện, thị xã; tổ chức phê duyệt điều chỉnh Quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020)
Thành phố Hà Nội.
+ Thực tế quá trình tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã và đang đạt
được nhiều chỉ tiêu sử dụng đất quan trọng, góp phần to lớn trong việc thực hiện các
chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh. Như tại Tuyên
Quang, theo Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường Tuyên Quang, ông Phạm
Văn Lương cho biết, kế hoạch sử dụng đất 2016 là xác định nhu cầu sử dụng đất cho
các ngành, lĩnh vực, để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an
ninh năm 2016.


+ Đây là căn cứ để thực hiện thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng, giao đất, cho thuê
đất, phát huy nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo vệ môi
trường sinh thái, phát triển bền vững. Trong kế hoạch sử dụng đất của thành phố Tuyên
Quang, dự kiến, năm 2016 sẽ có 262,55 ha đất phải chuyển mục đích sử dụng đất,
trong đó đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp là 261,12 ha; chuyển mục
đích trong nội bộ đất nông nghiệp là 1,43 ha, thu hồi 274,56 ha (đất nông nghiệp
261,12 ha, đất phi nông nghiệp là 13,44 ha).
+ Phương án kế hoạch sử dụng đất năm 2016 thành phố Tuyên Quang được lập trên cơ
sở hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, địa phương. Về cơ
bản, việc xác chỉ tiêu sử dụng đất của phương án là hợp lý, đáp ứng được mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của thành phố Tuyên Quang.
+ Về việc huỷ bỏ, thay đổi kế hoạch sử dụng đất, một số địa phương cơ bản xử lý tình
trạng dự án chậm triển khai.
+ Đến nay, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã hủy bỏ văn bản chấp thuận chủ trương
đầu tư và thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất của
564 dự án, diện tích 5.736 ha. Số lượng dự án bị thu hồi, hủy bỏ tăng thêm 28 so với
cuối năm 2014. Đồng thời, Thành phố đã điều chỉnh, cắt giảm quy mô diện tích để
sớm kết thúc 9 dự án.

PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


• Chính sách quy hoạch đất đai đạt được nhiều thành tựu tuy nhiên vẫn còn tồn tại

những mặt bất cập trong quy hoạch sử dụng đất hiện nay:
-Một số địa phương phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2015 cấp huyện chậm so với
quy định, dẫn đến việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
theo kế hoạch bị ảnh hưởng.
- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chưa phù hợp về thời gian, nội dung
với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
- Chất lượng của nhiều quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ trong sử dụng đất cũng như
chưa đầy đủ căn cứ pháp lý thể hiện ở việc các quy hoạch phải điều chỉnh, bổ sung
nhiều lần; thiếu tính khả thi, không đảm bảo nguồn lực đất đai để thực hiện.
-Việc không đồng nhất các chỉ tiêu thống kê các loại đất dẫn đến việc đánh giá các chỉ
tiêu thực hiện quy hoạch không đầy đủ, chính xác.
-Nhiều địa phương còn gặp khó khăn, bị động khi giải quyết đối với trường hợp biến
động các chỉ tiêu sử dụng đất trong quá trình thực hiện so với các chỉ tiêu quy hoạch,
kế hoạch được duyệt, phát sinh các dự án, công trình chưa có trong kế hoạch sử dụng
đất hàng năm cấp huyện.
- Lực lượng cán bộ chuyên trách cho công tác này còn nhiều hạn chế về năng lực.
Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên dẫn tới tình trạng vi
phạm quy hoạch diễn ra phổ biến nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời và gây
thiệt hại không nhỏ về kinh tế, nhất là trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.


- Công tác lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai chưa thực
sự được chú trọng.
- Tình trạng quy hoạch “treo” còn phổ biến.
• Biện pháp

- Công tác quản lý quy hoạch phải nâng cao chất lượng, có tầm nhìn chiến lược và đổi
mới kịp thời.
- Công tác lập quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo
hướng tiếp cận phương pháp tiên tiến.
- Quan tâm đến vấn đề kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, mục tiêu bảo đảm an ninh
lương thực, có tính đến tác động của biến đổi khí hậu. Quan tâm, lấy ý kiến nhân dân
tham gia đóng góp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tạo sự đồng bộ giữa quy
hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch các ngành, tham vấn các bên
liên quan trong quá trình lập quy hoạch.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai và hệ thống hồ sơ địa
chính theo hướng hiện đại, theo mô hình tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước,
phục vụ đa mục tiêu, bảo đảm công khai, minh bạch. Chuyển dần các hoạt động đăng
ký, giao dịch trong lĩnh vực đất đai sang giao dịch điện tử.
- Đẩy mạnh xử lý sai phạm, đặc biệt là các sai phạm khiến tình trạng nhiều khu đất để
hoang, dự án “treo” kéo dài gây ra thiệt hại, lãng phí nguồn đất và ngân sách nhà nước.


Kiến nghị hướng xử lý đối với các dự án vi phạm pháp luật về đất đai. Xây dựng chính
sách đối với người dân sau khi thu hồi dự án “treo” hoặc các quy hoạch chậm thực
hiện tạo niềm tin với người dân không bị hạn chế về quyền theo quy định pháp luật.
• Kiến nghị
-Chính phủ: Cần điều chỉnh chính sách đất đai để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sở hữu

các tài sản về đất đai.
-Các bộ và ban nghành có liên quan: Tích cực kiểm tra giám sát quá trình thực hiện quy
hoạch đất đai.Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, nâng cao năng lực quản lý.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×