Tải bản đầy đủ

Bài tập lớn KHUYẾT TẬT

MỤC LỤC
A.

ĐỀ BÀI........................................................................................................1

B.

BÀI LÀM.....................................................................................................2
1.

Quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và công trình công cộng cho

người khuyết tật theo pháp luật hiện hành........................................................2
1.1. Quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và công trình công cộng cho
người khuyết tật theo pháp luật hiện hành....................................................2
1.2. Thực trạng thực hiện các quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và
công trình công cộng cho người khuyết tật theo pháp luật hiện hành...........4
2.

Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp


xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT........................................................7
C.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................11


A. ĐỀ BÀI
1. Quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và công trình công cộng cho
người khuyết tật theo pháp luật hiện hành?
2. Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ
cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT.
B. BÀI LÀM
1. Quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và công trình công cộng cho
người khuyết tật theo pháp luật hiện hành
1.1. Quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và công trình công cộng cho
người khuyết tật theo pháp luật hiện hành
Nhằm đảm bảo các công trình xây dựng nói chung, nhà chung cư và công
trình công cộng nói riêng có đủ điều kiện để người khuyết tật có thể tiếp cận sử
dụng, nghĩa là công trình đó tạo dựng được môi trường kiến trúc mà người
khuyết tật có thể đến và sử dụng các không gian chức năng trong công trình, Bộ
xây dựng đã ban hành Thông tư 21/2014/TT-BXD Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về Xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng bạn
hành kèm theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCVN 10:2014/BXD về Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp
cận sử dụng. Theo Thông tư số 21/2014/TT-BXD, các công trình xây dựng để
đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng bao gồm: nhà chung cư; công
trình công cộng; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; cơ sở khám, chữa bệnh;
cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục, thể thao; công trình khách
sạn, thương mại, dịch vụ; nhà ga, bến tàu, bến xe, đường, hè phố, hầm đi bộ, cầu
vượt và các công trình hạ tầng kỹ thuật và tiện ích đô thị khác (nhà tang lễ,
nghĩa trang, nhà vệ sinh công cộng, điểm chờ xe buýt, máy rút tiền tự động,
điểm truy cập internet công cộng,…). Bộ xây dựng còn ban hành Bộ quy chuẩn
và tiêu chuẩn xây dựng đảm bảo người khuyết tật tiếp cận gồm: Tiêu chuẩn xây
dựng Việt Nam TCXDVN 264:2002 nhà ở và công trình - Nguyên tắc cơ bản để
xây dựng công trình đảm bảo người tàn tật tiếp cận, sử dụng; Tiêu chuẩn xây
dựng Việt Nam TCXDVN 265:2002 đường và hè phố - nguyên tắc cơ bản để
1


xây dựng công trình đảm bảo người tàn tật tiếp cận, sử dụng; Tiêu chuẩn xây


dựng Việt Nam TCXDVN 266-2002 nhà ở - hướng dẫn xây dựng để đảm bảo
người tàn tật tiếp cận, sử dụng.
Đây là các văn bản quy định chi tiết các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc
phải tuân thủ khi xây dựng công trình nhằm đảm bảo để người khuyết tật tiếp
cận, sử dụng. Chẳng hạn, thông tư cũng đã quy định trong bãi đỗ xe công cộng
và bãi đỗ xe trong các tòa nhà phải có chỗ đỗ xe của người khuyết tật vận động.
Theo đó, số lượng tính toán chỗ đỗ xe của người khuyết tật vận động được quy
định như sau: Cứ từ 5 đến 50 xe thì dành 1 chỗ để xe cho người khuyết tật, trên
300 xe là 5+1 chỗ cho mỗi lần thêm 100 xe. Đối với nhà chung cư cần dành ít
nhất 2% chỗ đỗ xe cho người khuyết tật vận động, kích thước tối thiểu cho một
chỗ đỗ xe của người khuyết tật vận động là 2, 35 m2/xe. Đối với các bãi đỗ xe
công cộng thì chỗ đỗ xe của người khuyết tật vận động phải gần với đường dành
cho người đi bộ. Nếu chỗ đỗ xe có nhiều cao độ khác nhau thì vị trí đỗ xe của
người khuyết tật vận động phải cùng cao độ với lối ra vào. Tại các điểm chờ xe
buýt khi có sự thay đổi cao độ phải bố trí vệt dốc hay đường dốc và đặt các tấm
lát nổi hoặc đánh dấu bằng các màu sắc tương phản trên đường chờ để người
khuyết tật đến được các phương tiện giao thông. Tại các điểm chờ xe buýt phải
bố trí chỗ ngồi cho người khuyết tật và có khoảng trống dành cho xe lăn. Tại
khu vực dành cho người khuyết tật phải có biển báo, biển chỉ dẫn hoặc các dấu
hiệu cảnh báo có thể nhận biết theo quy ước quốc tế. Ngoài ra, Thông tư cũng
quy định hàng loạt công trình xây dựng khác phải dành không gian cho người
khuyết tật tiếp cận sử dụng, như các công trình xây dựng công cộng (trụ sở cơ
quan nhà nước, cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở giáo dục - dạy nghề), công trình
văn hóa - thể thao, công trình khách sạn, thương mại, dịch vụ, công trình giao
thông công cộng (nhà ga, bến xe, cầu vượt, hầm đi bộ, hè phố).
Các quy định về quy chuẩn và tiêu chuẩn nêu trên được xác định trên cơ sở
các yêu cầu cơ bản của người khuyết tật khi sử dụng các công trình xây dựng
hoặc dịch vụ công cộng và các tính toán khoa học của cơ quan chuyên môn. Đó
2


là cơ sở pháp lí để phê duyệt thiết kế, tiến hành việc xây dựng, nghiệm thu xây
dựng công trình mới, cải tạo và nâng cấp nhà chung cư, trụ sở làm việc, công
trình hạ tầng kĩ thuật, công trình hạ tầng xã hội (Điều 39 khoản 1 Luật người
khuyết tật 2010). Theo quy định tại Khoản 4 Điều 79 Luật xây dựng năm 2014
cũng đặt ra yêu cầu chung đối với những công trình công cộng là phải đảm bảo
thiết kế theo tiêu chuẩn cho người khuyết tật, có giải pháp thiết kế phù hợp và
chi phí xây dựng hợp lý; bảo đảm đồng bộ trong từng công trình và với các công
trình liên quan; bảo đảm điều kiện về tiện nghi, vệ sinh, sức khoẻ cho người sử
dụng; tạo điều kiện cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em sử dụng công
trình.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật Người khuyết tật 2010 thì đối với:
“Nhà chung cư, trụ sở làm việc và công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công
trình hạ tầng xã hội được xây dựng trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa
bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật phải được cải tạo, nâng
cấp để bảo đảm điều kiện tiếp cận theo lộ trình quy định tại Điều 40 của Luật
này”. Theo đó, căn cứ theo Điều 40 Luật Người khuyết tật 2010 thì đến ngày
01/01/2020, các công trình công cộng gồm: trụ sở làm việc của cơ quan nhà
nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy
nghề; công trình văn hoá, thể dục, thể thao phải đảm đảm điều kiện tiếp cận đối
với người khuyết tật. Đến ngày 01/01/2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc,
công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công trình hạ tầng xã hội không thuộc
trường hợp trên phải đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật. Điều
này đảm bảo được nguyên tắc "điều chỉnh hợp lí" theo Công ước về quyền của
người khuyết tật năm 2006 của Liên hợp quốc, đó là sự sửa đổi cần thiết và phù
hợp mà không tạo ra một gánh nặng quá sức hay bất cân đối, ở những nơi cần
thiết trong những trường hợp cụ thể, để đảm bảo người khuyết tật có thể thụ
hưởng hay thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trên cơ sở bình
đẳng như những người bình thường khác (Điều 2 Công ước).

3


1.2.

Thực trạng thực hiện các quy định đảm bảo tiếp cận nhà chung cư và
công trình công cộng cho người khuyết tật theo pháp luật hiện hành

Tại một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Úc,… các công trình và tiện ích
công cộng được thiết kế thân thiện không rào cản giúp cho người khuyết tật có
thể dễ dàng tiếp cận các công trình công cộng, dịch vụ xã hội, từ đó giúp người
khuyết tật tại các nước đó có cuộc sống tự tin, cới mở và tự chủ hơn. Tại Việt
Nam, pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận về quy trình, quy tắc như pháp luật các
quốc gia đó, thể hiện qua các quy định pháp luật về đảm bảo tiếp cận nhà chung
cư và công trình công cộng cho người khuyết tật thể hiện ở việc Bộ Xây dựng đã
ban hành và triển khai thực hiện nhiều văn bản quy định về tiếp cận đối với
người khuyết tật. Tuy nhiên, mặc dù Bộ xây dựng đã ban hành và chỉ đạo triển
khai bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng công trình bảo đảm người khuyết tật
tiếp cận sử dụng. tuy nhiên, thực tế các công trình xây mới, cải tạo hoặc nâng
cấp bảo đảm người khuyết tật sử dụng vẫn còn rất ít.
Hiện nay, nhiều nhà chung cư không có các công trình dành cho người
khuyết tật. Ví dụ: Tại Khu đô thị mới Nam Từ Liêm, gia đình bà Trần Thị Mai
có chồng mới bị tai nạn giao thông nên phải di chuyển bằng xe lăn. Do chung cư
không thiết kế đường lên dành cho xe lăn nên lần nào bà cũng phải nhờ mọi
người khiêng qua mấy bậc thang mới lên được sảnh vào cầu thang máy. Bà Trần
Thị Mai chia sẻ: Tôi nghĩ thành phố cần quy định cụ thể về kết cấu hạ tầng phục
vụ người khuyết tật, bắt buộc phải xây dựng những tối thiểu phải có như nhà vệ
sinh, bậc lên xuống, tấm lát ở vỉa hè…. Có thể xây dựng công trình hình mẫu
cho các công trình khác.1
Trên một số tuyến phố ở Hà Nội và các trung tâm giải trí công cộng, các
công trình vẫn còn nhiều sự bất hợp lý của kết cấu hạ tầng chưa tính đến việc
làm vệt dốc hoặc lát các tấm cảnh báo, tấm lát hướng dẫn tại các nút giao thông,
lối vào công trình còn chưa thuận lợi cho người khuyết tật. Ví dụ, tại một số
1 http://vovworld.vn/vi-vn/Van-hoa-Xa-hoi-Doi-song/Giup-nguoi-khuyet-tat-tiep-can-va-su-dung-cac-congtrinh-cong-cong/332209.vov

4


công trình như Khu liên hiệp Thể thao Mỹ Đình, sân bay Tân Sơn Nhất, Trung
tâm Thương mại Vincom…, có các hạng mục tiếp cận nhưng người khuyết tật
vẫn chưa dễ dàng tiếp cận được, những nơi như vỉa hè, đường đi dành cho người
khuyết tật dạng nhìn, nhà vệ sinh công cộng, hành lang đi lại tại các cơ quan,
bệnh viện… chưa được chú ý đến.
Các phương tiện giao thông công cộng vẫn chưa đáp ứng được đảm bảo để
người khuyết tật tiếp cận, sử dụng. Theo bài viết Đánh giá khả năng tiếp cận
của đường sắt Việt Nam – Từ Ga Hà Nội đến Ga Thanh Hóa trên trang Người
khuyết tật Việt Nam - Vì tương lai tươi sáng của người khuyết tật theo đó, từ nhà
chờ lên sàn tiếp cận với toa tàu, Ga Hà Nội đã bố trí rất nhiều đường dốc, tuy
nhiên là các đường dốc này quá dốc, để người khuyết tật tự lăn xe từ nhà chờ lên
sàn thì không thể, phải có sự hỗ trợ từ mọi người, cửa toa tàu nhỏ, người khuyết
tật phải gấp xe lăn lại mới vào được trong tàu. Tại Ga Thanh Hoá, chưa cải tạo
mặt sàn đường chờ, nên việc xuống tài cho người khuyết tật rất vất vả.
Thái độ phục vụ của nhiều nhân viên tại các chung cư, công trình công cộng,
phương tiện công cộng chưa đảm bảo đối với người khuyết tật. Ví dụ: Hành
khách Nguyễn Thị Vân (bị liệt hai chân) đã đặt vé máy bay khứ hồi Hà Nội - Đà
Nẵng. Ngày 1-4, hành khách này đã bay từ Hà Nội đi Đà Nẵng. Ngày 2-4, chị
Vân đến sân bay Đà Nẵng làm thủ tục bay về Hà Nội thì bị hai nhân viên Vietjet
từ chối làm thủ tục với lý do chị không thể tự di chuyển được. Chị Vân sau đó
phải mua vé của hãng Vietnam Airlines để trở về Hà Nội lúc 22 giờ cùng ngày.2
Như vậy, qua thực trạng trên thì có thể thấy Việt Nam đã có các nhà chung
cư, công trình công cộng đảm bảm cho người khuyết tật tiếp cận, tuy nhiên số
lượng còn rất hạn chế, không phổ biến, điều kiện các công trình đó không đủ
điều kiện đáp ứng cho người khuyết tật. Vì vậy, cần có một số giải pháp để giúp
người khuyết tật dễ dàng tiếp cận nhà chung cư, công trình công cộng hơn.

2 Theo báo Vnexpress.net

5


Thứ nhất, cần tập trung tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho cộng đồng
xã hội về luật Người khuyết tật; nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tổ chức, cá
nhân đối với NKT; giúp NKT hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của mình để tự tin
sống hòa nhập.
Thứ hai, các nhà chung cư, công trình công cộng cần thiết kế đảm bảo theo
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCVN 10:2014/BXD về Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng,
Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 264:2002 nhà ở và công trình Nguyên tắc cơ bản để xây dựng công trình đảm bảo người tàn tật tiếp cận, sử
dụng; Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 265:2002 đường và hè phố nguyên tắc cơ bản để xây dựng công trình đảm bảo người tàn tật tiếp cận, sử
dụng; Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 266-2002 nhà ở - hướng dẫn
xây dựng để đảm bảo người tàn tật tiếp cận, sử dụng. Như vậy, người khuyết tật
mới dễ dàng sử dụng các toà nhà chung cư, các công trình công cộng hơn.
Thứ ba, nâng cao chất lượng phục vụ của nhân viên ở các toà nhà chung cư,
công trình công cộng, cần nhiệt tình giúp đỡ người khuyết tật để họ tiếp cận với
các công trình công cộng dễ hơn.
2. Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp
xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT
Khoản trợ cấp, hỗ trợ định kỳ hàng tháng được nhà nước đảm bảo chi trả cho
đối tượng người khuyết tật khi đủ điều kiện nhằm trợ giúp cho họ vượt qua khó
khăn của cuộc sống.
Căn cứ theo điều 44 Luật Người khuyết tật 2010 thì:
Đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật
Người khuyết tật 2010;
- Người khuyết tật nặng.
6


Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:
- Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc người đó;
- Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi
con dưới 36 tháng tuổi.
Để được hưởng trợ cấp, hỗ trợ hàng tháng đối tượng phải đảm bảo thủ tục
với quy định về hồ sơ, trình tự xin hưởng trợ cấp, hỗ trợ.
Về hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng được
quy định tại Điều 20 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, theo đó:
Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội bao gồm: tờ khai thông tin của người khuyết tật
theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Giấy xác
nhận khuyết tật; bản sao Sổ hộ khẩu; bản sao Giấy khai sinh hoặc chứng minh
nhân dân; bản sao Quyết định của cơ sở chăm sóc người khuyết tật về việc
chuyển người khuyết tật về gia đình đối với trường hợp đang sống trong cơ sở
bảo trợ xã hội; giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế, bản sao Giấy khai sinh của con đang
nuôi dưới 36 tháng tuổi đối với trường hợp đang mang thai, nuôi con dưới 36
tháng tuổi.
Hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với gia đình có người khuyết tật
đặc biệt nặng bao gồm: tờ khai thông tin hộ gia đình theo mẫu quy định của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Giấy xác nhận khuyết tật; bản sao
Sổ hộ khẩu; tờ khai thông tin của người khuyết tật theo mẫu quy định của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội đối với trường hợp người khuyết tật chưa
được hưởng trợ cấp xã hội hoặc bản sao Quyết định hưởng trợ cấp xã hội của
người khuyết tật đối với trường hợp người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội.

7


Hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người nhận nuôi dưỡng,
chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng bao gồm: đơn của người nhận nuôi
dưỡng, chăm sóc người khuyết tật có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) về đủ điều kiện nhận nuôi dưỡng, chăm
sóc theo quy định tại Điều 19 Nghị định 28/2012/NĐ-CP; tờ khai thông tin
người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc theo mẫu quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; bản sao Sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của người
nhận nuôi dưỡng, chăm sóc; tờ khai thông tin của người khuyết tật theo mẫu quy
định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Sổ hộ khẩu của hộ gia
đình người khuyết tật, nếu có; bản sao Giấy xác nhận khuyết tật; bản sao Quyết
định trợ cấp xã hội hàng tháng của người khuyết tật đối với trường hợp người
khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội.
Hồ sơ hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người khuyết tật đang mang thai
hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo quy định như sau: trường hợp người
khuyết tật chưa được hưởng trợ cấp xã hội, hồ sơ theo quy định tại Khoản 1
Điều 20 Nghị định 28/2012/NĐ-CP; trường hợp người khuyết tật đang hưởng
trợ cấp xã hội hàng tháng, hồ sơ bao gồm: Bản sao Quyết định hưởng trợ cấp xã
hội hàng tháng; Giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế, bản sao Giấy khai sinh của con dưới
36 tháng tuổi.
Như vậy, có thể thấy các quy định pháp luật về hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội,
hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng rất rõ ràng, cụ thể, với mỗi đối tượng đều
có một quy định về hồ sơ khác nhau.
Về quy trình đề nghị hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng
tháng được quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, theo đó:
Thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc được quy định như
sau:

8


- Để được hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc thì người đề nghị trợ
cấp hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc làm hồ sơ theo quy định tại Điều 20 Nghị
định 20/2012/NĐ-CP gửi Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng xét duyệt
trợ cấp xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Hội đồng xét duyệt
trợ cấp xã hội) tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ đối tượng và niêm yết công khai
kết luận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo trên các phương tiện
thông tin đại chúng trong thời gian 07 ngày;
Khi hết thời gian niêm yết công khai, nếu không có ý kiến thắc mắc, khiếu
nại thì Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội bổ sung biên bản họp Hội đồng xét
duyệt trợ cấp xã hội vào hồ sơ của đối tượng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã có văn bản gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội để xem xét, giải
quyết.
Trường hợp có khiếu nại, tố cáo của công dân thì trong thời hạn 10 ngày, Hội
đồng xét duyệt trợ cấp xã hội tiến hành xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể, công
khai trước nhân dân và có văn bản kết luận của Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã
hội để bổ sung vào hồ sơ của đối tượng.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày, nhận đủ hồ sơ đề nghị của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có
trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định hoặc có
thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về lý do không được trợ cấp xã hội
hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc;
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có
trách nhiệm xem xét và ký Quyết định trợ cấp xã hội hoặc hỗ trợ kinh phí
chăm sóc.
Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục hưởng trợ cấp của
người khuyết tật khá chặt chẽ. Thực tế hoàn cảnh sống cụ thể và những khó
khăn của người khuyết tật trong cuộc sống thể hiện rõ trong cộng đồng và điều
9


này cũng được chuyển tải trong thủ tục xét duyệt ở các cấp địa phương. Mặt
khác, vì là khoản trợ cấp có tính xã hội áp dụng đối với những đối tượng đặc
biệt khó khăn nên cũng có sự tác động lớn đến ý thức của bản thân và thân nhân
người thụ hưởng, nếu không thực sự khó khăn, không thực sự cần thiết họ cũng
không lạm dụng hoặc trục lợi khoản trợ cấp mang đầy ý nghĩa nhân đạo này.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị
hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật còn nhiều
hạn chế như trình tự lòng vòng làm cho nhiều người khuyết tật không nhận được
trợ cấp xã hội. Một ví dụ cụ thể: Gia đình anh Lù Trạng, 46 tuổi, NKT ở bản Cá,
phường Chiềng An (TP Sơn La, Sơn La). Năm 2010, anh Trạng bị tai biến do
bệnh packinson, không đi lại được. Không may cho hai đứa con sinh đôi của anh
là cháu Lù Bảo Kim và Lù Bảo Ngân, sinh năm 2004, cũng bị di chứng của bố,
chân tay co giật, nằm một chỗ, trông rất thương tâm. Hai cháu đã được công
nhận là người khuyết tật và được hưởng đúng chính sách chế độ. Riêng trường
hợp của anh Trạng vẫn chưa được hưởng chế độ gì. Vợ anh Trạng cho biết: Năm
2011, gia đình đã làm đơn, gửi phường nhưng không có hồi âm. Năm 2013, gia
đình lại tiếp tục làm đơn, hội đồng thẩm định của phường đã xác nhận anh là
NKT nặng, nhưng đến nay vẫn chưa được hưởng chính sách trợ cấp hằng tháng.
Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP Sơn La cho biết hồ sơ của
anh Lù Trạng vẫn còn nằm ở phường Chiềng An, nên thành phố chưa có cơ sở
cho hưởng chế độ. Anh Trạng nằm trong đợt rà soát, thẩm định lại mức độ
khuyết tật. Vậy là đến nay đã sáu năm, từ ngày anh bị tai biến thành người
khuyết tật, do thủ tục hồ sơ lòng vòng, đến nay anh Trạng vẫn chưa được hưởng
chính sách của Nhà nước.3
Để thực hiện tốt các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng
trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật thì chính quyền địa
phương cần tuyên truyền rộng rãi các quy định pháp luật này tới mọi người dân
nhất là người khuyết tật để họ biết, hiểu rõ để thực hiện cho đúng, cho nhanh,
3 Đức Tuấn, Báo nhân dân, Bất cập trong thực hiện chính sách đối với người khuyết tật ở Sơn La, 2015.

10


đảm bảo được lợi ích của chính họ. Ngoài ra, cần hoàn thiện hơn các quy định
pháp luật về các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp
xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật để người khuyết tật dễ
thực hiện hơn đảm bảo được lợi ích của những người khuyết tật.

C. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật, NXB
CAND, năm 2011.
2. Luật người khuyết tật 2010.
3. Đức Tuấn, Báo nhân dân, Bất cập trong thực hiện chính sách đối với
người khuyết tật ở Sơn La, 2015.
4. http://vovworld.vn/vi-vn/Van-hoa-Xa-hoi-Doi-song/Giup-nguoi-khuyettat-tiep-can-va-su-dung-cac-cong-trinh-cong-cong/332209.vov
5. Báo điện tử Vnexpress.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×