Tải bản đầy đủ

Nguyễn trọng tạo người chọn thơ làm nghiệp

Nguyễn Trọng Tạo người chọn thơ làm nghiệp
Người ta thường gọi Nguyễn Trọng Tạo là “nhà thơ – nhạc sĩ”, lại có người gọi
ông là “nhà báo – họa sĩ”. Người nghệ sĩ nổi tiếng đa tài này phải sắm quá nhiều
vai trong làng văn nghệ, thậm chí nghĩ đến rượu là người ta cũng lại gọi ông để
cuộc rượu thêm vui. Nhưng trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí, ông đã thổ lộ
rằng: “Thơ mới là cái nghiệp của tôi”.

Hôm ông ra mắt tập sách sơ tuyển Thơ và Trường ca tại Trung tâm Văn Hóa Đông
Tây, tôi ghé đến vào buổi tối, thấy rất đông người đang vừa uống rượu vừa nghe
ông trò chuyện về thơ và nghe các ca sĩ hát những bài hát phổ thơ. Những bài hát
người ta phổ thơ ông và những bài hát ông phổ thơ thi hữu. Một cuộc ra mắt saách
thật ấn tượng, kéo dài suốt từ 9 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Cầm tập sách dày gần
600 trang do ông ký tặng, tôi run run cảm động không chỉ vì tình cảm chân thành
của ông dành cho độc giả, mà còn thấy cảm phục trước sức sáng tạo cường tráng
của ông cho nghệ thuật. Riêng thơ, ông cũng đã có đủ cả nghìn trang…
Tôi chăm chú đọc thơ ông từ hồi còn sinh viên. Bài thơ mà bọn sinh viên chúng tôi
hồi đó thường chép vào sổ tay là bài thơ Không đề ông viết khi đến Qui Nhơn thăm
người bạn là nhà thơ Ngô Thế Oanh. Theo ông kể lại thì lúc ấy thấy trên bàn bạn
ông bức ảnh một thanh nữ có đôi mắt rất giống đôi mắt người yêu cũ của bạn. Thế
là bài thơ tặng bạn được viết ra. Đó là một bài thơ thật buồn và thật đẹp cứ ám ảnh
mãi

người
đọc:

anh
trót
để
ngôi
sao
bay
khỏi
cát


biếc
xanh
em,
mãi
chớp
sáng
vòm
trời
điều

THỂ
đã
hóa
thành
KHÔNG
THỂ
biển
bạc
đầu
nông
nổi
tuổi
hai
mươi…
Lần đầu đọc bài thơ ấy tôi cứ tưởng ông viết để tặng mối tình đầu của mình. Vâng
mối tình đầu thì bao giờ cũng đẹp và… buồn. Nhưng thơ tình của ông không phải
để kể lại câu chuyện đẹp và buồn, mà vượt lên trên là sự chiêm nghiệm về tình yêu


với những triết lý sâu xa. Đó là “bí mật” tài tình của nhà thơ, như có dây rợ vô hình
buộc mãi vào lòng người. Đó cũng là cái khác của ông với nhiều nhà thơ tình khác.
Thơ tình của Nguyễn Trọng Tạo được nhiều người thích là vì vậy. Ông đẩy đến tận
cùng cả những điều người khác không dám viết ra, nên người ta thấy thơ ông thật,
như ông từng quan niệm: “Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng“, nghĩa là làm sao
nói ra được sự thật trong lòng mình dù có thế nào chăng nữa. Câu thơ khao khát sự
thật đó làm nhiều người phải ngẫm ngợi, còn nữ nhà thơ Mỹ Mary E. Croy thì thán
phục: “Đó là một câu thơ lỗi lạc của Nguyễn Trọng Tạo. Câu thơ ấy đã trải tôi
phẳng lì khi tôi đọc nó, bởi sự thông thái của một nhà thơ – người không những
hiểu nghệ thuật của ngôn từ, mà còn hiểu về quá trình đời sống“. Đúng vậy, ông đã
đẩy
tận
cùng
đời
sống
vào
thơ:
tôi
yêu
em,
tôi
tìm
điều
dễ
ghét

trong
em.
Em
đừng
vội
giận
hờn
em
yêu
tôi
em
tìm
điều
đáng
ghét

trong
tôi.

em
hiểu
tôi
hơn
Và khi ông viết: “những ngọn gió chẳng hề mang tư tưởng/ cũng thổi dịu mùa hè,
thổi buốt mùa đông” thì chính là lúc ông đã đẩy thơ lên một tầm tư tưởng mới từ
triết lý về tính đối lập – thống nhất hai mặt của tình yêu và cuộc sống. Cách nói về
tình yêu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn đa chiều, nhiều cung bậc, nhưng dù
hạnh phúc hay đau buồn thì vẫn thể hiện một sự sống hết mình cho tình yêu:
chia
cho
em
một
đời
say
một
cây
si
với
một
cây
bồ
đề
tôi
còn
đâu
nữa
đam

trời
chang
chang
nắng
tôi
về
héo
khô
Bài thơ Chia của ông đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và được hát lên ở khắp nơi
đặc biệt là với những người trẻ tuổi. Cho đến khi đã lục tuần, ông vẫn viết thơ tình
đam mê và mãnh liệt, chỉ trong 2 năm đã có mấy chục bài thơ để xuất bản thành
tập Em Đàn Bà làm ngỡ ngàng độc giả bởi bút pháp trẻ trung và hiện đại. Tôi
không ngạc nhiên khi đọc những nhận xét của Mary E. Croy so sánh thơ tình của
ông với Pablo Neruda – nhà thơ Chile từng đoạt giải Nobel: “Nhưng có lẽ hơn tất
cả, có sự tương đồng giữa thơ Nguyễn Trọng Tạo với thơ của Pablo Neruda. Rất
nhiều bài thơ tràn đầy nhạc điệu tình yêu – điều này làm chúng rất ám ảnh. Đối


với cả Nguyễn Trọng Tạo và Neruda, bài hát tình yêu được sức mạnh thiên nhiên
giải thoát khỏi những đè nén nhân tạo. Trong thơ của cả hai người, ta có cảm giác
rằng tình yêu có cuộc sống riêng của nó, không bị ràng buộc bởi người yêu và
người được yêu“. Nhận xét đó khiến tôi nhớ lại bài Thơ tình gửi người không
quen của ông viết về thời chống Mỹ cứu nước. Bài thơ là tâm sự của một người
lính bị thương được một cô gái cõng đi dưới bom đạn: “là khi chợt tỉnh cơn mê/
nhận ra mái tóc bộn bề ngực tôi/ là khi tim đập bồi hồi/ nhận ra gương mặt của
người… không quen“. Và đoạn kết bài thơ như một bài ca nhân văn đi tìm người
không
quen
để
tri
ân:
cho
thơ
tôi
được
nói
lời
tình-yêu-tôi,
gửi
tới
người-tôi-yêu
bởi
tôi
tin
những
sớm
chiều:
người
không
quen…
sống
rất
nhiều
cho
tôi
Lối triết lý thật giản dị trong thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn mang tính nhân văn sâu
sắc, bởi đó là những chiêm nghiệm cuộc đời, những cảm xúc lạ của một tâm hồn
thi

đa
đoan.
*
Thơ Nguyễn Trọng Tạo thường đặt ra những câu hỏi nóng bỏng trước đời sống và
thời cuộc. Những câu hỏi không dễ trả lời. Và ông tìm cách trả lời những câu hỏi
đó. Ông trả lời với tư cách người lính, tư cách công dân và tư cách nhà thơ. Đó là
khi thơ đã đẩy tới hoài nghi để làm sáng tỏ bản chất của sự vật, đẩy tới bi kịch để
tìm đến lạc quan, đẩy tới cái ác để nhận ra chân thiện mỹ… Những bài thơ viết về
chiến tranh của ông làm lay động tâm hồn người lính một cách chân thực hiếm
thấy:
Em
ơi
em,
em
trong
trắng


Nếu
em
đã
đem
lòng
yêu
người
lính
Giờ
tan
ca
đừng
mong
người
yêu
đón
Ngước
sao
trời
hãy
tin
đấy

anh!
Nếu
em

vợ
lính,
dẫu
thời
bình
Hãy
xem
bài
cho
con
sau
mỗi
lần
tan
học
Con
khó
bảo
đừng
một
mình
ngồi
khóc
Đừng
đợi
anh
xách
nước
thổi
cơm
chiều
Phải chăng đấy chính là cách trả lời cho cuộc sống thời chiến nhiều vất vả hy sinh?
Những câu thơ như vậy không chỉ chia sẻ với người lính mà còn chia sẻ với cả hậu
phương một thời trận mạc. Có thể nói, trong những ngày gian khó nhất của đất
nước sau cuộc chiến 20 năm và tiếp theo là cuộc chiến tranh biên giới, thơ Nguyễn
Trọng Tạo không hề lên gân, mà ông lặng lẽ lý giải nó bằng những bài thơ gan
ruột. Tản mạn thời tôi sống là một bài thơ như thế, bài thơ đã làm chấn động lòng
người ngay khi nó vừa được công bố trên báo Văn Nghệ (9/1981) với câu hỏi được


lặp lại: “Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng
chi“. Và sự thật trong câu hỏi đó là gì? Là một thời đại rất nhiều lo âu, bạn-thù, cũmới,
anh
hùng

phản
trắc…
Khi
đang
đắm
yêu
nào
tin
được
bao
giờ
rồi
một
ngày
người
yêu
ta
đổi
dạ
rồi
một
ngày
thần
tượng
ta
tan
vỡ
bạn

thân
thọc
súng

bên
sườn

như
con
chiên
sùng
đạo
chợt
bàng
hoàng
nhận
ra
chúa
chỉ
ghép
bằng
đất
đá
thời
tôi
sống
thêm
một
lần
súng
nổ
trái
tim
đau
rỏ
máu
dọc
biên
thùy!
Có người nói đó là thơ “dự báo” cho một thời “đổi mới” đang đến và phải đến.
Trong cuộc ra mắt tập Thơ và Trường ca, nhà phê bình Văn Giá cũng đã nhấn
mạnh “tính dự báo” trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và dẫn ra một câu thơ thể hiện
quan niệm của ông: “Câu thơ đi tiền trạm những hồn người“. Tôi hiểu ý nghĩa
rằng, trong chiến tranh có những người giao liên đi tiền trạm để dẫn những đoàn
quân đi vào chiến trận. Chữ “tiền trạm” đã được dùng một cách sáng tạo khi ông
nói về quan niệm thơ của mình. Nhưng ông luôn nhận ra quy luật phát triển của tự
nhiên và xã hội, và như đã nói ở trên, thơ ông luôn đặt ra những câu hỏi mới: “ và
khi ấy những câu hỏi bây giờ/ được thay thế bằng những câu hỏi khác“, thậm chí
10 năm sau ông lại nhận ra sự thay đổi thật bất ngờ: “Có câu trả lời biến thành câu
hỏi“… Tính dự báo trong thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là sự nhận ra quy luật vận
động không ngừng nghỉ của đời sống bằng con mắt thứ ba – con mắt nhạy cảm của
nhà thơ. Nhưng Nguyễn Trọng Tạo không làm ra vẻ quan trọng hay nghiêm trọng
những điều đó. Ông có cách nói tưng tửng khá ngộ nghĩnh kiểu “tin thì tin không
tin thì thôi”, nhưng sau cái vẻ tưng tửng ấy, lại là một tấm lòng gan ruột đầy trách
nhiệm của người thi sĩ: “Nhưng tôi người cầm bút, than ôi/ Không thể không tin gì

viết“.
Vì thế, con người công dân trong thơ ông nhiều lúc thật mạnh mẽ. Tôi đọc trong
tập sơ tuyển này 2 trường ca của ông, một trường ca được trích đoạn (Tình ca
người lính) và một trường ca in trọn vẹn – “Con đường của những vì sao” (Trường
ca Đồng Lộc). Cả 2 trường ca này đều mang tính sử thi nhưng là “sử thi lãng mạn”.
Và tôi cảm nhận được từ đó, cuộc kháng chiến thật hào hùng nhưng cũng rất trữ
tình. Những cặp đối lập được ông khai thác khá nhiều để nói về cuộc chiến, và đều
mang
tới
hiệu
quả

làm
xúc
động
lòng
người:
đất

đá
yếu
mềm

cứng
rắn
cán
xẻng
với
tay
người
đòn
gánh
với
vai
người


con
đường

trái
núi
phá

xây
ngày
tháng
đỡ
đần
nhau…
Nhiều nhà thơ đã viết về cuộc “chiến tranh nhân dân” thời chiến, nhưng với
Nguyễn Trọng Tạo, nhân dân hiện lên thật gần gũi và thật đáng khâm phục:
Nhân
Dân
sống
Nhân
Dân
làm
lụng
áo

vai
lòng
thơm
thảo
lành
nguyên
Nhân
Dân
căm
hờn
như
núi
dựng
chông
Nhân
Dân
yêu
thương
đồng
dâng
gạo
trắng
bom
đạn
giặc
từ
trời
cao
ném
xuống
Nhân
Dân
từ
ruột
đất
trồi
lên!
Viết trường ca cần một dòng cảm xúc lớn, cần một nhà tổ chức, thiết kế và xây
dựng sáng suốt linh hoạt. Trường ca Đồng Lộc với hai nghìn rưởi câu thơ chia làm
10 chương và một “Khúc hát tặng” thay lời ngỏ của tác giả đã dựng lên một “bức
tượng đài bằng thơ” về cuộc chiến đấu ở Ngã ba Đồng Lộc lịch sử. Điều đó chứng
tỏ cả tài năng lẫn đam mê của ông với một đề tài lớn. Nó cũng khẳng định thêm
tầm
vóc
của
nhà
thơ
trên
hành
trình
thơ
của
ông.
*
Trở lại với nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, khi đọc trọn cuốn sơ tuyển này, tôi
thấy ông có nhiều giai đoạn sáng tạo trong hành trình thơ của mình. Có thể chia ra
ba giai đoạn: Thơ thời chiến đến hậu chiến – Thơ thời “đổi mới” – và Thơ thời hiện
tại. Nhìn vào “bản đồ” thơ ông dễ thấy các mảng màu tối sáng khác nhau: hồng,
xanh và xanh đậm. Thời kỳ hồng là thời kỳ ông thoát dần ra khỏi “dòng thơ chiến
tranh” để hướng tới sự thật trần trụi của đời sống một cách quyết liệt. Thời kỳ
xanh là thời kỳ ông lắng lại “làm nhòe” các con chữ để tạo ra nhiều nghĩa và cảm
giác cho thơ, như một cách tân phương đông với những suy tư nghiền ngẫm triết lý
về cuộc đời. Thời kỳ xanh đậm là thời kỳ ông phóng bút tạo dựng những ấn tượng
ngôn ngữ kết hợp Đông-Tây nhuần nhuyễn trong cả những âm hưởng libido huyền
ảo. Nhìn chung, ông kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong hành trình làm
mới thơ một cách uyển chuyển và dễ chịu khi chủ trương trì tục nhịp chẵn của thơ
Việt:

thương

nhớ

khóc

cười

cái
chớp
mắt
đã
nghìn
năm
trôi…
Trong phần “Thư trên máy chữ…” với nhiều bài thơ như những bức thư nói lên
quan điểm nghệ thuật của mình đầy suy tư, trăn trở gửi những người đồng nghiệp
và cả bạn đọc, Nguyễn Trọng Tạo đã đề cập đến những vấn đề Nghệ thuật và Đời
sống, Nghệ thuật và Xã hội, Nghệ thuật và Nghệ thuật… Ông cho rằng, nhà thơ:
“không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm” mà phải là “ngoài đời những
gì chưa được thắp/ đã sáng lên trong trái tim nhà thơ” và “ngoài đời những gì đã
tắt/
lại
cháy
lên
đầu
ngòi
bút
nhà
thơ“.
Nguyễn Trọng Tạo là người cổ súy đổi mới thơ nồng nhiệt, ông cũng là người “bảo


kê cho thơ trẻ” (chữ của Ngô Minh) quyết liệt, và nhiều nhà thơ trẻ đầy cá tính
sáng tạo đã trưởng thành. Nhưng có người cho rằng, Nguyễn Trọng Tạo “xúi” bọn
trẻ cách tân thơ, còn ông thì cứ làm thơ truyền thống. Theo tôi, nhận định đó không
đúng với trường hợp của ông. Đọc cuốn Nguyễn Trọng Tạo – Thơ và Trường
ca mới thấy hết sự nỗ lực cách tân rất dụng công của ông, đúng như ông nói:
“Cách tân theo hướng phương Tây thì nhiều người làm, nhưng cách tân theo
hướng phương Đông, nghĩa là làm mới thơ truyền thống mới là thậm khó“. Và
trong mắt tôi, ông đã làm được điều đó. Chính nhà thơ Vũ Cao lúc sinh thời cũng
đã nhìn ra sự khác biệt của Nguyễn Trọng Tạo khi ông viết: “Anh như một người lẻ
loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp ồn ào qua lại.
Thật khó xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào. Ngòi bút anh thoải mái
nói những điều không dễ nói ra“. Còn nhà văn Nguyễn Đình Thi thì cho rằng:
“Khác hẳn những nhà thơ không hiểu chính mình đang viết gì, Tạo không viết
những câu thơ bí hiểm, không viết những câu thơ tự đánh đố mình và đánh đố bạn
đọc để làm ra vẻ mình là một nhà thơ có tư duy cao. Thơ Tạo thể hiện tư duy của
chính Tạo, không phải tư duy vay mượn của người khác“, và ông khẳng định:
“Trên bảng ghi công những văn nghệ sĩ đổi mới thực sự và đổi mới hiệu quả, có
tên
Nguyễn
Trọng
Tạo“.
Cho dù Nguyễn Trọng Tạo có nhiều bài hát nổi tiếng nhưng ông vẫn gắn bó sống
chết với thơ và chỉ nhận thơ làm nghiệp. Mà không chỉ làm thơ, ông cũng là người
làm nên Báo Thơ, vẽ nên Cờ Thơ, viết hàng trăm bài phê bình thơ, phổ nhạc cho
thơ, và cũng từng là Ủy viên Hội đồng Thơ. Đôi lúc tôi cứ nghĩ vơ vẩn rằng, không
biết Nguyễn Trọng Tạo đã chọn thơ làm nghiệp hay là chính thơ đã chọn ông?
Tháng 11/2011
Cao Xuân Phát



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×