Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO CỦA CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ LOÀI HẢI MIÊN Haliclona varia (Bowerbank, 1875)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------------------

DƯƠNG THỊ HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH
GÂY ĐỘC TẾ BÀO CỦA CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ
LOÀI HẢI MIÊN Haliclona varia (Bowerbank, 1875)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------------------

DƯƠNG THỊ HẢI YẾN


NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH
GÂY ĐỘC TẾ BÀO CỦA CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ LOÀI HẢI
MIÊN Haliclona varia (Bowerbank, 1875)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Hoá hữu cơ
Mã số: 60440114

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. HOÀNG LÊ TUẤN ANH
2. PGS. TS. PHAN MINH GIANG


Hà Nội – 2015
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam với sự hỗ trợ kinh phí của đề tài trọng điểm cấp Viện Hàn
lâm: “Nghiên cứu phát hiện và xây dựng quy trình phân lập các chất có hoạt tính
kháng ung thư của một số loài Hải miên Việt Nam”.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ rất lớn của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Phan Minh Giang – Khoa
Hóa học, Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và TS. Hoàng Lê
Tuấn Anh - Viện Hóa sinh biển - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp thuộc phòng
Nghiên cứu cấu trúc, Viện Hoá sinh biển đã tạo điều kiện, hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Khoa học
Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đào tạo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
học tập tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Hoá học K24,
Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi trân trọng và biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã động viên và giúp
đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, 12/2015


Dương Thị Hải Yến


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc hoàn thành luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này.

Hà Nội, 12/2015

Dương Thị Hải Yến


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
13
C-NMR

Tiếng Anh
Carbon-13 Nuclear Magnetic

Tiếng Việt
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân

H-NMR

Resonance Spectroscopy
Proton Nuclear Magnetic Resonance

cacbon 13
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân

CC
DEPT

Spectroscopy
Column chromatography
Distortionless Enhancement by

proton
Sắc kí cột
Phổ DEPT

DMSO
HEPES

Polarisation Transfer
Dimethyl sulfoxide
4-(2-hydroxyethyl)-1-

HepG2
HMBC

piperazineethanesulfonic acid
Human hepatocellular carcinoma
Heteronuclear mutiple Bond

Ung thư gan người
Phổ tương tác dị hạt nhân qua

HSQC

Correlation
Heteronuclear Single-Quantum

nhiều liên kết
Phổ tương tác dị hạt nhân qua

IC50

Coherence
Inhibitory concentration at 50%

1 liên kết
Nồng độ ức chế 50% đối tượng

Human mouth epidemoid carcinoma
Human prostatic carcinoma
Human lung carcinoma
Human breast carcinoma
Optical Density
Human leukemia carcinoma
Reserve phase C-18
Human skin carcinoma
Human colon adenocarcinoma
Sulforhodamine B
Thin layer chromatography
Tetramethyl silane

thử nghiệm
Ung thư biểu mô người
Ung thư tuyến tiền liệt người
Ung thư phổi người
Ung thư vú người
Mật độ quang học
Ung thư bạch cầu chuột
Chất hấp phụ pha đảo RP-18
Ung thư da người
Ung thư đại tràng người
Sulforhodamine B
Sắc ký lớp mỏng
Tetrametyl silan

1

KB
LNCaP
LU-1
MCF-7
OD
P388
RP-18
SK-Mel-2
SW-480
SRB
TLC
TMS

DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC CÁC HÌNH


MỞ ĐẦU
Biển và đại dương chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt trái đất, là nguồn tài
nguyên vô cùng đáng quý do ở đó có tới 34 trong số 36 ngành sinh vật trên trái đất
sinh sống. Ước tính có trên 25 triệu loài sống ở đại dương, bao gồm động thực vật
như rong biển, ruột khoang, rêu biển, thân mềm, các loài vi khuẩn biển. Biển cung
cấp cho con người những thực phẩm đáng kể, chủ yếu là các loài cá, động vật giáp
xác, động vật có vú và rong biển.v.v. Ngoài vai trò to lớn trong ngành công nghiệp
thực phẩm, những sản phẩm của đại dương cũng đang dần được nghiên cứu và sử
dụng trong ngành công nghiệp dược phẩm. Ban đầu là những dược phẩm từ cá như
viên dầu cá hồi omega-3, viên sụn cá mập, tiếp sau đó là các sản phẩm từ rong tảo.
Trong những năm gần đây, với sự hỗ trợ của các kỹ thuật tiên tiến, nhiều hợp chất
có hoạt tính sinh học từ các loài hải miên, san hô mềm, sao biển, hải sâm đã được
phân lập, xác định cấu trúc, mô tả rõ đặc điểm của hợp chất, đánh giá hoạt tính sinh
học. Nhiều hợp chất trong số đó đã được nghiên cứu phát hiện và đang được sử
dụng làm thuốc điều trị bệnh ung thư như: cytarabine (ara-C), variabilin, và
agosterol A....
Việt Nam là quốc gia có ba mặt tiếp giáp biển với bờ biển dài 3.260 km chạy
dọc từ Bắc vào Nam, hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ. Thêm vào đó, Việt Nam là nước
nhiệt đới với bốn miền khí hậu chủ yếu. Các điều kiện này đã tạo ra nguồn tài
nguyên sinh vật biển phong phú với 12.000 loài đã biết bao gồm 2.038 loài cá, 6.000
loài động vật đáy, 635 loài rong biển và hàng ngàn loài động thực vật phù du... Việc
nghiên cứu về nguồn hợp chất tự nhiên biển của nước ta bắt đầu từ những năm 70
của thế kỷ 20 nhưng từ đó đến năm 2010 cũng chưa có nhiều công trình liên quan
được công bố.
Việc khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài sinh vật
biển nói chung, các loài hải miên nói riêng đang là vấn đề quan tâm hiện nay. Các
nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học trên thế giới đã chỉ ra các loài
Hải miên có cấu trúc hóa học đa dạng và phong phú, nhiều hợp chất đã được phát

8


hiện có hoạt tính sinh học lí thú. Xuất phát từ điểm đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài
“Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất
phân lập từ loài hải miên Haliclona varia (Bowerbank, 1875)”. Đề tài bao gồm
các nội dung sau:
1. Phân lập các hợp chất từ loài hải miên Haliclona varia.
2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ loài hải miên
Haliclona varia.
3. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập được trên một
số dòng tế bào ung thư ở người.

9


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về các loài hải miên
1.1.1. Giới thiệu chung về hải miên[7]
Hải miên là các loài động vật thuộc ngành Porifera (động vật ăn lọc – pore
bearer). Cơ thể của chúng bao gồm một lớp trung mô dạng thạch được kẹp giữa hai
màng tế bào mỏng. Trong khi tất cả các loài động vật khác có các tế bào chưa biệt
hóa có thể chuyển thành các dạng tế bào chuyên biệt khác nhau thì duy nhất các loài
hải miên có một số tế bào đã được biệt hóa mà vẫn có thể chuyển thành các dạng tế
bào khác, thông thường chúng di chuyển giữa các màng tế bào cơ bản và lớp trung
mô. Hải miên không có hệ thần kinh, hệ tiêu hóa hoặc hệ tuần hoàn. Thay vào đó,
hầu hết chúng dựa vào việc duy trì một dòng nước ổn định chảy qua cơ thể để thu
nhận thức ăn và oxy cũng như thải các chất cặn bã và hình dáng cơ thể của chúng
thích nghi tối đa với việc duy trì hiệu quả của dòng nước chảy qua cơ thể. Tuy có
một số loài hải miên nước ngọt, còn lại đa phần hải miên là các loài động vật biển,
phân bố rộng khắp từ các vùng triều cho tới tận độ sâu hơn 8800 m. Trong khi hầu
hết trong số khoảng từ 5.000 đến 10.000 loài hải miên đó được biết đến sống dựa
vào nguồn thức ăn là các vi khuẩn và các mảnh vụn trong nước, một số vi khuẩn
chủ tổng hợp quang năng thường sản xuất thức ăn và oxy nhiều hơn số chúng tiêu
thụ. Một số loài hải miên sống trong các môi trường nghèo dinh dưỡng và trở thành
động vật ăn thịt sống dựa vào các loài giáp xác nhỏ.
Hải miên được chia thành ba lớp chính, dựa trên thành phần cấu tạo bộ
khung cơ thể của chúng:
- Lớp Hexactinellida (hải miên đá – glass sponges) có các nhánh silicat, nhánh
lớn nhất có sáu cánh có thể tách rời hoặc đính với nhau. Thành phần cơ thể chính của
chúng là hợp bào (syncytia) trong đó phần lớn các tế bào có chung một màng ngoài đơn.
- Lớp Calcarea có bộ khung cơ thể tạo bởi canxi, một dạng canxi cacbonat,
có thể tạo thành các nhánh riêng biệt hoặc thành mạng lưới lớn. Tất cả các tế bào có
một nhân và màng.

10


- Lớp Demospongiae: Hầu hết có các nhánh silicat hoặc sợi xốp hoặc hỗn hợp cả
hai trong các mô mềm của chúng. Tuy nhiên, một số loài có chứa cơ quan ngoài đặc tạo
nên bởi aragnoit, một dạng canxi cacbonat khác. Tất cả các tế bào có một nhân và màng.
- Ngoài ra, còn có lớp Archeocyatha chỉ được biết đến qua các hóa thạch từ
thời Cambri.
1.1.2. Giới thiệu chung về chi Haliclona
Hải miên thuộc chi Haliclona thuộc họ Chalinidae, bộ Haploscleria, phân
lớp Haplosclerida, lớp Demospongiae. Chi Haliclona bao gồm khoảng 500 loài,
điển hình như: H. subarmigera, H. oculata, H. caerulea, H. varia, H.crassiloba, H.
viscosa, H. simulans, H. aquarius, H. fulva và H. viridis … Chúng sinh sống phổ
biến tại các vùng biển trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Cũng như
các loài hải miên khác, chi Haliclona chứa hàm lượng cao các hợp chất steroid, và
các hợp chất trao đổi thứ cấp này giữ vai trò quan trọng cho sự sống sót của hải
miên với các chức năng bảo vệ, cạnh tranh, sinh sản. Dưới đây là hình ảnh một số
loài hải miên thuộc chi Haliclona:

Hình 1. Hình ảnh một số loài hải miên thuộc chi Haliclona

11


1.1.3. Nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của chi Haliclona
1.1.3.1. Trên thế giới
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt
tính sinh học các loài thuộc chi Haliclona. Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện
được trên 100 hợp chất thuộc chi Haliclona. Thành phần chủ yếu của chi này là các
nhóm chất thuộc nhóm terpenoid, các alkaloid, các polyene, các hợp chất chứa
brom, và một số các hợp chất khác có cấu trúc phức tạp.
• Các hợp chất terpenoid
Hai hợp chất mới có tên là acid halicloic A (1) và B (2), được phân lập từ loài
hải miên Haliclona sp. thu thập ở vùng biển của Philippine. Trong thử nghiệm in
vitro ức chế IDO chúng có nồng độ thấp và được dùng như một sản phẩm thiên
nhiên mới định hướng việc thiết kế tổng hợp chất ức chế IDO (Indoleamine-2,3dioxygenase) [37].

12


Một loạt các hợp chất adociasulfate 1- 6 (3-8) đã được Christine và cộng sự
phân lập từ một loài hải miên thuộc chi Haliclona thu tại vùng biển Palau. Trong
đó, hai hợp chất 4 và 8 được phát hiện là chất có khả năng kìm hãm đặc hiệu
enzyme ATPase [8]. Hai hợp chất steroid, haliclostanone sulfate (9) là hợp chất mới
và halistanol sulfate (10) được phân lập từ loài hải miên Haliclona sp. [34].
Tám hợp chất mới đã được Yu và cộng sự phân lập từ loài H. oculata,
oculatol (11), oculatolide (12), 2-ethoxycacbonyl-2β-hydroxy-A-nor-ergosta5,24(28)-dien-4-one (13), 2-ethoxycarbonyl-24-ethyl-2β-hydroxy-A-nor-cholesta-5en-4-one (14), 2-ethoxycarbonyl-24-ethyl-2β,7β-dihydroxy-A-nor-ergosta-5,24(28)dien-4-one (15), 2-ethoxycarbonyl-24-ethyl-2β,7β-dihydroxy-A-nor-cholesta-5-en4-one (16), 2-ethoxycarbonyl-2β,7β-dihydroxy-24-methyl-A-nor-cholesta-5,22(E)dien-4-one (17) và 2-ethoxycarbonyl-2β,7β-dihydroxy-A-nor-cholesta-5,22(E)dien-4-one (18). Kết quả thử hoạt tính cho thấy hợp chất 13 có hiệu quả diệt các
dòng tế bào ung thư người HL-60 (IC 50 = 0,32 µg/mL), A-549 (IC50 = 0,47 µg/mL),
và BEL-7402 (IC50 = 0,73 µg/mL) [39].

13


Từ một loài hải miên Haliclona sp. được thu hái ở phía bắc Queensland,
Lyndon và cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất, trong đó có 3 hợp chất
hydroquinone mới là: adociaquinol (19), adociasulfate 11 (20) và adociasulfate 12
(21) và 3 hợp chất đã biết: adociasulfate 2 (4), adociasulfate 4 (6), adociasulfate 6
(8) [36].

• Các hợp chất alkaloid
Hai hợp chất densanin A (22) và B (23) được phân lập từ loài hải miên H.
densaspicula (Hàn Quốc). Hai hợp chất này được phát hiện có khả năng ức chế mạnh
sự sản sinh NO trên đại thực bào với giá trị IC50 = 1,05 và 2,14 μM [18].

14


Một nghiên cứu khác cho biết hai hợp chất papuamine (24) và
haliclonadiamine (25), được phân lập từ một loài hải miên Haliclona sp. thuộc vùng
biển Indonesia. Hợp chất (24) và (25) thể hiện hoạt tính ức chế sự phát triển các
dòng tế bào ung thư người: ung thư vú (MCF-7), ung thư tuyến tiền liệt (LNCaP),
ung thư đại trực tràng (Caco-7) với giá trị IC 50 trong khoảng 0,93~4,44 µM [38].
Haliclonacyclamine A (26) được phân lập từ loài hải miên Haliclona sp. (thu tại
quần đảo Solomon) thể hiện hoạt tính kháng chủng vi trùng sốt rét Plasmodium
falciparum FCB1. Và trong thử nghiệm in vivo, hợp chất này có khả năng chống lại
chủng sốt rét Plasmodium vinckei petteri trên chuột [23]. Từ mẫu hải miên H.
vicosa được thu thập ở vùng biển Spitsbergen, Na Uy, Christoph và cộng sự đã phân
lập được 7 hợp chất mới: viscosamine (27), haliclamine C-F (28-31), cyclic

15


monome (32), trime vicosamine (33) và một chất đã biết cyclostellettamine C (34).
Kết quả sàng lọc cho thấy dịch chiết metanol từ loài H. vicosa có hoạt tính kháng
sinh mạnh [35]. Trong các hợp chất alkaloid được phân lập từ một loài hải miên
Haliclona sp. thu ở biển Thái Bình Dương, có 2 hợp chất mới là dimeric 3alkylpyridinium alkaloid (35) và trimeric 3-alkylpyridinium alkaloid (36) [11].

Hagit và cộng sự thông báo ba hợp chất alkaloid mới: isohalitulin (37),
haliclorensin B (38) và C (39) được phân lập từ loài hải miên H. tulearensis thu ở
vịnh Salary. Các hợp chất 37, 38 và 39 thể hiện độc tính trung bình đối với ấu trùng
tôm biển (Artemia salina). Trong đó, hợp chất 37 cho thấy một tiềm năng lớn hơn,
với giá trị LD50 0,9 µM, trong khi 38 và 39 có giá trị LD50 là 2,2 và 2,1 µM [33].
Cũng từ loài này thu ở vịnh Sodwana, Durban, nhóm nghiên cứu trên đã phân lập
được ba hợp chất halitulin (40), haliclorensin (41) và isohaclirensin (42).
Từ loài Haliclona sp., Masayoshi và các cộng sự đã phân lập được ba
ankaloid, trong đó có một hợp chất mới là 22-hydroxyhaliclonacyclamine B (43) và
hai hợp chất đã biết, haliclonacyclamine A (44) và haliclonacyclamine B (45). Các
hợp chất 44 và 45 cho thấy khả năng kháng vi trùng lao rất mạnh với hai chủng
Mycobacterium smegmatis và BCG [25].

16


Một hợp chất mới có tên là haliclonin A (46) thuộc khung diamine
macrocylic được Kyoung và cộng sự phân lập từ loài hải miên thuộc chi Haliclona.
Hợp chất này được thông báo có hoạt tính gây độc tế bào trung bình và kháng sinh
mạnh đối với các chủng vi khuẩn khác nhau [20]. Salicylihalamide A (47) và B (48)
được Karen và cộng sự được phân lập từ loài hải miên Haliclona sp. Lớp chất này
được đánh giá có hoạt tính gây độc tế bào cực mạnh và có tiềm năng phát triển
thành thuốc chống ung thư [15]. Blaine và Phillip đã thông báo và xác định một hợp
chất thuộc khung sesquiterpene dị vòng, helianane (49), từ loài H. fascigera. Hợp
chất này lần đầu được phân lập từ thiên nhiên. Trong thử nghiệm hoạt tính gây độc
tế bào, hợp chất 49 có khả năng kháng lại dòng tế bào bạch cầu ở chuột P-388, tế
bào ung thư phổi người A-549, dòng tế bào ung thư đại tràng người HCT-8, ung thư
vú người MCF-7 và nhiều dòng tế bào khác [16].

17


Từ loài hải miên H. nigra (vùng biển Papua New Guinea), Mohamad và cộng
sự đã phân lập được hai hợp chất mới có tên là haligramide A (50) và B (51). Cả hai
hợp chất này đều được thông báo là có hoạt tính gây độc tế bào đối với một số dòng
tế bào ung thư người (A-549, HCT-15, SF-539 và SNB-19). Giá trị IC 50 của hợp
chất 50 trong khoảng 5,17-15,62 (µg/mL) và của hợp chất 51 trong khoảng 3,898,82 mg/mL [31]. Hợp chất mới haliclorensin (52) được Gainit và cộng sự phân lập
từ loài hải miên H. tulearensis thu ở vùng vịnh Sodwana, Durban, Nam Phi ở độ sâu
15 m. Trước đó, dịch chiết thô của loài hải miên này được đánh giá là có hoạt tính
gây độc tế bào mạnh với dòng tế bào ung thư bạch cầu chuột P-388 với giá trị IC 50
0,1 mg/mL [21].

Hai alkaloid isoquinolin được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi
Haliclona (Philippine). Trong đó, một hợp chất mới là 1-hydroxymethyl-7methoxyisoquinolin-6-ol (53) và một hợp chất đã biết là mimosamycin (54). Trong
thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào, hợp chất 54 thể hiện hoạt tính kháng u đối với
khối u ác tính LOX và các dòng tế bào khối u buồng trứng người OVCAR-3 [32].

18


• Các hợp chất polyene

Từ loài Haliclona tubifera thu ở vùng biển Brazil, Taduesz và cộng sự đã phân
lập được 2 hợp chất sphingoid có tên là halisphingosine A (55) và B (56) [27]. Từ loài
hải miên Haliclona cyemaformis thu tại vùng biển Hàn Quốc, một loạt các hợp chất 1glyceryl ete được phân lập (57-62). Các hợp chất này được thông báo là có khả năng
gây độc tế bào yếu với dòng tế bào ung thư cổ tử cung Hela [5]. Một axit béo không no
chứa brom được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi Haliclona và được xác định là
mới có tên là 6-bromoicosa-3Z,5E,8Z,13E,15E-pentaene-11,19-diynoic acid (63) [6].

19


Từ loài hải miên Haliclona sp. thu ở vịnh Eilat, một polyacetylen mới đã
được phân lập, đó là haliclonyne (64) [12]. Một hợp chất ceramide mới Ndocosanoyl-D-erythro-(2S,3R)-16-methyl-heptadecasphing-4(E)-enine (65) được
phân lập từ loài hải miên Haliclona koremella được thông báo là có hoạt tính chống
gỉ và chống nấm tảo [17]. Richard và cộng sự đã công bố khả năng kháng nấm của
các rượu ankyl amino (66-80) được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi
Haliclona thu ở vùng biển nhiệt đới. Các hợp chất thu được đều là những hợp chất
mới. Các hợp chất này đều có khả năng hoạt động như một tác nhân chống nấm và
ức chế sự phát triển của ấu trùng Herdmania curvata [13].

20


Một loạt các chất mới cerebroside (81-88) đã được phân lập từ một loài hải
miên Haliclona sp [24]. Trước đó, lớp chất này đã được thông báo có khả năng
kháng u, gây độc tế bào, kháng nấm, chống gỉ. Từ loài hải miên Haliclona
lunisimilis thu tại Point Loma, California, mười hai hợp chất polyacetylene chứa clo
đã được phân lập 89-100 [14]. Trong đó, các hợp chất (1Z,3Z)-1-chlorohexadeca1,3-diene-5,7-diyne-14-ol

(98),

(1Z,3E,9Z)-15-acetoxy-1-chlorohexadeca-5,7-

diyne-1,3,9-triene (99) và (1Z,3E)-14-acetoxy-1-chlorohexadeca-1,3-diene-5,7diyne (100) là những chất mới.

21


1.1.3.2. Ở Việt Nam
Cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu trong nước về thành phần hóa học cũng
như hoạt tính sinh học của chi Haliclona. Năm 2012, nhóm nghiên cứu của PGS.
TS Phan Văn Kiệm đã công bố phân lập được 5 hợp chất từ loài Haliclona
subarmigera [3].

Năm 2015, cũng nhóm nghiên cứu này đã công bố phân lập năm hợp chất
steroid (106-110) và hai hợp chất brominate lipid (111-112) từ loài hải miên
Haliclona oculata, trong đó hợp chất 107 thể hiện hoạt tính khá mạnh trên các dòng
tế bào ung thư biểu mô KB và ung thư phổi LU-1 với giá trị IC 50 trong khoảng 8,749,32 μM[29].

22


1.1.4. Vài nét về bệnh ung thư
Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một
cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách
phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Mọi sinh vật
đều được cấu tạo bằng tế bào, các tế bào họp thành các mô, các mô họp thành các
cơ quan và các cơ quan họp thành cơ thể. Vì vậy, bất cứ cơ quan nào và cơ thể sinh
vật nào cũng có thể bị ung thư. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 6 triệu người chết
vì ung thư. Hiện nay, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai ở Mỹ (chỉ
đứng sau bệnh tim mạch). Trong 30 năm trước, 50% dân Mỹ được chẩn đoán mắc
bệnh ung thư đều tử vong trong vòng 5 năm. Ngày nay, tỷ lệ sống sót trong vòng 5
năm đạt 65%.

Hình 2. Hình thái tổ chức của mô từ dạng bình thường đến khi phát triển thành
khối u[2]
Nguyên nhân gây ung thư là sự sai hỏng của ADN, tạo nên các đột biến ở
các gen thiết yếu điều khiển quá trình phân bào cũng như các cơ chế quan trọng
khác. Một hoặc nhiều đột biến được tích lũy lại sẽ gây ra sự tăng sinh không kiểm
soát và tạo thành khối u. Khối u là một khối mô bất thường, có thể ác tính, tức ung
thư hoặc lành tính, tức không ung thư. Chỉ những khối u ác tính thì mới xâm lấn mô
khác và di căn. Ung thư có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau phụ thuộc vào vị
trí, đặc điểm và khả năng di căn của khối u. Chẩn đoán xác định ung thư thường đòi
hỏi phải sinh thiết rồi quan sát trên kính hiển vi. Người bị ung thư có thể được chữa
trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu.

23


Nếu không được chữa trị sớm, hầu hết các loại ung thư có thể gây tử vong,
đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong chính trong những nước phát
triển. Hầu hết các bệnh ung thư có thể chữa trị và nhiều bệnh có thể chữa lành, nếu
được phát hiện và điều trị sớm. Nhiều dạng ung thư có liên quan đến các yếu tố môi
trường mà có thể tránh khỏi. Hút thuốc lá là một trong những yếu tố gây nguy cơ
ung thư nhiều nhất.
Ung thư có thể được phân loại dựa theo tính chất giải phẫu bệnh hoặc theo
cơ quan bị tổn thương. Các tế bào ung thư trong một khối u (bao gồm cả tế bào đã
di căn) đều xuất phát từ một tế bào duy nhất phân chia mà thành. Do đó một bệnh
ung thư có thể được phân loại theo loại tế bào khởi phát và theo vị trí của tế bào đó.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta không xác định được khối u nguyên
phát.
* Ung thư biểu mô (carcinoma) có nguồn gốc từ tế bào biểu mô (ví dụ như ở
ống tiêu hóa hay các tuyến tiêu hoá).
* Bệnh lý huyết học ác tính (hematological malignancy), như bệnh bạch
cầu (leukemia) và u lympho bào (lymphoma), xuất phát từ máu và tủy xương.
* Ung thư mô liên kết (sarcoma) là nhóm ung thư xuất phát từ mô liên kết,
xương hay cơ.
* U hắc tố do rối loạn của tế bào sắc tố.
* U ác bắt nguồn từ các tế bào mầm.
Báo cáo thống kê bệnh ung thư hàng năm của Hiệp hội Ung thư Hoa Kì nhận
thấy tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư trong vòng hai thập kỷ qua giảm hơn 20 phần
trăm trong tổng số nguy cơ tử vong do bệnh ung thư trong cùng khoảng thời gian
đó. Báo cáo Thống kê bệnh ung thư năm 2014 nhận thấy: tỷ lệ tử vong do bệnh ung
thư ở đàn ông da đen giảm nhiều nhất, khoảng 50 phần trăm, tuy nhiên tỷ lệ mắc
bệnh ung thư và tử vong của đàn ông da đen có tỉ lệ cao nhất, người Mỹ gốc Á có tỉ
lệ mắc và tử vong do bệnh ung thư thấp nhất.

24


Báo cáo cũng ước tính có 1.665.540 trường hợp ung thư mới mắc và 585.720
ca tử vong do bệnh ung thư ở Hoa Kỳ vào năm 2014. Ở nam giới: ung thư tuyến
tiền liệt, ung thư phổi và ung thư đại tràng sẽ chiếm khoảng một nửa trong tổng số
các bệnh ung thư được chẩn đoán mới, trong đó ung thư tuyến tiền liệt đứng hàng
đầu trong 4 loại ung thư trên. Ba bệnh ung thư phổ biến nhất trong năm 2014 ở nữ
giới là: ung thư vú, ung thư phổi và ung thư đại tràng, chiếm khoảng 50% . Ung thư
vú dự kiến chiếm 29% trong tổng số tất cả các bệnh ung thư mới mắc ở nữ giới.
Ước tính 585.720 ca tử vong do ung thư vào năm 2014, tương ứng khoảng
1.600 trường hợp tử vong mỗi ngày. Ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư tuyến
tiền liệt và ung thư vú tiếp tục là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất, chiếm gần
một nửa trong tổng số các trường hợp tử vong do ung thư ở nam giới và nữ giới.
Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng đầu trong bốn bệnh ung thư
trên.
John R. Seffrin, tiến sĩ, giám đốc điều hành của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ
cho biết: “Sự tiến bộ của chúng ta là rất tốt, đáng chú ý, nhưng chúng ta cần phải
làm tốt hơn. Giảm một nửa nguy cơ tử vong do ung thư ở đàn ông da đen trung niên
chỉ trong hai thập kỷ qua là bất thường, nhưng ngay lập tức nó được làm giảm đi
bởi tỷ lệ tử vong của đàn ông da đen vẫn cao hơn đàn ông da trắng trong hầu hết các
bệnh ung thư chính và các bệnh ung thư nói chung”[1].

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×