Tải bản đầy đủ

Cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, thự hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế
nước ta đã từng bước phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện và nâng lên rõ rệt. Quyền dân chủ của nhân dân, trong đó có quyền
khiếu nại, tố cáo không ngừng được phát huy.
Cùng với những thành tựu đạt được trong nhiều lĩnh vực đời sống
kinh tế - xã hội, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân cũng có những diễn
biến mới.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám khóa VIII đã ra
Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà
nước nhằm xây dựng Nhà nước ta thực sự là “Nhà nước của dân, do dân và
vì dân”. Một trong các vấn đề bức xúc mà Nghị quyết Trung ương 8 nhấn
mạnh là các cấp, các ngành cần tập trung giải quyết có hiệu quả các khiếu
nại, tố cáo của công dân.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương và sự chỉ đạo của Chính phủ,
trong thời gian qua, các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo tổ chức tiếp
công dân, tiếp nhân, xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân,
và đã đạt được những kết quả đáng kể. Nhiều khiếu nại, tố cáo của công dân
đã được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng chính sách, pháp luật, qua đó góp
phần vàp việc duy trì trật tự kỷ cương, pháp luật, giữ vững ổn định tình hình

chính trị - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn đang có chiếu
hướng ngày càng gia tăng, số người trực tiếp đi khiếu nại, tố cáo ngày càng
nhiều, tính chất khiếu nại, tố cáo rất gay gắt và phức tạp, nhiều vụ việc khiếu

1


nại, tố cáo tồn đọng và vượt cấp lên trên; việc giải quýêt còn chậm; tình
trạng vi phạm pháp luật còn phổ biến.
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiêu, trong đó có nguyên nhân
quan trọng là việc tiếp công dân, giải quýêt khiếu nại, tố cáo còn qua nhiều
thủ tục hành chính rườm rà hoặc trong quá trình thực hiện không tuân thủ
đúng trình tự, thủ tục pháp luật đã qua định gây khó khăn, phiên hà cho công
dân cũng như cơ quan nhà nước khi xem xét, giải quyết.
Tình trạng trên đòi hỏi phải nghiên cứu tìm giải pháp để khắc phục
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
tình hình mới.
Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu tìm ra những giải pháp chấn
chỉnh, khắc phục những tồn tại, thiếu sót về thủ tục hành chính trong công
tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo cảu công dân trong tình hình
hiện nay. Qua đó hoàn thiện các thủ tục hành chính trong công tác tiếp công
dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đó là yếu tố cơ bản để hạn chế
phát sinh khiếu nại, tố cáo của công dân.
Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào 3 vấn đề chính như sau:
- Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính trong tổ chức tiếp công dân và
giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Thực trạng về thủ tục hành chính trong tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Một số kết quả bước đầu thực hiện cải cách hành chính
hiện nay.
- Những kiến nghị về cải cách thủ tục hành chính trong tiếp công dân
và giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian tới.

2


Phần I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TỔ CHỨC
TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO


I. QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1. Những vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là một công việc đa dạng và phức tạp, là
đòi hởi tự thân, khách quan của hoạt động nhà nươc, của sự phát triển xã hội
và mang tíh liên tục, kế thừa. Điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ các hoạt động
trong xã hội luôn diễn ra không ngừng, nêng cũng luôn cần có sự quản lý,
điều hành quá trình đó.
Đối với một quốc gia thì vấn đề quản lý nhà nước bao giờ cũng giữ
vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự lạc hậu hay phát triển của đất
nước. Điều đó, xét cho cùng, đều phụ thuộc vào nghệ thuật quản lý, điều
hành của Nhà nứơc, mà đại diện là các cơ quan có thẩm quỳên.
Sự đa dạng và phức tạp của quản lý nhà nước được quy định bởi sự
đa dạng và phức tạp của các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, của xã hội;
bởi các công việc quản lý trong từng lĩnh vực họat động đó; bởi sự phong
phú của các chủ thể quản lý; cuối cùng là bởi mối quan hệ theo chiều dọc,
chiều ngang trong nội bộ từng cơ quan quản lý, giữa các cơ quan quản lý với
nhau hoặc giữa cơ quan quản lý với công dân và các tổ chức khác. Nhà nước
có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì có bấy nhiêu dạng quản lý. Mỗi một lĩnh
vực hoạt động lại có những đặc thù riêng, phạm vi, môi trường quản lý
riêng, đối tượng chịu sự quản lý khác nhau, nên các phương pháp, biện pháp
quản lý, điều hành đối với từng lĩnh vực là không giống nhau. Từ đấy phải
có nhiều loại cơ quan khác nhau để thực hiện chức năng quản lý nhà nước
trong các lĩnh. Cơ quan quản lý có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban
3


nhân dân các cấp; cơ quan quản lý thẩm quyền riêng: Bộ ngành, sở, phòng,
ban…
Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu được thực hiện bằng các cơ
quan thuộc hệ thống hành pháp. Song trong thực tế, các cơ quan quyền lực:
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan thuộc hệ thống Tòa án,
Viện kiểm sát, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế cũng thực
hiện không ít các hoạt động quản lý hành chính.
Theo quan niệm rộng thì quản lý hành chính nhà nước là thực thi
quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với xã hội và hành vi của con
người để duy trì và phát triển các mối quan các mối quan hệ xã hội và trật tự
pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Hoạt động quản lý hành chính bao gồm nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu
tố sau đây là cơ bản nhất, đó là con người, tổ chức bộ máy và ban hành văn
bản mang tính quyền lực nhà nước, trong đó yếu tố con người là đặc biệt
quan trọng giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình quản lý.
Ba yếu tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu tổ chức gọn
nhẹ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; nhân sự có phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, am hiểu pháp luật, thông thạo nghiệp vụ
quản lý; có chế điều hành rõ ràng, đúng đắn sẽ giúp cho công tác quản lý,
điều hành có hiệu lực, hiệu quả. Ngược lại, bộ máy cồng kềnh, nhân sự yếu
kém, cơ chế quản lý phức tạp, sẽ làm cho nền hành chính cứng nhắc, kém
năng động.
2. Thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính, trước hết là khuôn mẫu, chuẩn mực để công chức
tiến hành các họat động công vụ, xử lý, giải quyết các công việc quản lý
hàng ngày. Thiếu thủ tục hành chính hữu hiệu sẽ phá vỡ tính ổn định, sự
4


minh bạch, công bằng trong hoạt động quản lý. Vì thế trong mọi trường hợp,
các cơ quan nhà nước, các công chức khi giải quyết công việc thuộc thẩm
quyền của mình phải tuân theo một cách triệt để các thủ tục đã được pháp
luật quy định, không tự đặt thêm các thủ tục nhằm gây khó khăn, cản trở
người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, hoặc “linh hoạt” vượt
ra khỏi phạm vi trật tự đó. Nếu vi phạm điểm trên có khẳ năng dẫn đến các
quyết định hành chính, hành vi hành chính sai lầm.
Thủ tục hành chính là căn cứ pháp lý để công dân, các tổ chức, các
doanh nghiệp và các đối tượng quản lý khác thực hịên và bảo vệ các quyền
và nghĩa vụ của mình, là phương tiện để kiểm tra, kiểm soát tính đúng đắn
trong hoạt động quản lý của các cơ quan, công chức nhà nước, ngăn ngừa vi
phạm pháp luật đối với các hoạt động công vụ, buộc các cơ quan hành chính
và công chức tôn trọng các quyền hợp pháp của công dân.
Nếu thủ tục hành chính rõ ràng, không phức tạp, công khai, dễ thực
hiện sẽ thúc đẩy, mở rộng và củng cố nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa
trong quản lý nhà nước, tiết kiệm thời gian, sức lực, nó thể hiện trình độ
pháp lý cũng như kỹ thuật ban hành pháp luật của đất nước.
Chính phủ có Nghị định số 38/CP ngày 4/8/1994 về cải cách một bước
thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, coi
đây là khâu đột phá trong cải cách hành chính nhà nước, Tính năng động của
nền kinh tế thị trường đòi hỏi các thủ tục hành chính, phong cách làm việc
của viên chức trong việc giải quyết các yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân và các
nhà đầu tư nước ngoài phải đơn giản, nhanh ngọn. Các thủ tục rườm rà trong
giải quyết một đề nghị; thái độ thiếu sẵn sàng của viên chức hành chính, thủ
tục thiếu công khai; nhiều cấp, nhiều ngành ban hành thủ tục hành chính dẫn
đến tình trạng phổ biến là gây ách tác, chậm trễ, làm cho nhân dân và các

5


nhà đầu tư đánh giá sai về bộ máy hành chính nhà nứoc là bộ máy nặng nề,
quan liêu.
Thủ tục hành chính trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của
nhân dân, liên quan đến phục vụ cho họat động của các cơ quan, tổ chức và
cá nhân trong kinh doanh, xây dưngj, xuất nhập khẩu, khai sinh, khai tử, giá
thú, đăng ký kết hôn, thay đổi chỗ ở, nơi làm việc, giải quyết khiếu nại, tố
cáo… Cho nên, quy trình thực hiện thủ tục hành chính cần phải nhanh gọn,
đúng quy định của Nhà nước nhằm tạo thuận lợi cho mọi họat động phục vụ
đắc lực đời sống của nhân dân.
Hiện nay có nhiều cách hỏi khác nhau về thủ tục hành chính. Có quan
niệm cho rằng thủ tục hành chính là cách thức, lề lối làm việc, là mối quan
hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với các tổ
chức và công dân. Quan niệm khác lại cho rằng thủ tục hành chính là các
lọai giấy tờ trong giải quyết một vụ việc, nên dẫn đến việc cải cách thủ tục
hành chính chỉ đơn giản là giảm bớt sự đòi hỏi về các loại giấy tờ. Trong
quản lý hành chính, nếu không có đủ các loại giấy tờ cần thiết làm căn cứ thì
không thể đưa ra một quyết định đúng đắn. Quan niệm thứ ba, cho thủ tục
hành chính là trình tự kế tiếp nhau theo thứ tự thời gian nhằm thực hiện hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Quan niệm này chúng tôi cho là hợp lý
hơn.
Theo chúng tôi, thủ tục hành chính là trình tự, trật tự thực hiện thẩm
quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức được ủy
quyền hành pháp trong giải quyết các công việc của Nhà nứơc và các kiến
ngị, yêu cầu chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ
hành chính, bảo đảm công vụ nhà nước và phục vụ công dân.
Phân biệt các loại thủ tục hành chính

6


Thủ tục hành chính bao gồm những thủ tục giải quyết công việc thuộc
quan hệ nội bộ của cơ quan nhà nước và những thủ tục liên quan đến những
công việc thuộc quan hệ của cơ quan nhà nước với các đối tượng quản lý
hành chính nhà nước thuộc các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, với
tập thể lao động và cá nhân công dân, cũng như người nước ngoài. Mỗi loại
thủ tục này lại chia ra nhiều loại riêng áp dụng cho từng loại công việc cụ
thể:
a) Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục thực hiện các công việc nội bộ
trong cơ quan, công sở nhà nước. Nó bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo,
kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới, quan hệ hợp tác, phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền như:
+ Thủ tục ban hành quyết định chỉ đạo.
+ Thủ tục ban hành quyết định quy phạm.
+ Thủ tục ban hành quyết định cá biệt, cụ thể.
Thủ tục lập và tổ chức và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức nhà
nước.
+ Thủ tục khen thưởng và kỷ luật.
b) Thủ tục hành chính liên hệ là thủ tục tiến hành giải quyết các công
việc liên quan đến tự do, quyền và lợi ích hợp pháp, phòng ngừa, ngăn chặn,
xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua các động sản
của công dân và tổ chức như:
+ Thủ tục xem xét kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân.
+ Thủ tục giải quyết các yêu cầu của các cơ quan, tổ chức khác của
Nhà nước.
+ Thủ tục áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành chính.
+ Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

7


Khi thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm tính chính xác, khách
quan, công minh. Yêu cầu này được bảo đảm bởi hoạt động của các cơ quan
nhà nước. Do vậy, cơ quan được phép tiến hành thủ tục phải có đủ các loại
giấy tờ, tài liệu, chứng cứ cần thiết và có quyền đòi hỏi đối tượng giải trình,
cung cấp thông tin, áp dụng các biện pháp khác. Các cá nhân, tổ chức có
trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, tư liệu cần thiết để thực hiện thủ tục
hành chính thuận lợi.
Thủ tục hành chính được thực hiện công khai. Do đó phải niêm yết
công khai các loại thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan nơi tiếp nhận và giải
quyết công việc để nhân dân biết, đồng thời khi tiến hành thủ tục cũng phải
công khai, theo đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp phải bảo đảm bí
mật theo quy định chung hoặc theo yêu cầu của các bên tham gia.
Các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật, điều
này có ý nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước phải giải quyết các quyền
chủ thể của công dân, tổ chức khi đề ngị của họ có đủ điều kiện luật định
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm, trước hết cần
giảm bớt các cấp, các khâu, các cửa, đồng thời tăng quyền và trách nhiệm
của các cơ quan điều hành. Điều quan trọng là giảm bớt mức tối thiểu hoặc
bỏ hẳn các loại phí và lệ phí khi tiến hành thủ tục đối với công dân và tổ
chức. Có như vậy họ mới có khả năng tham gia thủ tục để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời Nhà nước cũng có điều kiện phục vụ
công dân tốt hơn đúng với nghĩa hành chính là phục vụ công dân tốt hơn.
II. VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.
Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là trực tiếp tham gia
quản lý và xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
8


Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là quyền hiến định (Hiến pháp
năm 1959, 1980, 1992), đồng thời đã được cụ thể hóa bằng luật, pháp lệnh,
các nghị địng, quyết định, chỉ thị, thông tư..
Mấy năm gần đây, việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân có nhiều diễn biến phức tạp. Hàng năm, số người trực tiếp đến cơ quan
nhà nước khiếu nại, tố cáo tăng, do vậy đã có nhiều ý kiến đánh giá rất khác
nhau về vấn đề này.
Theo chúng tôi, nếu như việc khiếu nại, tố cáo đúng với quy định của
pháp luật, không vượt khỏi khuôn khổ của pháp luật và được thực hiện một
cách có trật tự thì tình hình khiếu tố như vậy là đáng mừng vì:
Trước hết, nhân dân đã không còn thờ ơ với công việc của Nhà nước,
đã thực sự coi Nhà nước là Nhà nước của dân, và biết cần phải làm như thế
nào để Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh.
Thứ hai là ý thức trách nhiệm công dân, đặc biệt là trình độ pháp luật
của người dân được nâng cao. Người dân nhận thức rõ được quyền và nghĩa
vụ hợp pháp của mình, chủ động, tích cực bảo vệ các quyền đo. Thông qua
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo các cơ quan công quyền tự hoàn thiện
mình.
2. Những yêu cầu đối với thủ tục hành chính trong tổ chức tiếp
công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thủ tục hành chính trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là
một bộ phận của thủ tục hành chính nói chung. Thủ tục giải quyết khiếu nại,
tố cáo cũng mang đầy đủ những tính chất, đặc trưng và những nguyên tắc
như bất kỳ thủ tục hành chính nào khác.
Trước hết, nó bảo đảm cho việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo
đúng pháp luật và thực hiện được thuận lợi.

9


Thứ hai, nó bảo đảm cho các cơ quan hành chính thực hiện đúng chức
năng, thẩm quyền. Thông qua việc quy định các trình tự, thủ tục và thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo để làm tõ thứ bậc trong bộ máy quản lý
hành chính, sự hiệp đồng chặt chẽ với nhau để công việc được tiến hành có
trật tự, tạo sự thống nhất, tránh sự chồng chéo trong giải quyết hoặc lạm
quyền để đơn từ của công dân chạy lòng vong, mặt khác làm cơ sở cho việc
giám sát các cơ quan, công chức hành hính được tiến hành mộtc cách tích
cực, hiệu quả.
Ba là, thủ tục phải đơn giản, dễ thực hiện, tiện lợi. Có nghĩa là mọi
thủ tục hành chính phải vì sự thuận lợi cho công dân chứ không phải vì
mang lại thuận tiện và an nhàn cho cơ quan nàh nước mà dẫn đến sách nhiễu
nhân dân,
Bốn là, mọi thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo phải quy định thành
văn bản công khai, niêm yết tại trụ sở tiếp công dân để công dân biết và thực
hiện quyền giám sát của mình.
Trong thực tế, vị trí trụ sở tiếp công dân, cách bố trím tổ chức, trang
trì các ghi thức ở nơi tiếp công dân có ảnh hướng rất lớn tới môi trường tiếp
công dân. Đôi khi những hòm thư góp ý: hòm thư kiến nghị, đề bạt, hòm thư
tố cáo… đặt tại trụ sở tiếp công dân; những bản thông báo trả lời kịp thời
của chính quyền về những vấn đề trên có sức thuyết phục hơn cả trăm lần
những khẩu hiệu. Người dân chỉ mong sao chính quyền đã đề ra cái gì thì
phải thực hiện bằng được, chính những biện páp cụ thể trong quá trình thực
hiện mới đem lại hiệu quả cao và niềm tin cho người dân.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TRONG TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.

10


Nói đến thủ tục tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là nói đến
hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Như vậy, thủ tục tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo không chỉ đơn thuần là những quy định mang tính nghiệp vụ
trong quá tình tiếp nhận, xem xét, kết luận, ra quyết định giải quyết khiếu
nại, quyết định xử lý tố cáo mà còn bao hàm cả những quy định về thẩm
quyền và trách nhiệm của cá nhân và cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo.
Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1980, Nhà nứơc đã ban
hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Mười năm sau, ngày 7/5/1991 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh khiếu
nại, tố cáo của công dân. Sau đó, ngày 28/1/1992 Hội đồng Bộ trưởng ban
hành Nghị đinh số 38/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo
của công dân, quy định cụ thể thủ tục xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân. Ngày 15/1/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số
18/TTg về tăng cường công tác tiếp công dân và Chỉ thị 64/TTg ngày
25/1/1995 về tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Ngày 7/8/1997, Chính phủ đã ra Nghị định số 89/CP ban hành Quy chế tổ
chức tiếp công dân và Thanh tra nhà nước đã ban hành Thông tư số
1178/TTNN hướng dẫn thực hiện Quy chế trên. Ngày 23/11/1998, tại kỳ họp
thứ tư Quốc hội khóa X đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo.
Qua trình tiếp công dân, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một
qúa trình phực tạp và phải được tiến hành theo những thủ tục hành chính đã
được quy định tại các văn bản pháp luật, pháp quy nêu trên.
1. Thủ tục tiếp công dân, nhận đơn, vào sổ và thụ lý để giải quyết
các khiếu nại, tố cáo

11


Việc tiếp nhận đơn thư khiếu tố gắn liền với việc thực hiện một nhiệm
vụ có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nứoc, tổ chức, đó là
hoạt động tiếp công dân. Họat động này phải được tiến hành thường xuyên
bởi vì có rất nhiều trường hợp công dân trực tiếp đến trụ sở cơ quan nhà
nước để đưa đơn khiếu nại, tố cáo hoặc trực tóêp trình bày về nội dung khiếu
nại, tố cáo. Thực tế cho thấy những năm gần đây, công dân trực tiếp đến
khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan nhà nước ngày càng tăng.
Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo quy định người khiếu nại có quyền “tự
mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại”. Như
vậy là công dân có thể lực chọn một trong hai khả năng hoặc tự mình khiếu
nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện quyền khiếu nại
của mình và việc nhận đơn, tiếp công dân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bố trí cán bộ chuyên
trách tiếp công dân và bản thân họ phải hành thời gian nhất định trực tiếp
tiếp công dân (Điều 7, Điều 8 Quy chế tổ chức tiếp công dân ban hành kèm
theo Nghị định 89/ Cp ngày 7/8/1997).
Cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp công dân phải liêm khiếy, trung
thực, có năng lực chuyên môn, am hiểu thực tế, nắm vững đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phải có thái độ lịch thiệp, nhã nhặn,
quan tâm đến yêu cầu và đòi hỏi của người dân. Sự tinh tế trong giao tiếp,
thái độ quan tâm thực sự có thể tạo nên cảm giác tin cậy, hài lòng cho người
khiếu nại.
Cán bộ khi tiếp công dân phải cố gắng tạo dựng bầu không khí thân
thiện, hướng tới đối thoại thẳng thắn vì công việc, tỏ thái độ thân mật, chân
tình đối với người khiếu nại. ngay cả khi không thể giúp gì cho họ thì cũng

12


có thể làm cho họ hài lòng bằng cách chăm chú lắng nghe họ trình bày và
giải thích cặn kẽ cho họ về những quy định của pháp luật có liên quan.
Nghe trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo là một quá trình tích cực,
đòi hỏi sự tập trung cao độ. Trong tất cả các điều kiện dẫn đến thành công
trong giao tiếp thì khả năng lắng nghe là quan trọng nhất và phải được hàon
thiện trước hết. Vì vậy, cần tránh những gì có thể làm gián đoạn cuộc trao
đổi, đặc biệt là việc trả lời điện thoại. Cuộc đối thoại bị ngắt quãng nhiều lần
dễ làm cho người khiếu nại, tố cáo cảm giác không thoải mái, đôi khi họ sẽ
cho rằng cán bộ tiếp công dân tiếp họ một cách miễn cưỡng…
Điều 11 Quy chế tổ chức tiếp công dân quy định: “Cán bộ tiếp công
dân chỉ được tiếp công dân đến khiếu nại tại công sở, không được tiếp tại
nhà riêng”. Trong các cơ quan nhà nươc, việc tiếp công dân chủ yêu được
tiến hành trong giờ hành chính. Như vậy, không phải ai có nhu cầu cũng có
thể đến gặp những người có trách nhiệm để trực tiếp trình bày về nội dung
khiếu nại. Nên chăng đưa vào thời gian biểu tiếp công dân những buổi tiếp
ngoài giờ hành chính?
Luật khiếu nại, tố cáo đưa các nội dung đã trình bày ở trền cào các
Điều 74,75,76 và 77.
Về thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, Điều 30 Luật khiếu nại,
tố cáo quy đinh: Người khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người đã ra
quyết định hành chính họăc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành
chnhs mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Điều 33 Luật khiếu nại, tố cáo quy định về đơn khiếu nại như sau:
1. Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong
đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại, tên, địa chỉ của người
khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung,
13


lý do khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải khiếu nại
ký tên.
2. Trong trường hợp người khiều nại đến khiếu nại trực tiếp thì cán bộ
có trách nhiệm phải hướng dẫn người khiếu nại viềt thành đơn họăc ghi lại
nội dung theo quy định tại khoản 1 điều này, có chữ ký của người khiếu nại.
3. Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện thông qua người
đại diện thì người đại diện phải có giấy từo chứng minh tính hợp pháp của
việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại
khoản 1 và khoản 2 điều này.
Về thủ tục tố cáo, Điều 65 Luật khiếu nại, tố cáo quy đinh: Người tố
cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Trong đơn tố
cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo, có chữ ký của người tố cáo.
Không kể khiếu nại, tố cáo được gửi đến cơ quan nhà nước bằng cách
nào, việc cần làm trước tiên là ghi vào sổ tiếp nhận. Việc vào sổ là sự xác
nhận chính thức rằng khiếu nại, tố cáo đã được tiếp nhận để xem xét tại cơ
quan có thẩm quyền và là cơ sở cho việc kiểm tra quá trình giải quyết tiếp
theo. Nội dung của việc vào sổ là ghi lại những dữ liệu chủ yếu về người gửi
đơn, nội dung đề nghị, ngày gửi đơn, số thứ tự đăng ký đơn… Người nhận
và vào sổ các khiếu nại phải hàon toàn chịu trách nhiệm trong trường hợp để
thất lạc đơn khiếu nại, tố cáo.
Về việc th ụ lý để giải quyết khiếu nại, Điều 34 Luật khiếu nại, tố cáo
quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại
thuộc thẩm quỳên giải quyết của mình và khôg thuộc một trong các trường
hợp quy định tài Điều 32 của Luật này, người giải quyết khiếu nại lần đầu
phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại
biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do.

14


Điều 41 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không
thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này, người
giải quyết khiếu nại tiếp theo phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng
văn bản cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó biết;
trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
Về thủ tục thụ lý giải quyết tố cáo, Điều 66 Luật khiếu nại, tố cáo quy
định: Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức,
cá nhân tiếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp tố cáo
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu
cầu.
Trong trường hợp cần thiết, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo
phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn
kịp thời hành vi vi phạm pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm
an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu.
2. Thủ tục thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ lập thành hồ sơ
Việc nghiên cứu kỹ lưỡng những vấn đề nêu ra trong khiếu nại và tiến
hành thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ là điều kiện quan trọng để giải
quyết đúng đắn và kịp thời các khiếu nại, tố cáo của công dân. Rất tiếc là
những quy định về các thủ tục này còn rất sơ sài.
Điều 24 Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân quy định việc giải
quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ gồm:
- Đơn khiếu nại hoặc biên bản ghi lời khiếu nại;
- Quyết định bị khiếu nại;
- Biên bản, kết luận thẩm tra, xác minh, giám định (nếu có);
- Quyết định giải quyết khiếu nại.
15


Điều 18 Nghị định 38/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố
cáo của công dân đặt nghĩa vụ cho cơ quan có thẩm quỳên giải quyết khiếy
nại phải tiến hành thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập thành hồ sơ.
Điều 47 Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ hơn:
1. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được thành lập hồ sơ. Hồ sơ
giải quyết khiếu nại bao gồm:
a) Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;
b) Văn bản trả lời của người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định;
d) Quyết định giải quyết khiếu nại;
e) Các tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài
liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người
khiếu nại tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì
hồ sơ đó phải được chuyển cho cơ quan hoặc Tòa án có thẩm quyền giải
quyết khi có yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết
định bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu
nại lần đầu phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó để
thẩm tra, xác minh. Khi xét thấy quyết định tạm đình chỉ không cần thiếy
nữa thì phải ra quyết định tạm hủy bỏ (Điều 42).
Điều 44 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:
1. Trong qua trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, người giải
quyết khiếu nại có quyền:
a) Yêu cầu người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng
chứng về nội dung khiếu nại;

16


b) Yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bằng văn bản về những nội
dung bị khiếu nại;
c) Yêu cầu người giải quyết khiếu nại trước đó, cá nhân, cơ quan, tổ
chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan
đến nội dung khiếu nại;
d) Triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại
khi cần thiết;
đ) Xác minh tại chỗ;
e) Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định
của pháp luật.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi nhận được yêu cầu quy định tại
khoản 1 Điều này phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
Điều 70 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Trong quá trình xác minh
việc tố cáo, người giải quyết tố cáo có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Đảm bảo khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải
quyết tố cáo;
b) Yêu cầu người tố cáo cung cấp bằng chứng, tài liệu liên quan đến
nội dung tố cáo;
c) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài
liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
e) Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 71 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Trong quá trình tiếp nhận,
giải quyết tố cáo, nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan, tổ chức tiếp
nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, hồ sơ cho cơ quan Điều tra, Viện
kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong
thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo hoặc nhận được hồ sơ, cơ
17


quan Điều tra, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý cho
cơ quan, tổ chức đó biết; trường hợp tố cáo có nội dung phức tạp thì thời hạn
trả lời có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày.
Điều 72 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân
tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo; không
được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác
có hại cho người tố cáo.
Về hồ sơ giải quyết tố cáo, Điều 73 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:
1. Việc giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết
tố cáo bao gồm:
a) Đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo;
b) Biên bản xác minh, kết quả giám định, tài liệu, chứng cứ thu thập
được trong quá trình giải quyết;
c) Văn bản giải trình cảu người bị tố cáo;
d) Kết luận về nội dung tố cáo; văn bản kiến nghị biện pháp xử lý;
đ) Quyết định xử lý;
e) Các tài liệu khác cơ liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu
và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu thì hồ sơ được chuyển cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân đo.
Quá trình thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ (gọi tắt là quá trình
thẩm tra) phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
+ Phải thẩm tra tất cả những nội dung được đề cập trong đơn khiếu
nại, tố cáo.
+ Việc thẩm tra phải do cán bộ có thẩm quyền tiến hành.

18


+ Cán bộ có thẩm quyền phải yêu cầu cả người bị khiếu nại, tố cáo và
người khiếu nại, tố cáo giải thích những điểm chưa rõ về nội dung khiếu nại,
tố cáo và những vấn đề liên quan đến nội dung đó để đảm bảo tính khách
quan và toàn diện của việc thẩm tra.
+ Cần quy định thời hạn thẩm tra một cách cụ thể để bảo đảm giải
quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định (thời
hạn dành cho việc thẩm tra nằm trong thời hạn giải quyết khiếu nại nói
chung).
+ Người có trách nhiệm thẩm tra phải ký dưới các hồ sơ, tài liệu thu
thập được trong quá trình thẩm tra và chịu trách nhiệm về tính xác thực của
những hồ sơ, tài liệu này.
Trong khi tiến hành thẩm tra, người có trách nhiệm thẩm tra phải nắm
vững tính hợp pháp và tính có căn cứ của những yêu cầu của công dân. Trên
thực tế, đôi khi người ta cho rằng tính hợp pháp và tính có căn cứ chỉ là một.
Thực chất, nội dung những khái niệm này rất khác nhau và nếu người có
trách nhiệm thẩm tra không phân biệt được sự khác nhau đó thì có thể mắc
phải những sai lầm nghiêm trong trong giải quyết khiếu nại.
Tính hợp pháp của khiếu nại thể hiện ở chỗ nội dung của khiếu nại
phải phù hợp với quy định của pháp luật. Không nhất thiết là mỗi yêu cầu
phải được xác định bởi một quy phạm pháp luật, nhưng xét về tổng thể thì
những yêu cầu đó không được trái với những quy định cụ t hể cũng như
những nguyên tắc chung của pháp luật hiện hành. Tính có căn cứ của khiếu
nại có nghĩa là những yêu cầu của công dân phù hợp với điều kiện thực tế và
những sự kiện nêu trong khiếu nại là xác thực.
Trong khi xem xét khiếu nại cần coi trọng cả tính hợp pháp và tính có
căn cứ của nhữg yêu cầu của công dân. Việc coi nhẹ tính có căn cứ thường
dẫn đến cách giải quyết qua loa, hình thức; còn việc coi nhẹ tính hợp pháp sẽ
19


có thể dẫn đến khả năng đưa ra những quyết định trái pháp luật. Cũng cần
nhấn mạnh rằng việc thẩm tra tính hợp pháp của những yêu cầu nêu trong
khiếu nại đơn giản hơn so với việc thẩm tra khiếu nại về hành vi hành chính
bởi vì quyết định hành chính thường đựơc thể hiện dưới dạng văn bản, coi
hành vi hành chính không phải lúc nào cũng được ghi lại và có người chứng
kiến.
Tất cả các cuộc trao đổi, gặp gỡ, thẩm vấn,… nhằm mục đích thẩm tra
đều phải được ghi thành văn bản để đưa vào hồ sơ.
Thẩm tra không phải là giai đoạn bắt buộc trong việc giải quyết tất cả
các khiếu nại. Có những trường hợp từ nội dung trình bày của đương sự và
những tài liệu mà đương sự cung cấp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại có thể ra quyết định giải quyết ngay, đó là những trường hợp vụ việc
tương đối đơn giản, tính chất trái pháp luật của hành vi bị khiếu nại quá rõ
ràng, người giải quyết khiếu nại nắm được vấn đề từ khi nó phát sinh và có
đủ thẩm quyền ra quyết định giải quyết.
3. Thủ tục ra quyết định và thực hiện quyết định giải quyết khiếu
nại.
Sau khi thu thập đầy đủ tư liệu làm căn cứ giải quyết khiếu nại, cán
bộ có thẩm quyền phải xem xét một các toàn diện những yêu cầu của khiếu
nại, đối chiếu với những tư liệu thu thập được để tiến hành bước tiếp theo:
Ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Ra quyết định giải quyết khiếu nại là một họat động đặc biệt quan
trọng vì chính thông qua hoạt động này mà các yêu cầu cảu công dân được
thỏa mãn toàn bộ hay từng phần hoặc bị bác bỏ.
Quyết định giải quyết khiếu nại của công dân phải đáp ứng những yêu
cầu nhất định, cụ thể là:
+ Phải do cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền ban hành.
20


+ Phải bao hàm lập luận chặt chẽ trên cơ sở những tư liệu đã được
thẩm tra.
+ Phải giải quyết tất cả các yêu cầu nêu ra trong khiếu nại và nếu vì lý
do nào đó mà có những yêu cầu chưa được giải quyết thì phải định rõ thời
hạn giải quyết và người có trách nhiệ giải quyết tiếp theo.
+ Phải trả lời cụ thể, rõ ràng, chính xác về những điều công dân khiếu
nại sao cho từ quyết định có thể thấy rõ cơ quan có thẩm quyền xác nhận
hay không xác nhận sự kiện được nêu tron khiếu nại, thỏa mãn hay bác bỏ
yêu cầu của người khiếu nại.
+ Phải yêu cầu cơ quan hay cán bộ có thẩm quyền tiến hành những
hoạt động nhất định nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
hại, khôi phục hoạt động bình thừơng của cơ quan, tổ chức.
+ Phải nêu rõ biện pháp xử lý những người có lỗi trong những hành vi
bị khiếu nại hoặc giao nhiệm vụ xử lý những người có lỗi cho cơ quan hoặc
cán bộ có thẩm quyền.
+ Phải định rõ thời hạn thực hiện quyết định, những người có trách
nhiệm thực hiện quyết định và những cơ quan, cán bộ có trách nhiệm kiểm
tra việc thực hiện quyết định.
+ Phải hướng dẫn trình tự thực hiện quyết trong những vụ việc phức
tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân.
+ Phải được thể hiện dưới hình thức do pháp luật quy định, đó là
quyết định giải quyết khiếu nại, do người có thẩm quyền ra quyết định ký,
ghi rõ ngày, tháng, năm, họ, tên và đóng dấu của cơ quan.
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày
nhận được khiếu nại, các lần tiếp theo mỗi lần không quá 60 ngày, kể từ
ngày nhận được kháng nghị hoặc đơn khiếu nại; trong trường hợp phải tiến
hành thanh tra thì thời hạn thưo quy định của pháp luật về thanh tra. Quyết
21


định giải quyết khiếu nại phải ghi rõ nội dung sự việc, bằng chứng về tính
hợp pháp hoặc bất hợp pháp của quyết định hoặc hành vi bị khiếu nại, căn
cứ pháp luật, đối tượng và thời hạn thi hành hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức hữu quan giải quyết vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
đó. Quyết định này phải gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cá
nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức thanh tra và thủ trưởng cấp trên
trực tiếp. Cơ quan đã giải quyết khiếu nại phải gửi cho ngưòi khiếu nại quyết
định giải quyết. Qua thời hạn mà người khiếu nại không được giải quyết
hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết không đúng pháp luật thì trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết, người khiếu nại có
quyền tiếp khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 18, Nghị định 38/HĐBT quy định trong trường hợp người bị
thiệt hại được bồi thường thì trong quyết định giải quyết khiếu nại phải ghi
rõ tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường.
Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo quy định thời hạn giải quyết khiếu nại
lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết có thể kéo dài,
nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết lần đầu
không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp
thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ
ngày thụ lý để giải quyết.
Điều 37 Luật này quy định: Khi cần thiết, người giải quyết khiếu nại
lần đầu gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại
để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải
quyết khiếu nại.
Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hạn giải quyết khiếu nại
mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với
22


vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng
không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại
mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá
70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Về quyết định giải quyết khiếu nại, Điều 38 Luật khiếu nại, tố cáo quy
định:
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định;
2. Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
3. Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;
4. Căn cứ pháp luật để giải quyết;
5. Giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định
hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại, giải quyết các vấn đề
cụ thể trong nội dung khiếu nại;
6. Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có).
7. Quyền khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
Điều 45 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:
1. Người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải ra quyết định giải
quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các
nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả thẩm tra, xác minh;
đ) Căn cứ pháp luật về nội dung khiếu nại
23


e) Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người giải
quyết khiếu nại trước đó;
Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần
hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chín bị khiếu nại;
giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại;
h) Việc bồi thường thiệt hại (nếu có);
i) Quyền khiếu nại tiếp của người khiếu nại; nếu là quyết định giải
quyết cuối cùng thì phải ghi rõ.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải gửi cho
người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó, người có quyền, lợi ích
liên quan, người đã chuyển đơn đến trong thời hạn chậm nhất 7 ngày, kể từ
ngày có quyết định giải quyết.
Người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, khi cần thiết thì công bố
công khai quyết định giải quyết đối với người khiếu nại và người bị khiếu
nại.
Điều 39 Luật quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời
hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật này mà khiếu nại không được
giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn
thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
Để thi hành quyết định giải quyết khiếu nại không đòi hỏi phải có yêu
cầu đặc biệt nào của công dân, điều đó có nghĩa là công dân không phải làm
đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cho thi hành quyết định giải quyết
khiếu nại. Trong quyết định giải quyết khiếu nại phải chỉ rõ những cá nhân,

24


cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực
hiện quyết định.
Người ra quyết định giải quyết khiếu nại cũng có trách nhiệm kiểm tra
việc thực hiện quyết định. Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực mà
không được thi hành thì thủ trưởng có quan đã ra quyết định được áp dụng
các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý
theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành quyết định đó hoặc yêu cầu
Viện kiểm sát nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 23 Nghị định 67/1999/NĐ-CP cũng phát triển nội dung trên bằng
quy định cụ thể sau đây:
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật phải đựơc cá
nhân, cơ quan, tổ chức nghiêm chỉnh chấp hành; người đã ra quyết định giải
quyết khiếu nại có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, áp dụng các biện pháp cần
thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng các biện pháp cần thiết để quyết giải quyết khiếu nại được thi hành
nghiêm chỉnh.
Trong trường hợp cần thiết, người đã ra quyết định giải quyết khiếu
nại được yêu cầu các cơ quan chức năng phối hợp để tổ chức thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luạt.
Điều 25 Nghị định này quy định: Thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp
trên có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp dưới
đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thực hiện trách
nhiệm của mình.
Trong trường hợp người có trách nhiệm không chấp hành nghiêm
chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại thì áp dụng các bịên pháp theo thẩm
quyền buộc họ phải chấp hành; xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×