Tải bản đầy đủ

Cải cách hành chính hoàn thiện bộ máy nhà nước tiểu luận cao học

LỜI MỞ ĐẨU
Vấn đề cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách hệ thống hành chính Nhà
nước từ Trung ương đến địa phương đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách và
trọng yếu của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng
và lãnh đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của nhà nước trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn
diện. Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong
sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó làm cho bộ máy nhà
nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và tổ
chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh
tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế. Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách hành
chính phải tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước
các vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc theo chiều sâu.
Với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 20012010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, Chính phủ có một chương trình có
tính chiến lược, dài hạn, xác định rõ 4 lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải
cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức và cải cách tài chính công, định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách và xác

định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc cải cách.
Chương trình tổng thể sẽ là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ,
ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành
chính.

1


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ
CHƯƠNG TRÌNH TỎNG THỂ CÁI CÁCH HÀNH CHÍNH
1. Nội dung của cải cách hành chính
1.1. Cải cách thể chế hành chính
Những năm qua, Chính phủ tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể
chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng luật, pháp
lệnh và ban hành số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh.
Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đến hết tháng 4-2005, Chính phủ đã
trình Quốc hội 49 dự án luật, qua đó đã tạo cơ sở vững chắc cho cải cách thể
chế, kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Các luật đã thể hiện
rõ các quan điểm, các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình
đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước,
giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào
các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và hoạt động của các doanh nghiệp,
giảm bớt cơ chế xin - cho. Nhờ vậy, nước ta được thế giới xem như một nước có
nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm các quốc gia
có tốc độ cải cách nhanh. Chính quyền các địa phương tăng cường công tác cải
cách thể chế, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do
Trung ương quy định và cụ thể hóa việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng
địa phương trong thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt
bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, ủy quyền cho các sở và
cấp huyện trên nhiều lĩnh vực... Tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ dần
sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt
động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công.
Thể chế quan hệ giữa nhà nước với nhân dân tiếp tục được xây dựng và
hoàn thiện. Nổi bật là việc lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định các chủ
2


trương, chính sách quan trọng. Tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với


hoạt động của cơ quan nhà nước. Xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và
cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ. Tăng thẩm quyền, trách nhiệm
của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân. Thực hiện Quy
chế Dân chủ ở cơ sở, cơ chế "một cửa", công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu,
thanh tra nhân dân... Điều đó góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tạo điều kiện để
nhân dân tham gia và giám sát các hoạt động của chính quyền và đội ngũ cán bộ,
công chức các cấp.
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm
vi trách nhiệm của Chính phủ bước đầu được đổi mới, góp phần hoàn thiện hệ
thống thể chế của nước ta. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ
sở pháp lý cho việc đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương vào nền nếp, khắc phục tình trạng
tùy tiện trong ban hành văn bản.
Các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu
tư, đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu... đã được rà
soát, loại bỏ những thủ tục phức tạp, gây phiền hà, từng bước công khai hóa các
quy định, thủ tục cần thiết, phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên, vấn đề này vẫn bộc lộ các hạn chế sau:
- Số lượng văn bản được ban hành nhiều, nhưng còn thiếu tính toàn diện,
đồng bộ. Tính cục bộ ngành, lĩnh vực theo phương thức truyền thống giao cho
bộ chủ trì xây dựng luật chậm được khắc phục. Tình trạng có luật, nhưng chưa
thi hành được ngay vì còn thiếu nghị định, thiếu thông tư hướng dẫn vẫn còn
khá phổ biến.
- Một số thể chế cơ bản về hoạt động công vụ, về trách nhiệm thực thi
công vụ của từng cơ quan hành chính, chức trách của từng vị trí cán bộ, công
chức chưa đủ rõ và cụ thể. Đặc biệt thiếu những quy định pháp lý cụ thể về trách
nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính, của từng cán bộ, công chức
3


trong thực thi công vụ. Thủ tục hành chính được cải cách từ nhiều năm nay,
nhưng nhìn chung vẫn phức tạp, phiền hà cho người dân, cho doanh nghiệp.
Việc tổ chức thực hiện thể chế còn nhiều yếu kém, chưa tiến hành tổng kết, sửa
đổi, bổ sung kịp thời.
1.2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
Quá trình xây dựng và ban hành đầy đủ các nghị định về chức năng,
nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành trung ương đã mang lại kết quả
quan trọng, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, bảo
đảm nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan thực hiện và phân cấp cho
chính quyền địa phương.
Xu hướng lựa chọn đúng việc để phân cấp và chính quyền địa phương
chịu trách nhiệm một số việc như thẩm quyền giao đất, cấp đất, thu hồi đất.
Trước đây những việc này vừa thuộc Thủ tướng Chính phủ vừa thuộc chủ tịch
ủy ban nhân dân tỉnh, nay đã giao toàn bộ cho chủ tịch tỉnh phân cấp thẩm
quyền quyết định các dự án đầu tư, về ngân sách, về giáo dục, y tế, về thẩm
quyền quyết định bộ máy và biên chế sự nghiệp. Nhờ vậy, thẩm quyền và trách
nhiệm của chính quyền địa phương các cấp được gia tăng và mở rộng
Bước đầu phân biệt hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt
động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thông qua các thể chế về nhân sự, tổ
chức, tài chính công, đã tạo lập được những cơ sở để tiếp tục quá trình tách hành
chính với doanh nghiệp, hành chính với sự nghiệp theo quan điểm của Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng.
Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp, việc cải cách tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới và yêu cầu
hội nhập quốc tế. Chức năng của từng cơ quan hành chính nhà nước chưa được
phân định thật rõ ràng và phù hợp, còn chồng chéo về thẩm quyền và nhiệm vụ
quản lý nhà nước.
Tổ chức của các sở ở cấp tỉnh và phòng ở cấp huyện đều tăng, đặc biệt tổ
chức bên trong các bộ, ngành trung ương và các sở đều tăng. Việc chia tách các
đơn vị hành chính kéo theo phần tăng tương ứng số lượng các sở và phòng
4


chuyên môn và biên chế hành chính sự nghiệp cũng tăng theo. Xu hướng nâng
cấp tổ chức còn khá phổ biến như phòng lên vụ, vụ lên cục, cục lên tổng cục;
cục, tổng cục lên loại I; trường trung cấp lên cao đẳng, trường cao đẳng lên đại
học... dẫn đến gia tăng tổ chức bên trong, tăng biên chế, khiến cho bộ máy cồng
kềnh thêm.
1.3. Cải cách công chức hành chính
Thời gian qua, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục được
cải cách theo hướng xác định rõ ràng hơn về phân công và phân cấp. Đã có sự
phân định khá rõ về trách nhiệm, thẩm quyền quản lý đội ngũ cán bộ, công chức
hành chính của Thủ tướng Chính phủ, của các bộ và chính quyền địa phương.
Thẩm quyền và trách nhiệm trong bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán
bộ, công chức cũng được xác định khá rõ nét cho người đứng đầu các cơ quan
hành chính và thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công.
Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã tiếp tục phân loại rõ
hơn đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị: cán bộ qua bầu cử, công
chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh
nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã. Tiến hành rà soát,
đánh giá lại hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức hiện có, kịp thời điều
chỉnh, ban hành mới một số chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công
chức, viên chức. Bước đầu có sự phân biệt đối với công chức hành chính bắt
buộc qua thi tuyển, còn viên chức sự nghiệp được áp dụng cả hai hình thức là thi
tuyển và xét tuyển theo chế độ hợp đồng. Nội dung chương trình đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đã được đổi mới theo hướng phù hợp với các đối
tượng. Phân công giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ,
ngành trung ương tập trung vào bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch
cán sự, chuyên viên. Các trường của tỉnh, ngoài đối tượng là cán sự, chuyên
viên, còn bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức cấp xã,
cho đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã. Chính sách tiền lương, chế
độ bảo hiểm xã hội đã có những cải cách bước đầu, góp phần ổn định cuộc sống
của cán bộ, công chức.
5


Tuy nhiên, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới. Một bộ phận không nhỏ
suy thoái về phẩm chất đạo đức lối sống, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức
trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân.
Những giải pháp mang tính đổi mới, theo hướng hiện đại hóa công tác
quản lý cán bộ, công chức chậm được triển khai, dẫn đến các cơ quan hành
chính vẫn ôm đồm và cản trở, can thiệp sâu vào hoạt động của các đơn vị cơ sở,
ảnh hưởng đến sự chủ động, sáng tạo ở đó.
Công tác quản lý, tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh
giá, luân chuyển, đề bạt cán bộ, công chức chậm đổi mới. Phương pháp đánh giá
cán bộ, công chức còn có lúc, có nơi thiếu công tâm khách quan, khoa học.
1.4. Cải cách tài chính công
Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi xác định phân cấp theo hướng tăng tính
chủ động, tăng thẩm quyền và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương.
Quyền và trách nhiệm quyết định ngân sách địa phương của hội đồng nhân dân
cấp tỉnh được bảo đảm. Quyền quyết định ngân sách và phân bổ ngân sách hằng
năm được Quốc hội thực hiện dần đi vào nền nếp.
Tiếp tục đổi mới quản lý và điều hành ngân sách. Nguồn thu ngân sách
tiếp tục tăng và được tập trung kịp thời. Việc cấp phát vốn đầu tư và hạn mức
kinh phí cho các đơn vị dự toán và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ
đã cải tiến, tạo chủ động cho các đơn vị giảm nhiều thủ tục không cần thiết.
Bước đầu đổi mới cơ chế tài chính cho các loại hình tổ chức trong hệ thống hành
chính bằng cách khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính và cơ chế tài chính
cho các đơn vị sự nghiệp có thu.
Qua việc khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính giao quyền tự
chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan trong tổ chức, sắp xếp bộ máy đã
thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả công
việc. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia giám sát quá
trình thực hiện cơ chế khoán theo đề án đã được duyệt, thúc đẩy sử dụng kinh
phí tiết kiệm, hiệu quả thông qua xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng
6


tiêu chuẩn định mức chi của cơ quan; tăng thu nhập cho cán bộ, công chức
thông qua các biện pháp tiết kiệm. Các đơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền
tự chủ về tài chính đã chủ động sử dụng các nguồn kinh phí đáp ứng yêu cầu
hoạt động của đơn vị bảo đảm chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi
tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng. Thực hiện tốt hơn quy định công khai, minh
bạch trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính công. Phát triển và mở rộng các
hoạt động dịch vụ, chủ động huy động các nguồn lực, nguồn vốn và cơ sở vật
chất để tổ chức các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, nâng cao
chất lượng hoạt động sự nghiệp tăng thu nhập cho người lao động.
2. Kết quả và hạn chế của cải cách hành chính tại Việt Nam trong thời gian
qua
Công cuộc phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng XHCN
gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò của Nhà nước và phương thức hoạt động
của nền hành chính quốc gia. Có thể nói rằng, cải cách hành chính (CCHC) là
tiền đề và động lực thúc đẩy cải cách phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm
thực hiện, CCHC tại Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ: Hệ
thống thể chế trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước đã từng bước
hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, phù hợp với nền kinh tế thị
trường và thông lệ quốc tế. Hệ thống thủ tục hành chính từng bước được cải
cách theo hướng đơn giản hoá, công khai hoá, nâng cao hiệu quả giải quyết công
việc của các cơ quan công quyền nhà nước trong quan hệ với nhân dân và doanh
nghiệp. Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước đã được thay đổi căn bản từ
chỗ chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp
lệnh chi tiết từ trên xuống dưới trong quản lý kinh tế sang xây dựng hệ thống thị
trường có tính cạnh tranh. Tổ chức bộ máy của Nhà nước đã được cải cách theo
hướng tinh giản hơn; việc phân cấp giữa các yếu tố, phân hệ trong bộ máy quản
lý Nhà nước cũng từng bước được cải thiện, tạo điều kiện cho mỗi cấp, mỗi tổ
chức trong hệ thống đề cao quyền hạn, trách nhiệm đồng thời phát huy tính năng
động, sáng tạo trong công việc. Đội ngũ công chức Nhà nước đã được quan tâm
7


xây dựng, bồi dưỡng về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục
vụ nhân dân... Những cải cách trên đây đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế
mạnh mẽ trong thời gian qua, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước trở nên gần
dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong thời cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, bao cấp.
Điểm nổi bật trong công tác chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ và
Thủ tướng Chính phủ trong những năm gần đây, nhất là năm 2006 là khá sâu sắc
và quyết liệt. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành và địa phương phải
triển khai những việc cụ thể, thiết thực đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là
công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo ra sự chuyển biến thực
chất trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với dân, doanh nghiệp, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Thực tiễn cho thấy, cải cách hành chính trong năm qua có khối lượng
công việc khá lớn, số lượng các văn bản phải tổ chức thực hiện tăng nhiều so với
các năm trước. Đó là: tiếp tục điều chỉnh chức năng của các cơ quan hành chính
nhà nước, khắc phục chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà
nước, thực hiện phân cấp trung ương - địa phương theo Nghị Quyết số 08 của
Chính phủ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO vào hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, của tổ chức khoa học và
công nghệ công lập; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa
và thể dục - thể thao; thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng
biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước...
Rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính của những
năm trước, công tác kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính đã được tăng
cường. Ban Thư ký Ban chỉ đạo Cải cách hành chính Chính phủ đã có nhiều
buổi làm việc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Chương trình và kế hoạch cải
cách hành chính của các bộ, ngành và các tỉnh, qua đó có sự chỉ đạo, hướng dẫn,
kiến nghị cấp trên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện.
8


Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nhờ những nỗ lực, cố gắng của cả
hệ thống hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, công tác cải cách
hành chính năm 2006 đã được đẩy mạnh và có tính toàn diện góp phần tích cực
vào những thành tựu phát triển của đất nước.
Hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục
được xây dựng và hoàn thiện. Đây là kết quả nổi bật trong cải cách, thể hiện tính
nhất quán trong việc hoạch định thể chế, chính sách cải cách, đổi mới của Nhà
nước ta. Chúng ta đã tập trung chỉ đạo xây dựng thể chế, chính sách, tạo lập môi
trường pháp lý và hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho cơ chế quản lý mới trên các
mặt đời sống kinh tế - xã hội.
Trước hết, thể chế quản lý nhà nước tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với
yêu cầu đổi mới trong điều kiện chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công tác xây dựng thể chế,
luật, pháp lệnh, nghị định đã bám sát hơn yêu cầu thực tiễn, phục vụ tốt cho việc
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quy trình xây dựng, soạn thảo văn
bản pháp luật từng bước được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng văn bản; bảo
đảm quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, tính thống nhất trong hệ thống
thể chế, nâng cao tính khả thi và tính kịp thời. Chính phủ đã ban hành và trình
Quốc hội ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, tạo hành lang
pháp lý cho hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các
cấp. Thể chế việc phân biệt quản lý nhà nước với hoạt động của đơn vị sự
nghiệp, dịch vụ công, phân cấp trung ương - địa phương, thúc đẩy xã hội hóa
được chú trọng. Việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bất động sản... và các văn bản hướng dẫn thi
hành đã góp phần tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường,
trong đó quan trọng là thị trường tài chính, thị trường bất động sản.
Mặt khác, đã xác lập về cơ bản các cơ chế tổ chức và hoạt động cho các
loại hình tổ chức trong khu vực công. Đây là bước đi nhằm cụ thể hóa Nghị
quyết Đại hội X của Đảng, về phân biệt và tách rõ hoạt động quản lý nhà nước
với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, với hoạt động sự nghiệp
9


dịch vụ công. Công việc này đã được triển khai trong các năm 2004, 2005. Các
thể chế được ban hành trong năm 2006, về cơ bản đã được xác lập:
Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các cơ quan hành chính nhà nước, được
quy định chủ yếu tại Quy chế làm việc của Chính phủ, của các bộ, ngành trung
ương và ủy ban nhân dân các cấp; Nghị định số 130 về Chế độ tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ
quan nhà nước; Quyết định số 144 về Áp dụng tiêu chuẩn ISO trong các cơ quan
hành chính nhà nước và Quyết định số 181 về Cơ chế "một cửa". Cơ chế tổ chức
và hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, được quy định chủ yếu tại
Nghị định số 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và
công nghệ công lập, Nghị định số 43 về Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công lập. Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các doanh nghiệp nhà nước,
được quy định chủ yếu tại Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản, Nghị định số 132
ngày 20-10-2005 về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước
đối với công ty nhà nước, Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu
tư và kinh doanh vốn nhà nước.
Trong thực tiễn, các cơ chế này đang phát huy hiệu lực, làm cho các cơ
quan, tổ chức trong cả hệ thống hành chính có bước phát triển về chất, phân biệt
và tách rõ giữa hoạt động của cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp dịch vụ
công và với doanh nghiệp nhà nước. Tính đến cuối tháng 11-2006, riêng ở địa
phương đã có 68% các cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến xã thực hiện
chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí hành chính;
đã có 62% các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương thực hiện Nghị định số
43 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều này khẳng định, có bước tiến tích cực ban đầu trong thay đổi mối
quan hệ giữa cơ quan hành chính với công dân và tổ chức theo hướng phục vụ
tốt hơn, nâng cao tính công khai, minh bạch của nền hành chính, đơn giản hóa
và công khai thủ tục hành chính ở các cấp, các ngành.
10


Thông qua sự chỉ đạo sâu sát, kiên quyết của Thủ tướng Chính phủ thời
gian vừa qua về chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của cơ quan hành
chính, về rà soát, đơn giản hóa và công khai các thủ tục hành chính, về thực hiện
với chất lượng tốt hơn cơ chế "một cửa", nâng cao trách nhiệm người đứng đầu
cơ quan hành chính, bằng các việc làm cụ thể ở các bộ, ngành và chính quyền
địa phương các cấp đã khẳng định có sự chuyển biến bước đầu trong mối quan
hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, doanh nghiệp. Các bộ, ngành và
các tỉnh, thành phố đã nghiêm túc tổ chức thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ về việc tiếp nhận, xử lý kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về
thủ tục hành chính. Bước đầu đã có hàng trăm kiến nghị, phản ánh được tiếp
nhận, xử lý thông qua trang tin điện tử của Chính phủ. Các tổ công tác do các
bộ, địa phương lập ra đã có những hoạt động mang lại một số kết quả tích cực.
Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã tiến hành sơ kết 3
năm thực hiện cơ chế "một cửa" ở địa phương. Đến nay, về cơ bản, 4 sở bắt
buộc ở các tỉnh, thành phố đã phải thực hiện là kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và
môi trường, lao động - thương binh và xã hội, xây dựng, 59% số sở khác thực
hiện mở rộng, 98% đơn vị cấp huyện và 89% đơn vị cấp xã trong cả nước đã
triển khai cơ chế "một cửa". Bên cạnh việc triển khai mô hình "một cửa" ở cả 3
cấp tỉnh, huyện, xã, một số tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ, Trà Vinh, đã thí điểm thực hiện cơ chế "một cửa"
liên thông giữa các cơ quan hành chính cùng cấp và liên thông giữa các cơ quan
cấp xã, huyện, tỉnh nhằm giảm thiểu khó khăn cho dân, doanh nghiệp trong giải
quyết công việc. Có thể nói, đây là những bước đột phá trong cải cách hành
chính nhà nước. Từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính những năm gần đây,
nhất là những nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành dưới sự chỉ đạo kiên quyết
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã mang lại những kết quả tích cực, góp
phần vào hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hoàn
thiện hệ thống thể chế, tạo bước chuyển biến, nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động của các cơ quan hành chính. Người dân, doanh nghiệp được tạo thuận
lợi hơn trong việc tiếp xúc, giải quyết công việc với cơ quan hành chính. Tính
11


minh bạch, công khai của nền hành chính được nâng lên một bước. Tuy nhiên,
cải cách vẫn chưa được quán triệt trong cả đội ngũ cán bộ, công chức. Những
tồn tại, yếu kém trong xây dựng thể chế, việc chậm chễ trong thực thi các luật đã
ban hành, thái độ quan liêu, hách dịch trong một bộ phận cán bộ, công chức
đang cản trở công cuộc làm ăn của dân, doanh nghiệp, gây bất bình trong xã hội.
Đây là những thách thức phải vượt qua, nhất là khi nước ta đã chính thức gia
nhập WTO.
Trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chủ trương đẩy mạnh cải cách
hành chính, kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, tập
trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trong năm
2007, tập trung đồng bộ các nội dung cải cách về thể chế, tổ chức bộ máy, công
chức công vụ, tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ triển khai
cải cách hành chính, thực hiện các đề án được nêu trong Kế hoạch Cải cách hành
chính giai đoạn II do Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt:
- Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc
đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thứ hai, từng cơ quan trong cả hệ thống hành chính nhà nước có trách
nhiệm rà soát thủ tục hành chính, các loại giấy phép để tự quyết định theo thẩm
quyền hoặc trình cấp trên xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ. Các thủ tục
phải được rà soát, sửa đổi đồng bộ theo hướng đơn giản hóa, tránh chồng chéo,
tạo thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp.
- Thứ ba, tiếp tục điều chỉnh chức năng của Chính phủ cho phù hợp với
yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó
xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tinh thần chung
là giảm bớt các quyết định cụ thể không cần thiết của Thủ tướng Chính phủ;
phân bớt việc thực hiện trách nhiệm của Thủ tướng cho các bộ trưởng, chủ tịch
ủy ban nhân dân các tỉnh theo nguyên tắc nếu bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân
12


dân các tỉnh có thể tự giải quyết được các loại công việc này thì phân về cho bộ
trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh.
- Thứ tư, thực hiện phân cấp trung ương - địa phương theo tinh thần Nghị
quyết 08 của Chính phủ. Các bộ, ngành trung ương phải thật sự có trách nhiệm
trong đề xuất với Chính phủ để phân cấp những công việc, những nhiệm vụ mà
chính quyền địa phương có thể tự giải quyết được và kiểm tra chính quyền địa
phương trong thực hiện các vấn đề đã phân cấp.
Thứ năm, triển khai chương trình hiện đại hóa nền hành chính đáp ứng
yêu cầu hội nhập và các tiêu chuẩn của nền hành chính khu vực và thế giới. Xây
dựng chương trình "Chính phủ điện tử" có bước đi rõ ràng, thích hợp. Đồng thời
với cải cách thủ tục hành chính, các bộ, ngành, địa phương cần chú trọng công
tác đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho cán bộ, công chức; chấn chỉnh
kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường công tác thanh tra công vụ, xử lý
nghiêm những hành vi vi phạm, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trong bộ
máy hành chính nhà nước. Phát huy tính chủ động, trách nhiệm và sáng kiến cải
cách của bộ máy hành chính các cấp và của chính đội ngũ cán bộ, công chức để
đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy
nhà nước, chúng ta mới tận dụng được cơ hội để vượt qua thách thức, đưa đất
nước tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Công cuộc CCHC nhà nước mặc dù đã đạt được những kết quả tiến bộ,
quan trọng, đáng ghi nhận nhưng vẫn đang còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém,
chưa đáp ứng đòi hỏi của nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong
thời kỳ mới, những hạn chế lớn tập trung chủ yếu ở những điểm sau:
- Cho đến nay vẫn chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đầy đủ, đồng
bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và
dân chủ hóa đời sống xã hội trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế và tiến bộ
khoa học công nghệ của thế giới hiện đại. Hiện vẫn chưa xác định được một
cách đầy đủ, rõ ràng về khung khổ thể chế cần phải có cho quản lý các hoạt
động kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện mới. Những bổ sung, sửa đổi
về mặt thể chế mặc dù rất tích cực nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế; mang
13


tính chắp vá, thiếu đồng bộ và vẫn còn bị ảnh hưởng bởi thể chế cũ - thể chế
quản lý tập trung quan liêu, bao cấp.
- Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung
vẫn còn nhiều phức tạp, rườm rà, gây không ít phiền toái cho doanh nghiệp và
người dân; chủ yếu vẫn theo cơ chế “xin - cho”. Cơ chế “một cửa” tuy được
tuyển khai rất rộng rãi nhưng còn mang tính hình thức, chưa có chuyển biến
thực sự về chất trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân.
- Việc điều chỉnh, đổi mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính
Nhà nước cũng như của từng cấp, từng cơ quan hành chính còn rất chậm, chưa
phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa
phù hợp với thông lệ chung của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hiện nay
bộ máy hành chính Nhà nước, từ Chính phủ đến chính quyền địa phương còn
ôm đồm quá nhiều việc thuộc lĩnh vực quản lý sản xuất, kinh doanh và hoạt
động sự nghiệp dịch vụ, chưa tập trung vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản
lý nhà nước. Hiện vẫn chưa có sự phân biệt rõ vai trò, chức năng của ba khu
vực: Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự, kể cả trong lĩnh vực thể chế cũng
như trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước vẫn đang còn rất cồng kềnh, đồ sộ,
nhiều tầng cấp trung gian. Việc phân cấp Trung ương - địa phương vẫn rất chậm
chạp. Cho đến nay, các Bộ ngành vẫn đang nắm giữ nhiều việc cụ thể của chính
quyền địa phương làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo của địa phương. Các Bộ
vẫn được tổ chức theo mô hình Bộ đơn ngành, đơn lĩnh vực, cơ cấu tổ chức bên
trong của các Bộ, số lượng cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện
lại đang có xu hướng tăng thêm đầu mối. Bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối như
hiện nay tất yếu dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, thẩm
quyền và sức ỳ, sự trì trệ, quan liêu của bộ máy là không thể tránh khỏi.
- Phương thức quản lý điều hành của bộ máy hành chính các cấp vẫn theo
chế độ làm việc tập thể, quyết định theo đa số có nhiều hạn chế nhưng chậm
được thay đổi. Hoạt động quản lý điều hành hành chính, cũng như các dạng
quản lý điều hành khác, đòi hỏi phải theo chế độ thủ trưởng, phải đề cao vai trò
14


và trách nhiệm của người đứng đầu thì mới đảm bảo nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu
quả.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều mặt chưa đáp ứng được
yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước. Công tác kiểm tra, thanh tra công vụ và xử
lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật tiến hành chưa nghiêm minh, chưa
thường xuyên, thiếu khách quan, công bằng dẫn đến kém hiệu quả, ít tính giáo
dục, răn đe, làm gương…Do vậy đạo đức công vụ, trách nhiệm của công chức
chậm được nâng cao. Một bộ phận cán bộ, công chức sa xút về phẩm chất đạo
đức, tham nhũng, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu của dân, của xã hội.
- Về thực hiện yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính còn chậm, chưa có sự
thay đổi cơ bản trong phương thức lề lối làm việc của cơ quan hành chính và
phong cách thực thi công vụ của cán bộ, công chức mà vẫn mang nặng dấu ấn
của cơ chế cũ. Khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính
còn nhiều hạn chế làm cho năng suất lao động, hiệu quả công tác của công chức
thấp, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu kém,
nhất là trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tóm lại, kết quả thực hiện chương trình CCHC trong thời gian qua tuy đạt
được những tiến bộ đáng kể nhưng nhìn chung còn chậm, chưa đáp ứng được
yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập.

15


CHƯƠNG III
VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1. Đánh giá chung
Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ
trực tiếp cho cải cách hành chính; chú trọng công tác xây dựng luật, pháp lệnh
và ban hành một số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh.
Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc Hội khoá XI đến hết tháng 4/2005, Chính phủ đã
trình Quốc hội 49 dự án luật. Mỗi năm trung bình Chính phủ ban hành gần 200
nghị định, thông qua đó đã tạo lập cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, thực
hiện sự kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Một loạt các luật
được ban hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Luật
dân sự, Bộ Luật lao động, Luật Đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài,
Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Hải quan,
Luật Thương mại, Luật Điện lực v.v… Năm 2005 là năm thứ 3 liên tiếp, Việt
Nam được đánh giá như một điểm sáng về nỗ lực cải thiện môi trường kinh
doanh, là một trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ cải cách nhanh nhất thế giới.
Chính quyền địa phương các cấp cũng tăng cường công tác cải cách thể
chế, ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do
Trung ương ban hành và cụ thể hoá việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng
địa phương. Nhiều địa phương làm tốt công tác này như thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Bình Dương, Bến Tre, Cần Thơ
v.v…
- Thể chế của bản thân hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện, đổi
mới, thể hiện trong một loạt các văn bản như Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Thanh tra , Pháp lệnh cán bộ,
công chức (sửa đổi), 39 Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các văn

16


bản về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn
của Uỷ ban nhân dân ở cấp tỉnh, huyện v.v…
- Thể chế về mối quan hệ giữa nhà nước với dân, trong đó đáng chú ý là
lấy ý kiến dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng, giám
sát của dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, xử lý các hành vi trái pháp
luật của cơ quan và cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, thẩm quyền, trách
nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của dân v.v.. tiếp tục
được xây dựng và hoàn thiện. Đáng chú ý là các văn bản về quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở, Luật Khiếu nại tố cáo, cơ chế “một cửa”, công khai ngân sách,
tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân v.v…
- Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong
phạm vi trách nhiệm của Chính phủ đã bước đầu được đổi mới, góp phần vào
quá trình hoàn thiện hệ thống thể chế của nước ta.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, góp phần
khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong ban hành văn bản ở địa phương, đưa công tác
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền nhà nước ở
địa phương vào nề nếp.
- Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế
“một cửa” đã được triển khai mạnh trong giai đoạn I và thu được những kết quả
bước đầu tích cực. Đây là một trong những lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo trong cả quá trình cải cách. Kể từ năm
1994 khi Chính phủ có Nghị quyết số 38 về cải cách một bước thủ tục hành
chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức, cho đến nay Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo công tác này (Chỉ thị
09/2005/CT-TTg về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính).
- Trong lĩnh vực hiện đại hóa hải quan, quy trình thủ tục hành chính đã
được cải tiến, bỏ nhiều khâu trung gian theo hướng tổ chức dây chuyền thủ tục
hải quan hoàn chỉnh, một cửa, do đó đã giảm đáng kể thời gian thông quan.
17


Công tác kiểm tra thực tế hàng hoá xuất, nhập khẩu được chuyển sang áp dụng
phương pháp quản lý rủi ro, kiểm tra có trọng điểm, kiểm tra sau thông quan và
đang thí điểm thông quan điện tử tại một số địa phương.
- Đặc biệt, đầu năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định thành
lập Tổ công tác liên ngành (gọi tắt là Tổ 23) xử lý các vướng mắc và kiến nghị
của doanh nghiệp về thủ tục hành chính (và các Tổ công tác tương tự do một số
tỉnh thành lập). Thông qua hoạt động thực tế, Tổ công tác đã có những kiến
nghị, đề xuất thiết thực để Thủ tướng Chính phủ, các bộ xử lý các vấn đề vướng
mắc do thực tiễn đặt ra.
- Chính quyền địa phương các cấp đã triển khai công tác rà soát thủ tục
hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ. Nhiều địa phương làm tốt công tác rà soát thủ tục hành chính
như Vĩnh Long, Quảng Trị, Phú Thọ, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà
Nẵng, Quảng Nam. Năm 2005 đã thực sự là năm chính quyền địa phương các
cấp đẩy mạnh thực hiện cơ chế “một cửa” ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã, kết quả
cụ thể như sau:
+ 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai cơ chế “một
cửa” tại 4 sở bắt buộc (Sở Lao động thương binh xã hội, Sở Tài nguyên môi
trường, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Xây dựng) đạt tỷ lệ 95,7%. Đối với các sở,
ngành khác thuộc diện mở rộng đạt 52%, trong đó có 11 tỉnh đạt trên 80% là:
Bình Thuận, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Gia Lai, Hải Dương, Kon Tum,
Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Nam, Tây Ninh, 6 tỉnh đạt 100% là Bà Rịa – Vũng
Tàu, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Vĩnh Long và Vĩnh Phúc.
+ Khoảng 98% đơn vị cấp huyện đã triển khai. Trừ các tỉnh là Bạc Liêu,
Bình Thuận, Đắk Nông, Hậu Giang, Khánh Hòa, Kon Tum, Lai Châu, Ninh
Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Tuyên Quang, tất cả các địa
phương còn lại trong cả nước đã triển khai 100% cơ chế “một cửa” tại cấp
huyện.
+ 78% đơn vị cấp xã đã triển khai cơ chế “một cửa” đạt mục tiêu đề ra
cho năm 2005; có 25 tỉnh, thành phố triển khai đạt 100% là: An Giang, Bà Rịa –
18


Vũng Tàu, Bắc Ninh, Bến Tre, Cao Bằng, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hà Nội, Hà
Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà,
Long An, Nam Định, Phú Thọ, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thái Nguyên, Thừa Thiên
Huế, Tiền Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái.
1. Trên địa bàn nông thôn
Trong lịch sử hành chính ở nước ta, huyện (phủ, châu) bao giờ cũng giữ
vai trò là cấp trung gian giữa tỉnh (trấn, đạo, lộ) và làng xã của tỉnh. Hơn nữa,
xét về mặt đặc thù địa phương và lãnh thổ, các đơn vị hành chính huyện ở nước
ta không có sự khác biệt rõ nét (trừ các huyện miền núi, huyện hải đảo). Với
nhiều nguyên nhân như vậy, ở cấp huyện không nên tổ chức HĐND.
Thực tế là các nghị quyết HĐND huyện chỉ mang tính hình thức, không
có khả năng và điều kiện thực thi. Ủy ban nhân dân chủ yếu thực hiện quản lý
hành chính Nhà nước, là một cấp thừa hành mệnh lệnh của tỉnh và Chính phủ, là
một cấp nối liền với chính quyền xã, được phân công, phân cấp, ủy quyền giải
quyết một số mặt trong phạm vi nào đó.
Có cần có quá nhiều tổ chức đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân và cũng do nhân dân bầu ra cùng tồn tại trên một địa bàn hay không? Hay là
chỉ cần vài cấp đại biểu làm tốt nhiệm vụ đại biểu, đi sâu đi sát dân, nắm bắt tâm
tư, tình cảm của dân, thực hiện chức năng giám sát hoạt động của chính quyền
tốt thì hoàn toàn có thể bảo đảm dân chủ. Hơn nữa, chúng ta còn có rất nhiều
đoàn thể quần chúng, qua các đoàn thể này người dân có thể thực hiện quyền
làm chủ của mình.
2. trên địa bàn đô thị
Đô thị là nơi mật độ dân số tập trung cao, dân cư làm nhiều ngành nghề
khác nhau, ít có quan hệ mật thiết lâu đời trong cộng đồng dân cư, nói chung là
dân cư có nguồn gốc từ nhiều vùng đất nước, trình độ dân trí cao, lượng thông
tin nhiều, không gian tương đối hẹp, giao thông thuận lợi, giữa người dân với
cấp chính quyền cao nhất của đô thị khá gần gũi.
Một điểm đặc biệt rất quan trọng là hệ thống hạ tầng cơ sở (đường sá,
điện, nước…), các công trình phúc lợi (bệnh viện, nhà văn hóa, trường học...)
19


đều do thành phố thống nhất quản lý, thống nhất đầu tư, thống nhất duy tu hay
nâng cấp.
Vấn đề trị an xã hội phải chỉ huy, điều hành giải quyết ở cấp thành phố.
Quận và phường không đủ sức đầu tư và cũng không thể đầu tư giải quyết các
vấn đề theo lối “cắt khúc”. Không thể có chính sách phường này, quận này khác
với phường kia, quận kia mà phải giải quyết đồng bộ, đồng loạt thống nhất trong
phạm vi toàn thành phố, do HĐND thành phố bàn bạc, ra quyết định giải quyết.
Các Nghị quyết của HĐND quận hay phường đều không có khả năng thực
thi mà đều phải chuyển lên cấp thành phố xem xét. Do đó, hoạt động của HĐND
quận, phường trở nên hình thức, tốn kém…, Hơn nữa, giữa các quận, phường
trong cùng thành phố không có những nét đặc thù địa phương hay lãnh thổ.
Vì những lý do trên, không nên tổ chức HĐND quận, phường trên địa bàn
thành phố. Nên củng cố về mặt tổ chức, điều kiện hoạt động, nâng cao chất
lượng đại biểu cho HĐND thành phố, đủ sức làm tròn nhiệm vụ và chức năng
của mình, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính quyền thành phố,
phục vụ tốt cho công dân, cho nhiệm vụ chính trị.
Ngoài cấp chính quyền thành phố, có đủ hai bộ phận HĐND và UBND
(gọi là cấp chính quyền hành chính), trên địa bàn thành phố có thể tồn tại cấp đại
diện hành chính ở quận và phường. Các Ủy ban quận, phường chỉ làm nhiệm vụ
quản lý hành chính Nhà nước đối với một số mặt được chính quyền thành phố,
phân cấp giao cho hay thực hiện chế độ uỷ quyền.
Những người làm việc trong các uỷ ban có nghiệp vụ tinh thông về hành
chính, có năng lực do được đào tạo đầy đủ, làm việc lâu dài, ổn định và được
chính quyền cấp trên (sau khi làm đủ các thủ tục cần thiết) bổ nhiệm vào các
chức danh quận trưởng tùy theo năng lực và phẩm chất.

20


CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Công tác cải cách hành chính đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ
đạo và đã dần đi vào chương trình, kế hoạch. Ban chỉ đạo cải cách hành chính
các cấp tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động. Trưởng ban phải là
người đứng đầu như bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.
Các ban chỉ đạo cải cách hành chính có quy chế làm việc, phân công rõ trách
nhiệm các thành viên và định rõ chương trình, kế hoạch, mục tiêu phương
hướng biện pháp cụ thể, sát hợp.
Cần chỉ đạo thí điểm, làm thử, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời.
Tăng cường công tác kiểm tra việc triển khai cải cách hành chính qua đó chấn
chỉnh ngay những mặt yếu kém và có biện pháp khắc phục kịp thời.
Công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính cần được coi
trọng và đẩy mạnh. Nói rõ những nơi làm tốt và kinh nghiệm hay trong cải cách
hành chính, và chỉ rõ những vấn đề tồn tại, bất cập, đặc biệt là thái độ phục vụ
nhân dân của cán bộ công chức trong từng đơn vị. Thực sự coi cải cách hành
chính là khâu đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, công chức, nhất là người
đứng đầu cơ quan, đơn vị tạo chuyển biến về nhận thức và tinh thần trách nhiệm
của mọi người. Tập trung chỉ đạo, điều hành nghiêm túc, thường xuyên đạt tới
sự đồng bộ, gắn kết giữa cải cách hành chính với công tác chỉnh đốn, xây dựng
Đảng, với các cuộc cải cách về kinh tế, lập pháp, tư pháp. Khắc phục các hoạt
động hình thức của ban chỉ đạo cải cách hành chính, để có nội dung sinh hoạt
thường xuyên, chất lượng, hiệu quả cao. Đội ngũ công chức chuyên làm công
tác cải cách hành chính cần được tăng cường. Đầu tư về nhân lực, trí lực, nguồn
lực cho cải cách hành chính. Tăng kinh phí triển khai các đề án, nhiệm vụ cải
cách hành chính. Thống nhất trong bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ cải
cách hành chính ở cả bộ, ngành trung ương và địa phương.
21


Công tác chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính bảo đảm tính thường
xuyên, liên tục, nhất quán và quyết liệt đúng với vị trí là một trong 3 giải pháp
quan trọng thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sớm
nghiên cứu, kết luận và thể chế hóa các vấn đề liên quan mật thiết tới cải cách
hành chính. Tiến hành đồng bộ cải cách hành chính, cải cách kinh tế, cải cách tư
pháp, cải cách lập pháp và đổi mới từng bước hệ thống chính trị. Có biện pháp,
cơ chế tạo động lực, hưởng ứng cải cách của đa số cán bộ, công chức. Xử lý
nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, kém phẩm chất trong thực thi công
vụ.
Từ kết quả đạt được và vấn đề đặt ra, công tác cải cách hành chính thời
gian tới cần tập trung làm tốt những việc sau:
1. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình trao quyền chủ động cho chính quyền địa
phương
Đối với cấp tỉnh, vấn đề chủ yếu là đề cao thẩm quyền quyết định các vấn
đề như thu, chi ngân sách, sử dụng đất đai, quy hoạch và kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương. Bởi lẽ quá trình phi tập trung hóa trong nước
cùng với quá tình toàn cầu hóa đang là xu thế khách quan cần được nhận thức
đầy đủ đúng đắn, kịp thời trong quá trình quản lý, điều hành ở địa phương. Cùng
với đó, tính lưu động ngày càng tăng của hàng hóa và con người, những cập nhật
về thông tin đã giúp cho chính quyền địa phương điều hành có hiệu quả các hoạt
động kinh tế - xã hội.
Song song với quá trình phi tập trung hóa làm xuất hiện nhu cầu tập trung
hóa nhằm đáp ứng những thách thức của quá trình toàn cầu hóa. Từ kết quả phát
triển kinh tế - xã hội trong những năm qua cho thấy phạm vi điều hành ở cấp
tỉnh càng trở nên quan trọng. Sự năng động của lãnh đạo chính quyền địa
phương sẽ tạo nên những bộ mặt mới hấp dẫn, thu hút đầu tư phát triển kinh tế,
xóa đói giảm nghèo.
2. Đề cao trách nhiệm của viên chức, công chức nhà nước thực hiện dân
chủ, công khai, minh bạch

22


Các yếu tố nêu trên không tồn tại độc lập mà tác động lẫn nhau như một
công cụ giúp cho quản lý hành chính đạt kết quả. Chế độ trách nhiệm được quy
định cụ thể rõ ràng, xác định rõ phận sự là của ai, về cái gì, như thế nào trong
công việc.
Tính công khai, minh bạch phát huy quyền làm chủ đối với mọi cấp, mọi
cơ quan, mọi người dân không chỉ về những công việc, về các thông tin mà còn
tăng tính chính xác, kịp thời, dễ hiểu của các thông tin trong thực hiện các khâu
của cải cách hành chính. Trách nhiệm của công chức và công dân khi được công
khai, minh bạch là để tham gia vào những công việc có liên quan xây dựng các
chính sách và chương trình kinh tế - xã hội đúng đắn của chính quyền địa
phương. Đồng thời giúp họ tham gia với tư cách là những chủ thể các hoạt động
kiểm soát đối với các cơ quan liên quan. Tăng chế độ trách nhiệm của công
chức, viên chức thể hiện chất lượng và hiệu quả công việc được giao trước cơ
quan quản lý và trước nhân dân. Tăng chế độ trách nhiệm là xác định rõ vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, từng đơn vị trong bộ máy công
quyền. Nó nói rõ anh là ai, làm gì, làm như thế nào, tránh chung chung, trùng
lắp, chế độ chức trách không cụ thể, đùn đẩy nhau gây ách tắc, trì trệ, khó quy
trách nhiệm khi công việc không hoàn thành.
3. Xây dựng và quản lý nguồn nhân lực của bộ máy hành chính nhà nước
Để xây dựng nguồn nhân lực cần thường xuyên đào tạo công chức hành
chính và bảo đảm đội ngũ ấy hoạt động có hiệu quả trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Đồng thời phát triển thể chế quản lý từ những quy định và biện pháp kém hiệu
quả trở thành tích cực, có hiệu quả cao.
Củng cố tổ chức, phát triển nguồn nhân lực hướng tới những quy tắc hợp
lý, có hiệu quả cao của từng công chức, tổ chức trong bộ máy hành chính. Phát
triển nguồn nhân lực cần chuẩn hóa đầu vào thông qua chế độ tuyển chọn cạnh
tranh để có được những người thực đức, thực tài tận tụy với công việc, hết lòng
phục vụ nhân dân. Có cơ chế loại bỏ những phần tử sâu mọt, cơ hội nịnh bợ,
chui vào nắm giữ những trọng trách trong bộ máy, cơ quan hành chính nhà
nước. Cùng với đó, có chế độ lương thích hợp, bảo đảm tiền lương là nguồn thu
23


chủ yếu, chính đáng đủ bảo đảm cuộc sống của người lao động trong bộ máy
nhà nước để họ yên tâm phục vụ lâu dài. Đồng thời giáo dục tinh thần phục vụ,
chống quan liêu, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước.
4. Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước kết hợp với quá trình
ra quyết định và thực thi quyết định
Việc ban hành các quyết định có hiệu quả, phù hợp với thực tế, có giá trị
thực thi là chức năng cơ bản của bộ máy nhà nước. Khắc phục tính chủ quan,
duy ý chí, ban hành nhiều quy định, quyết định, không tính đến các điều kiện và
hiệu quả thực thi làm giảm lòng tin của nhân dân và mất đi tính nghiêm minh
của cơ quan ban hành quy định. Đồng thời phải tính đến khả năng điều hành
thực thi, tránh gây lãng phí, làm cho các quy định có sức sống trong xã hội. Để
được như vậy cần xây dựng cơ chế lập và điều phối chính sách có hiệu quả tuân
thủ các nguyên tắc tôn trọng tính kỷ luật nhằm loại bỏ những quyết định không
có khả năng tài chính, không có khả năng thực thi.
Đề cao tính công khai, minh bạch của quá trình ra quyết định mà vẫn bảo
toàn tính tập trung cần thiết cho quá trình thảo luận dân chủ thẳng thắn. Kết hợp
tính dự báo định hướng chính sách trong điều kiện biến đổi để duy trì sự cân đối,
bình ổn, không sa vào những công việc sự vụ lúng túng, trì trệ.
Những vấn đề nêu trên cho thấy cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
không chỉ đơn thuần cải cách thủ tục hành chính mà còn là công việc của bộ
máy hành chính, là đội ngũ công chức hành chính, là xây dựng nền hành chính
công... đụng chạm đến toàn bộ các hoạt động của hệ thống chính trị. Điểm mấu
chốt có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho cải cách hành chính thành công là giữ
vững quan điểm chỉ đạo kiên quyết, tập trung của cả hệ thống chính trị và ý thức
chủ động, tự giác của mọi cán bộ, công chức nhà nước và tinh thần làm chủ của
nhân dân. Tiến hành các hoạt động cải cách hành chính một cách cơ bản, hệ
thống, đồng bộ, không chắp vá, làm tăng tính năng động sáng tạo của các cơ
quan trong bộ máy hành chính, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham
nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước ta thực sự
là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
24


5. Kiến nghị
Để phù hợp với bối cảnh và tình hình mới, quán triệt những thách thức và
khắc phục những hạn chế như đã phân tích ở trên, CCHC tại Việt Nam cần thực
hiện tốt những vấn đề sau đây:
- Về cải cách hệ thống thể chế: Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ
thống thể chế, trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước.
Những công việc chủ yếu phải làm là loại bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung những thể
chế lạc hậu, bất cập, đồng thời thiết lập các thể chế còn thiếu để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế- xã hội mới phát sinh theo tiến trình phát triển của nền kinh tế
thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để đáp ứng tốt các yêu cầu của
hội nhập kinh tế quốc tế, phải tiến tới xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ,
hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất, minh bạch, dễ đoán trước và phù hợp với luật
lệ quốc tế. Trước mắt cần xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật mới như
Pháp lệnh về Đối xử quốc gia, Đối xử Tối huệ quốc và quyền tự vệ; sửa đổi các
Luật Thương mại, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật
Ngân sách Nhà nước, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động… Bên cạnh việc hoàn
thiện về số lượng và nội dung của hệ thống thể chế, cần tăng cường dân chủ,
công khai, minh bạch trong việc soạn thảo, ban hành và thực thi nhằm nâng cao
hiệu quả và hiệu lực của thể chế. Quá trình xây dựng và thực thi thể chế cần có
sự tham gia sâu rộng và giám sát thoả đáng của các chủ thể hữu quan, đặc biệt là
của người dân và doanh nghiệp.
Một mặt rất quan trọng của cải cách thể chế là cải cách thủ tục hành
chính, hợp lý hóa trình tự giải quyết công việc trong quan hệ giữa các cơ quan
công quyền với xã hội dân sự, với công dân, với doanh nghiệp. Khắc phục
những hạn chế trước đây, cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn tới phải
được được thực hiện song hành với những mặt khác của cải cách hành chính
như đẩy mạnh phân cấp, xã hội hoá các dịch vụ công, cải cách tiền lương, ứng
dụng công nghệ điện tử và viễn thông… Mục tiêu cơ bản của cải cách là đơn

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×