Tải bản đầy đủ

Phân tích tình hình cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP công thương ngũ hành sơn trong hai năm 2016 2017

Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý cua Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện chủ trương trên, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 - 1990) đến
nay, Đảng và Nhà nước đã ban hàng một số chủ trương, chính sách nhằm khuyến
khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Từ đó, các loại hình
doanh nghiệp như doanh nghiêp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã phát
triển nhanh chóng, đang trở thành lực lượng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta.
Song nhìn chung quy mô hoạt động của các doanh nghiệp đến nay ở nước ta
có tới 70% doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hầu hết các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh thuộc loại vừa và nhỏ. Hiện nay, DNNN ở nước ta tuy có tốc độ phát
triển tương đối khá nhưng đang gặp khó khăn: thiết bị, công nghệ lác hậu, trình độ
tổ chức và quản lý yếu kém, giá thành sản phẩm cao, thị trường không ổn định, bị
hàng hoá nhập lậu và hàng hoá của các doanh nghiệp lớn cạnh tranh gay gắt.
Nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là vốn hiện có của các DNNN rất ít trong

khi đó nhu cầu vốn để các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,
công nghệ lại đòi hỏi rất lớn. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng tín dụng ngân hàng
nhằm tìm ra các biện pháp chủ yếu mở rộng một vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết.
Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng nói trên, em xin chọn đề tài: "Phân
tích tình hình cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP
Công Thương Ngũ Hành Sơn Trong hai năm 2016-2017


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG
VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.
I.NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm:
. Theo điều 20 của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam (Luật số
02/1997/QH10) ban hành ngày 26/12/97 thì: ”Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được
thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh
doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Như vậy, Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng gồm có: ngân hàng thương mại(NHTM), ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Trong đó, NHTM là loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu là
thường xuyên huy động tiền gửi của khách hàng để cho vay, cung cấp các dịch vụ ngân
hàng nhằm mục đích sinh lời.

2 Chức năng của NHTM
2..1. Chức năng trung gian tài chính:
Đây chính là việc NHTM thực hiện trung gian giữa tiết kiệm và đầu tư.Trong
bất kỳ nền kinh tế nào, sự tiếp cận giữa các chủ thể có tiền nhàn rỗi và những chủ
thể có nhu cầu về tiền gặp phải nhiều hạn chế, khó khăn vì người có nhu cầu rất khó
tìm gặp người có khả năng cung cấp và ngược lại. Hoạt động của NHTM đã góp
phần khắc phục được hạn chế trên, cụ thể NHTM đã thu nhận những nguồn tiền
bằng nhiều cách như huy động tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu hay vay của
các TCTD khác và đem số tiền đó cho vay đối với những chủ thể có nhu cầu cần


tiền để sử dụng vào sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và đời sống.
Hiện nay các tổ chức tài chính khác cũng thực hiện chức năng này nhưng NHTM là tổ
chức thực hiện chức năng này nhiều nhất. Như vậy, NHTM đã thực hiện chức năng trung
gian tín dụng với tư cách vừa là người cho vay vừa là người đi vay. Ngân hàng đã tập trung
được nguồn vốn từ những người mà vì lý do nào đoú không trực tiếp dùng nó để sinh lợi
được chuyển sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi. Chính nhờ có sự tham gia


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

của ngân hàng mà tốc độ điều chuyển vốn đầu tư trở nên nhanh chóng hơn, góp phần đắc
lực vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn.

2.2. Chức năng thủ quỹ của khách hàng:
NHTM là tổ chức tài chính trung gian nên cóï chức năng trung gian thanh toán nghĩa là
NHTM là thủ quỹ của khách hàng (công chúng, tổ chức). Sau khi nhận tiền gửi, vốn huy
động khác, NHTM sẽ là người bảo quản tiền, thực hiện các giao dịch thanh toán lẫn nhau
giữa các khách hàng theo yêu cầu của khách hàng. Đồng thời NHTM mở ra các sổ sách
theo dõi dòng tiền trong các giao dịch. Ngoài ra, ngân hàng còn nhận bảo quản tài sản theo
ủy thác của khách hàng.
Thực hiện chức năng này, ngân hàng đã tiết kiệm được tiền mặt, tiết kiệm được chi phí
lưu thông tiền mặt, hạn chế vốn ứ đọng trong khâu thanh toán, thúc đẩy việc luân chuyển
tiền tệ một cách nhanh chóng.

2.3 Chức năng tạo tiền:
Kể từ khi có sự phân hóa trong hệ thống Ngân hàng, hình thành nên Ngân
hàng phát hành và Ngân hàng trung gian thì Ngân hàng trung gian không còn thực
hiện chức năng phát hành giấy bạc Ngân hàng nữa. Tuy nhiên, thông qua chức năng
trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, Ngân hàng Thương mại có khả năng
tạo ra tiền ghi sổ (hay bút tệ) thể hiện trên tài khoản tiền gởi thanh toán của khách
hàng tại Ngân hàng Thương mại. Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng,
Ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được
khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ, thanh toán.... Nếu như Ngân hàng
mới chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gởi mà chưa cho vay thì Ngân hàng chưa thể
tạo ra tiền ghi sổ, chỉ khi nào Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay, khi đó Ngân
hàng mới thực sự đã tạo ra tiền
3. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại
3.1Nghiệp vụ tài sản nợ:
Huy động các nguồn vốn trong xã hội để hoạt để hoạt động là lẽ sống quan
trọng nhất của các ngân hàng thương mại.bằng những công cụ cần thiết mà pháp
luật chô phép NHTM đã huy động vốn từ các nguồn tiền trong xã hội làm nguồn
vốn để cho vay đối với các thành phần kinh tế.Kết quả của nghiệp vụ nay là tạo ra
nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế
Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm:
-

Vốn điều lệ :Là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

của ngân hàng.Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định do Chính Phủ qui định
-Các quỹ dự trữ: đây là quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và
phát triển của ngân hàng.Gồm có các quỹ sau :

-

+

Quỹ dự trữ

+

Quỹ dự phòng rủi ro

+

Quỹ khen thưởng phúc lợi

+

Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ

Vốn huy động: đây là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, gồm có:
+

Tiền gửi không kỳ hạn của đơn vị, cá nhân

+

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

+

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

+

Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu

+

Các khoản tiền gửi khác

+

Vốn đi vay: vay từ thị trường tiền tệ, vay từ Ngân hàng Trung ương

Vốn tiếp nhận: vốn do Nhà nước cấp hay các tổ chức tài chính uỷ thác cho
ngân hàng cho vay theo mục đích chỉ định.
Vốn khác: đó là nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân
hàng( đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ...)
3.2

Nghiệp vụ tài sản có:

Nghiệp vụ tài sản có: là nghiệp vụ phản ảnh khả năng sử dụng nguồn vốn
đó với mục đích sinh lời của NHTM. Bao gồm: Nghiệp vụ ngân quỹ (Dự trữ), cho
vay, đầu tư, tài sản Có khác... Trong nghiệp vụ tài sản Có thì nghiệp vụ tín dụng và
đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất. Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ
phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của NHTM.
Tài sản ngân quỹ (dự trữ): Hoạt động của NHTM nhằm mục đích sinh lời.
Song, cần phải đảm bảo an toàn trong thanh toán để giữ vững được lòng tin của
khách hàng. Muốn vậy, các NHTM luôn dành một phần nguồn vốn, không sử dụng
nó để đáp ứng, đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả... Phần vốn để dành này gọi là
dự trữ, và tỷ lệ phần dự trữ này trên tổng số dư tiền gửi gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
do NHNN quy định trong từng thời kỳ. Có hai cấp dự trữ là: sơ cấp và thứ cấp.
Tài sản tín dụng: Là các khoản ngân hàng cấp tín dụng cho các đơn vị tổ
chức kinh tế dưới mọi hình thức. Đây được xem là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập
lớn nhất cho mọi NHTM. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là một trong những hoạt
động hàm chứa trong nó xác suất rủi ro rất cao. Do đó, bất kỳ một NHTM nào cũng
đều xây dựng một chính sách Tín dụng cho riêng mình nhằm đem lại sự an toàn và
sinh lợi tốt nhất cho hoạt động kinh doanh. Tài sản tín dụng thông thường được


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

phân bổ theo nguyên tắc phân tán (rủi ro) và nguyên tắc lựa chọn (khách hàng).
Tài sản đầu tư: Nghiệp vụ Đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản
mục cho vay; nghiệp vụ này mang lại khoản thu nhập đáng kể cho NHTM. Nhờ
hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, đồng
thời ngân hàng có thể đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình... Trong nghiệp
vụ này NHTM sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư
dưới các hình thức như: Góp vốn, mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; Mua trái
phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương; mua trái phiếu công ty...
Tài sản có khác: Là khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là
tài sản lưu động và cơ sở vật chất để tiến hành các hoạt động ngân hàng, Bao gồm:
+
kho quỹ.

Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa làm trụ sở, văn phòng, hệ thống

+

Mua sắm trang thiết bị, máy móc dụng cụ làm việc.

+

Mua sắm các phương tiện vận chuyển.

+

Các khoản phải thu, các khoản khác...

3.3
Nghiệp vụ trung gian: NHTM thực hiện các nghiệp vụ trung gian nhằm
đem lại sự tiện ích cho khách hàng để thu phí dịch vụ và hoa hồng dịch vụ. Có
những loại dịch vụ sau:
-

Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng.
Bảo quản các tài sản quý giá, giấy tờ, chứng thư quan trọng của công chúng.
Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng.
Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc, đá quý ...
Tư vấn tài chính, giúp đỡ các Công ty phát hành cổ phiếu, trái phiếu ...

II. TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.

Khái niệm tín dụng:

Tín dụng được hiểu là sự chuyển nhượng việc sử dụng một lượng giá trị dưới dạng
tiền tệ hoặc tài sản phi tiền tệ từ người cho vay sang người đi vay với những điều kiện nhất
định để sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận vốn sẽ được hoàn trả với một
lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu.(Theo quan điểm Mác).
2.
Khái niệm Tín dụng Ngân hàng:

TDNH là một giao dịch về tài sản(tiền) giữa bên cho vay( ngân hàng ) và bên
đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện với gốc và lãi cho bên đi vay khi
đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có những đặc trưng sau:
-

Tài sản giao dịch trong quan hệ TDNH là hình thức cho vay bằng tiền.


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài
sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.
Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quan hệ tín dụng.
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác người đi vay phải trả them phần lãi ngoài vốn gốc.
Trong quan hệ tin dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn
trả vô điều kiên
3.

Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng

Khách hàng vay vốn cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
-

Vay phải hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn

Vay phải có mục đích và đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa
thuận.
-

Vay phải có bảo đảm theo qui định

4.

Phân loại tín dụng:

4.1
Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Tín dụng ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng, sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn
lưu động của các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân...

Tín dụng trung hạn: thời hạn vay từ trên 12 tháng đến 5 năm, vốn vay
thường được dùng để đầu tư vào TSCĐ; cải tiến, đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng sản xuất, xây dựng các dự án mới quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, đây là loại tín
dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng cơ bản, các công
trình cơ sở hạ tầng, các thiết bị, phương tiện vận tải, mở rộng sản xuất với quy mô
lớn...
4.2
Phân loại theo hình thức đảm bảo:
Tín dụng có đảm bảo bằng : là việc thiết lập cơ sở pháp lý để các NHTM có được
một nguồn thu hợp pháp thứ hai từ một tài sản cụ thể ngoài nguồn thu nợ chính thức. Loại
này thực hiện dưới các hình thức: cầm cố, thế chấp, đảm bảo bằng tài sản hình thành từ
vốn vay hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Tín dụng không có đảm bảo : là hình thức cho vay mà cơ sở để hình thành tín dụng
chủ yếu dựa vào uy tín của của bản thân khách hàng... Từng ngân hàng có cách xác định và
lựa chọn, tuy nhiên các ngân hàng thường dựa vào: uy tín, năng lực tài chính, tính khả thi
và hiệu quả mục đích sử dụng vốn...
4.3
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn:
Tín dụng tiêu dùng: cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của các cá
nhân, gia đình trong xã hội: cán bộ công chức, viên chức, công nhân, hưu trí..
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá : cho vay đối với các doanh nghiệp và cá
thể khác để tiến hành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh...
4.4
Phân loại theo hình thái giá trị tín dụng;

Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng được cung
cấp bằng tiền.


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Tín dụng bằng tài sản: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng được
cung cấp bằng một loại tài sản nhất dịnh nào đó.
4.5

Phân loại theo thành phần kinh tế:

Tín dụng thành phàn kinh tê úquốc doanh: là loại tín dụng được cấp cho
các thành phần kinh tế thuộc sở hửu nhà nước để bổ sung vốn lưu động và vốn cố
định đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, cải tạo đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật
của đất nước nhằm phục vụ cho nhu cầu của xã hội.
Tín dụng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:là loại tín dụngđược cấp
phátcho các thành phần kinh te úkhông thuộc sở hửu nhà nước để bổ sung vốn lưu
động và cố định phục vụ cho nhu càu sản xuất kinh doanh của họ.
5.

Vai trò của tín dụng ngân hàng:

Tín dụng Ngân hàng là một hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ quốc
gia nào, nó có vai tro ìrất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy được
sử dụng một cách linh hoạt đối với mọi thành phần kinh tế .Điều này thể hiện rõ qua
vai trò của Tín dụng Ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng giúp thúc đẩy sản xuất phát triển : Tín dụng Ngân hàng
là công cụ tích tụ tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, nó cung ứng kịp thời
và đầy đủ nhu cầu vốn của Doanh nghiệp để tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất
lao động, đổi mới thiết bị ...từ đó góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất liên tục và
phát triển
Tín dụng Ngân hàng góp phần đầu tư phát triển kinh tế: Tín dụng Ngân hàng
giúp cho các Doanh nghiệp đầu tư vao những ngành có tỉ suất lợi nhuận cao, kích
thích cạnh tranh lành mạnh giữa các Doanh nghiệp, tạo điều kiện để các Doanh
nghiệp chuyển hướng phát triển kinh doanh cho phù hợp với tình hình .Qua đó các
Doanh nghiệp có được chính sách sản xuất kinh doanh mềm dẻo và linh hoạt hơn.
Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, ổn định xã hội ,tạo thêm công ăn
việc làm cho người lao động.

III. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1. Khái niệm về Doanh Nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp ngày càng phổ biến ở hầu hết các
nước. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy
mô doanh nghiệp giữa các nước. Ở nhiều nước trên thế giới, người ta dựa vào hai
tiêu thức chủ yếu là quy mô về vốn và lao động để phân loại doanh nghiệp thành
doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, việc lượng hóa quy mô
vừa và nhỏ theo tiêu thức vốn và lao động chỉ mang tính tương đối, bởi hai tiêu thức
này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển của mỗi nước, tính chất
từng ngành nghề, tính chất vùng, lãnh thổ, tính chất lịch sử...


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Ở Việt Nam, sự ra đời và phát triển của lực lượng DNNVV trong những năm
gần đây được coi như là một sản phẩm mang đậm dấu ấn đường lối đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta và cũng theo đó mà những phân định về DNNVV cũng có sự
thay đổi phù hợp. Ngày 20/06/1998, Chính phủ đã có văn bản số 681/CP-KTN về
việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNVVN, theo đó, tiêu chí
xác định DNNVV là những doanh nghiệp có số vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số
lao động trung bình hàng năm dưới 200 người...
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thì quy mô hoạt động của
các doanh nghiệp cũng có những bước phát triển vượt bậc. Để hoàn thiện các văn
bản pháp luật về DNNVV, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
ngày 23/11/2001 quy định về việc trợ giúp phát triển DNNVV đã có định nghĩa:
“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người”. Với tiêu chí xác định như trên thì tỷ trọng
DNNVV hiện nay đã tăng lên đáng kể với số lượng trên 100.000 doanh nghiệp,
chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Đa phần các DNNVV hoạt
động trong các lĩnh vực Thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xây dựng và
vận tải...với mức đóng góp đáng kể trong cơ cấu GDP hằng năm.
2.

Ưu thế của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1. DNNVV năng động, nhạy bén và dể thích ứng với sự thay đổi của thị
trường.
Đây là một ưu thế nổi trội của DNNVV. Với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản
lý gọn nhẹ, DNNVV dể dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong
những thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, DNNVV thường có mối liện hệ trực
tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động
của thị trường. Với cơ sở vật chất kỷ thuật không lớn, DNVVN đổi mới linh hoạt
hơn, dể dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu
quả nặng nề cho xã hội.
2.2.

DNNVV tạo lập dể dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.

Để thành lập một DN NVV chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu tương đối ít,
mặt bằng sản suất nhỏ, quy mô nhà xưởng không lớn. Với ưu thế nhỏ gọn, năng
động, dể quản lý, không cần nhiều vốn như vậy, các DN NVV vừa rất linh hoạt
trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách
quan tác động lên. Mặt khác, do một số Doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập
mang tính gia đình, bè bạn nên mối khi gặp khó khăn, công nhân và chủ DN dể


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

dàng tự hạ thấp tiền lương, có tinh thần nỗ lực vượt bậc để vượt qua khó khăn. Điều
đó làm cho DN NVV giảm được chi phí cố định, tận dụng lao động để thay thế vốn
bằng tiền
2.3.

DNNVV tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh, hạn chế độc quyền.

Khác với các DN lớn, cần thị trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Chính
phủ, sự độc quyền,... các DNNVV nhỏ với số lượng đông đảo, thường không có
tình trạng độc quyền. Các DNNVV dể dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh.
So với các doanh nghiệp lớn, các DNNVV có tình tự chủ cao hơn. Các DNNVV
không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và vì mưu lợi, DN NVV sẵn sàng khai
thác các cơ hội để phát triển mà không ngại rủi ro. Chính điều đó làm cho nền kinh
tế thật sự sống động và thúc đẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của đất nước.
Đây là một ưu thế quan trọng đối với các DNNVV hiện nay.
2.4.

DNNVV có thể phát huy được tiềm lực của từng địa phương.

Thành công của DNNVV là nắm bắt được những điều kiện cụ thể của đất
nước về tài nguyên, lao động. Trong các DN lớn, việc sử dụng nguyên liệu sẵn có
tại đia phương thường gặp khó khăn do trữ lượng thấp, không đảm bảo cho sản xuất
lớn. Ngược lại, các DNNVV rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động tại địa
phương và tận dụng các tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có tại địa phương, phát huy
hết tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh.
2.5. DNNVV góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng lãnh thổ
trên một quốc gia.
Với sự tạo lập dể dàng, các DNNVV có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng
lãnh thổ và tạo ra những sản phẩm phong phú và đa dạng, đồng thời tạo ra sự phát
triển cân bằng giữa các vùng trong nước. Đặc biệt các DNNVV có thể hiện diện ở
khắp mọi miền đất nước, kể cả vùng nông thôn và miền núi, những nơi thưa dân, có
cơ cấu kinh tế chưa phát triển và nhờ đó, chúng cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho
dân cư địa phương và những vùng phụ cận.
Thông thường, DNNVV cung ứng sản phẩm tại chỗ với 95% sản phẩm tiêu
thụ nội địa mà chủ yếu là tiêu thụ trong vùng, khoảng 5% sản phẩm dành cho xuất
khẩu. Như vậy, các DNNVV vừa thực sự góp phần đắc lực cho sự tăng trưởng kinh
tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
3.

Hạn chế của Doanh nghiệp Nhỏ và vừa

Bên cạnh những ưu thế kể trên, các DNNVV hiện nay cũng còn tồn tại
những hạn chế vốn có của nó. Những hạn chế chủ yếu của DNNVV bao gồm:


Chuyên đề thực tập

3.1.

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Khả năng tài chính của DNNVV hạn chế.

Với ưu thế tạo lập dể dàng do chỉ cần một lượng vốn ít, các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ gặp phải hạn chế là năng lực tài chính thấp, từ đó dẫn đến một loạt bất
lợi cho DNVVN trong sản xuất kinh doanh.
Trước hết, vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn vủa DNNVV rất hạn chế.
Các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay. Tiếp đến, do
khả năng tài chính hạn chế, quy mô kinh doanh không lớn, cũng rất khó khăn và ít
có khả năng huy động được vốn trên thị trường. Chính vì thế, các DNNVV luôn ở
trong tình trạng thiếu vốn. Điều đó khiến cho khả năng thu lợi nhuận của DNNVV
bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất. Với
tình trạng đó, khả năng tự tích lũy của các DNNVV cũng bị hạn chế.
3.2.

DNNVV thiếu thông tin, trình độ quản lý, điều hành thường bị hạn chế.

Trong thời đại ngày nay, thông tin cũng là yếu tố một đầu vào vô cùng quan
trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ do khả năng tài chính hạn chế mà DNVVN thường
khó khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất cũng
như công nghệ quản lý tiên tiến... Do đó, trình độ quản lý của đội ngũ điều hành
trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng bị hạn chế.
3.3. DNNVV bị bất lợi trong việc mua nguyên vật liệu, trang bị máy móc
thiết bị và tiêu thụ sản phẩm.
Với quy mô kinh doanh không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp, DNVVN cũng
thường không được hưởng các khoản chiết khấu hay giảm giá do mua với số lượng
ít. Trong trường hợp cần phải nhập máy móc, thiết bị của nước ngoài, DNNVV
thường thiếu ngoại tệ và không mua được trực tiếp mà thường qua đại lý trong nước
nên giá cả bị đắt hơn. Bên cạnh đó, cũng do khả năng tài chính hạn hẹp nên DN
NVV khó có thể dành ra một khoản tiền đủ lớn để thực hiện chiến lược marketing,
và do đó khïo có khả năng vươn ra thị trường thế giới.
3.4. DNNVV ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi.
Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, sản phẩm tiêu thụ không nhiều,
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể trả lương cao cho người lao động. Và cùng với
sự thiếu vững chắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV vừa khó có khả
năng thu hút được những lao động có trình độ cao trong sản xuất kinh doanh và
trong quản lý, điều hành.


Chuyên đề thực tập

3.5.

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Hoạt động của DNNVV thiếu vững chắc.

Mặc dù có ưu thế linh hoạt nhưng do khả năng tài chính hạn chế nên khi có
biến động lớn trên thị trường, các DNNVV dể rơi vào tình trạng phá sản. Hơn nữa,
trong quá trình phát triển của mình, không ít các DNNVV còn nảy sinh một số tiêu
cực ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế xã hội như hiện tượng trốn thuế, hiện
tượng chạy theo lợi nhuận quá mức mà không chú ý đến hậu quả xã hội phải gánh
chịu, kể cả một các hành vi phạm pháp như làm dối, làm ẩu không đảm bảo chất
lượng, làm hàng giả, gây ô nhiễm môi trường...
4.
Vai trò và sự cần thiết tăng cường hoạt động cho vay đối với Doanh
Nghiệp Nhỏ và vừa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, tuy mỗi nước khác nhau có những đặc điểm, mức độ phát triển khác
nhau; các DNNVV ở các nước cũng có những hạn chế nhất định,... song một điều không
thể phủ nhận là các DNNVV trong giai đoạn hiện nay luôn có một vai trò quan trọng trong
việc phát triển kinh tế xã hội, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm tỷ lệ thất
nghiệp, mở rộng ngành nghề, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần đáng kể vào tăng thu
ngân sách hằng năm... Chính vì vậy, sự tồn tại và phát triển của các DNNVV trong nền
kinh tế các nước nói chung hay Việt Nam nói riêng là một tất yếu khách quan và thật sự
cần thiết trong quá trình phát triển của quốc gia.
Ở nước ta, các DNNVV trong quá trình hoạt động, phát triển đã và đang chiếm giữ
vị trí đặc biệt trong một số ngành. Theo thống kê, tỷ trọng DNNVV trong lĩnh vực khoa
học cộng nghệ chiếm 94,1 %; sửa chửa ô tô, xe máy: 93%; giáo dục đào tạo: 87,5%; công
nghiệp chế biến: 86%; xây dựng: 85,7%... và nhiều ngành khác chiếm tỷ trọng cao. Hàng
năm, DNNVV đóng góp khoảng 30% GDP, 30% giá trị sản lượng (GTSL) công nghiệp,
78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa, 100% tổng GTSL hàng hóa ở
một số ngành như: giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ... Về xã hội, với số lượng trên
100.000 DNNVV (trong tổng số 120.000 của cả nước); đặc biệt với trên 40.000 DNNVV
ra đời sau khi có Luật Doanh nghiệp giải quyết được 40% lao động việc làm.
Như vậy, vai trò trong công cuộc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội quốc gia của
các DNNVV là không thể phủ nhận. Song, hiện nay các doanh nghiệp này đang gặp phải
không ít trở ngại, khó khăn làm hạn chế sự phát triển của mình.
Đầu tiên và cũng là lớn nhất là khó khăn về vốn. Mặc dù số lượng DNNVV chiếm
tỷ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, song tổng số vốn cho sản xuất, kinh
doanh mới chỉ bằng 30% so với tổng số vốn của các doanh nghiệp. Số vốn bình quân của
một DNNVV không quá 1 tỷ đồng (Tạp chí Tài Chính Doanh nghiệp,). Điều này một mặt
phản ánh mức độ thu hút, tập trung vốn vào sản xuất, kinh doanh của các DNNVV còn
thấp; mặt khác phản ánh các DNNVV nhìn chung đều gặp khó khăn, thiếu vốn để mở rộng
quy mô hoạt động của mình.
Khó khăn về công nghệ, kỷ thuật. Bên cạnh thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

xuất, các DNNVV còn ở trong tình trạng lạc hậu về công nghệ, trang thiết bị... do đó sản
phẩm sản xuất ra thường là chất lượng thấp, rất khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập
khu vực và thế giới.
Trình độ quản lý doanh nghiệp và tay nghề người lao động. Hiện nay các DNNVV
đa phần thiếu vắng những nhà quản lý có trình độ cao, hội đủ năng lực để chỉ đạo sản xuất,
kinh doanh theo chiến lược mong muốn, do vậy không đủ sức chèo lái để doanh nghiệp
hoạt động khi gặp khó khăn trong sản xuất như: biến động thị trường, giá cả, tỷ giá, lãi
suất, nợ, xuất nhập khẩu và các mối quan hệ khác.
Trình độ tay nghề của người lao động trong các DNNVV hiện rất thấp. Số lao động
có tay nghề giản đơn, chưa qua đào tạo bình quân chiếm khoảng 60-70%. Đây thực sự là
một khó khăn lớn đối với việc phát triển của các DNNVV. Ngoài ra, các DNNVV hiện nay
còn gặp phải một số khó khăn khác như: thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh ổn định, lâu
dài; thiếu thông tin, các phương tiện xử lý thông tin,... Đó là chưa kể đến một số khó khăn
về cơ chế như: sự thiếu bình đẳng trong kinh doanh, sự phân biệt đối xử...
Thực trạng thiếu vốn kinh doanh trên buộc các DNNVV phải có được nguồn tài trợ
để vượt qua những khó khăn và phát triển. Tuy nhiên, đối với các DNNVV, đặc biệt là các
DNNQD, việc giải quyết nhu cầu vốn chủ yếu dựa vào thị trường phi tài chính hay dựa vào
họ hàng, bạn bè... ít tiếp cận được các nguốn tín dụng chính thức thông qua các TCTD.
Tuy nhiên, việc huy động từ bạn bè mặc dù lãi suất thấp, có thể bằng không nhưng lượng
huy động lại ít, không thường xuyên, liên tục; qua các tổ chức phi tài chính thì lãi suất rất
cao (có thể 3%-6%/tháng), phải có tài sản cầm cố, thế chấp đảm bảo nhưng cũng chỉ được
vay một tỷ lệ nhỏ trên giá trị tài sản đó. Việc huy động từ kênh Ngân hàng và các TCTD là
hình thức tối ưu hơn cả với chính sách lãi suất thỏa thuận, hợp lý, ổn định cao, khối lượng
vay lớn...
Như vậy, với tất cả những thực trạng, khó khăn trên đòi hỏi cần có nhiều hơn những
chính sách, cơ chế tài chính phù hợp của Nhà nước để hỗ trợ phát triển các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ; đặc biệt là những chính sách thật sự thông thoáng về tài chính - tín dụng của
Ngân hàng Nhà nước, các Tổ chức tín dụng nói riêng trong việc cấp tín dụng cho các
DNNVV... để một mặt các Tổ chức tín dụng có thể đa dạng hóa lĩnh vực, dịch vụ kinh
doanh, tăng doanh số cho vay, phân tán rủi ro trong kinh doanh, nâng cao kết quả, hiệu quả
kinh doanh... Mặt khác các DNNVV có cơ hội vượt lên những hạn chế, khó khăn, có điều
kiện phát huy tốt nhất những ưu thế vốn có, từ đó khẳng định được vai trò to lớn của mình
trong sự tăng trưởng phát triển chung của nền kinh tế, góp phần vào sự thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

CHƯƠNG II:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG NGŨ HÀNH SƠN
A. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG NGŨ HÀNH SƠN

I. VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG NGŨ HÀNH SƠN.
1 Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Công Thương Ngũ Hành
Sơn
Ngân Hàng TMCP Công Thương Ngũ hành sơn được thành lập theo quyết định
NHCT/QĐ số 33 ngày 28/05/1990:Quyết định thành lập NHCT Khu vực III thuộc tỉnh
Quảng Nam- Đà Nẵng.Sau đó do chia tách địa chính tỉnh Quảng nam –Đà Nẵng thành tỉnh
Quảng Nam và Thành Phố Đà Nẵng,NHCT khu vực III được thành lập lại,trực thuộc chi
nhánh NHCT Thành Phố Đà Nẵng theo quyết định số 14/NHCT ngày 17/02/1996 của
Tổng giám đốc NHCT VN
Theo quyết định số 133,ngày 03/3/1997 NHCT khu vực III được đổi tên thành
NHCT Ngũ Hành Sơn-Đà Nẵng
Theo quyết định số 398/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 05/08/2017 của HĐQT ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam về việc đổi tên chi nhánh thành Ngân Hàng TMCP Công
Thương Ngũ Hành sơn có trụ sở đặt tại 49 Ngũ Hành Sơn,Đà Nẵng.
Với thời gian hoạt động trên 18 năm,hình ảnh chi nhánh NH TMCP Công Thương
Ngũ Hành Sơn đã được nhiều khách hàng biết đến và từng bước xây dựng được lòng tin ở
khách hàng.Trong những năm qua Ngân Hàng đã có những bước chuyển dịch cơ cấu phù
hợp theo hướng phát triển kinh tế của địa phương.Bằng những hoạt động của mình NH
TMCP Công Thương Ngũ Hành Sơn đã góp phần tạo them năng lực sản xuất kinh doanh
của Doanh Nghiệp,tạo them việc làm,khuyến khích hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu.
Với những kinh nghiệm tích lũy và thành tích đã đạt được,theo quyêt định số 005/QĐHĐQT-NHCT ban hành ngày 28/02/2006 thì chi nhánh NH TMCP Công Thương Ngũ Hành Sơn
trực thuộc chi nhánh cấp I trực thuộc NHCT Việt Nam.Việc nâng cấp chi nhánh lên chi nhánh cấp
I sẽ tạo điều kiện thuạn lợi để chi nhánh phát triển lớn mạnh hơn nữa,phục vụ tốt hơn nhu cầu về
vốn và các dịch vụ ngân hàng của các cá nhân,Doanh Nghiệp trên địa bàn ,đồng thời cũng là trách
nhiệm rất nặng nề đòi hỏi mỗi cán bộ không ngừng cố gắng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc các
nhiệm vụ được giao với mô hình tổ chức mới.Từng bước thực hiện thắng lợi các mục tiêu của
ngân hàng Tổng đề ra,góp phần vào sự phát triển chung của đất nước


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

2 Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng TMCP công thương ngũ hành sơn
NHCT hoạt động kinh theo luật các tổ chức tín dụng.Cũng như các ngân hang
chuyên doanh khác,ngân hang có tổ chức kinh doanh tiền tệ,tín dụng thanh toán và các
dịch vụ ngân hàng đối với mọi thành phần kinh tế.Với chức năng đó NH TMCP Công
Thương ngũ hành sơn thực hiện các công việc sau :
-Thục hiện huy động tiền gởi tiết kiệm,tiền nhàn rõi trong dân cư,tiền gởi của các tổ
chức kinh tế,phát hành kỳ phiếu các loại nhăm tạo lập nguồn vốn kinh doanh của chi
nhánh.
-Tiếp nhận vốn tài trợ ủy thác,đầu tư từ nhà nước,từ các tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước để cho vay theo các chương trình
-Cho vay ngắn hạn,trung dài hạn đối với các cá nhân,các tổ chức cá nhân,các tổ
chức thuộc mọi thành phần kinh tế
-Cho vay ủy thác theo các chương trình vố tài trợ
-Thực hiện nghiệp vụ tài trợ thương mại,thanh toán xuất nhập khẩu
-Có nhiệm vụ kiểm tra,giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng
3 Cơ cấu tổ chức và chức năng của từng bộ phận
3.1 Cơ cấu tổ chức

Quan hệ trực tiếp

Quan hệ chức năng

3.2.Nhiệm vụ các phòng ban:
-Giám đốc: Trực tiếp diều hành công việc của ngân hang,là đại diện pháp nhân của ngân
hang,chịu trách nhiêm về toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng..
-Phòng khách hàng doanh nghiệp:Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách
hang là các doanh nghiệp khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại tệ thực hiện các nghiệp
vụ lien đến tín dụng,quản lý các sản phẩm đến tín dụng phù hợp với chế độ,thể lệ hiện
hành và hướng dẫn của NHTMCP công thương việt nam
Phòng khách hang cá nhân:Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hang là các
cá nhân hộ gia đình để khai thác nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ thực hiện các nghiệp vụ lien
quan đến tín dụng ,quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ,thể lệ hiện hành và hướng
dẫn của NHTMCP công thương viêt nam.Trực tiếp quản cáo tiếp thị,và bán các sản phẩm dịch


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

vụ ngân hang cho khách hàng.
-Phòng kế toán:
+Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng nhằm khai
thac vốn bằng VNĐ và ngoại tệ
+Thực hiện các nghiệp vụ và các công việc lien quan đến công tác quản lý tài
chính,chi tiêu nội bộ tại ngân hàng
+Cung cấp các dịch vụ ngân hàng lien quan đến nghiệp vụ thanh toán,xử lý
hoạch toán các giao dịch..
+Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống,giao dịch trên máy,quản lý quỹ
tiền đến từng giao dịch viên đúng theo qui định của nhà nước và NHTMCP công thương
Việt Nam.Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
+Thực hiện công tác quản lý,duy trì hệ thống thong tin điện toán tại ngân
hàng.Bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thong suốt hoạt động của mạng máy tính của
ngân hàng về công nghệ.
-Phòng tổ chức hành chính:Thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại ngân
hàng theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước và qui định của ngân hàng công thương
việt nam.Thực hiện công tác qản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại ngân
hàng,thực hiện công tác bảo vệ, an ninh trật tự ngân hàng.
-Phòng tiền tệ kho quỹ:Có chức năng quản lý an toàn kho quỹ,quản lý quỹ tiền
mặt theo qui định của ngân hàng nhà nước với NHCT việt nam.Thực hiện chi tạm ứng và
thu tiền cho các quầy giao dịch,thu tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu,chi tiền mặt lớn.
-Tổ quản lý rủi ro:
+Có chức năng tham mưu cho ban giám đốc về công tác quản lý rủi ro,quản lý
giám sat thực hiện danh mục cho vay,đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho
từng khách hàng.Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng,dự án phương án đề nghị cấp
tín dụng.Thực hiện chức năng đánh giá quản lý rủi ro trong toàn bộ hoạt động ngân hàng
theo chỉ đạo của ngân hàng công thương việt nam
+Chịu trách nhiệm về quản lý,xử lý các khoản nợ xấu(nợ nhom 3 nhóm 4 nhóm 5
theo qui định phân loại nợ)nợ đã xử lý rủi ro,nợ được chính phủ xử lý:là đầu mối khai thác
và xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo qui định của nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu.
+Tham mưu cho ban giám đốc về dự kiến kế hoạch kinh doanh,tổng hợp phân tích
đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh,thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của ngân
hàng.
-Tổ thanh toán xuất nhập khẩu:Là tổ nghiệp vụ thực hiện nghiệp vụ về thanh toán
xuất nhập khẩu và kinh donh ngoại tệ tại ngân hàng theo qui định của ngân hàng thương


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

mai cổ phần công thương việt nam.
II. MỘT SỐ QUI ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA
1. Khái niệm: Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là loại cho vay có thời hạn dưới 1
năm nhằm bổ sung nhu câù vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh .
2. Đối tượng cho vay: là những vật tư, hàng hoá, các chi phí cấu thành nên giá thành sản
phẩm hoặc giá mua
3. Mức cho vay:
Do hai bên thoả thuận căn cứ vào nhu cầu của khách hàng, khả năng đáp ứng vốn của
ngân hàng.
4. Cách thu nợ gốc và lãi: thường thu nợ 1 lần nếu thời hạn vay vốn là ngắn và thu theo
định kỳ tháng nếu thời hạn vay tương đối dài. Thu lãi theo định kỳ có lợi hơn so với thu lãi
một lần và thu lãi kiểu này tạo ra những dòng luân chuyển có tính chất thường xuyên giúp
cho công tác cố định vốn của ngân hàng dễ dàng hơn và ngân hàng không thể theo dõi
thường xuyên tất cả các khảon vay nên điều này giúp ngân hàng sớm phát hiện được
những khoản cho vay không bình thường

III. QUI TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG
THƯƠNG NGŨ HÀNH SƠN


Chuyên đề thực tập

B.

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG NGŨ
HÀNH SƠN
I

KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA NH TMCP CÔNG THƯƠNG

NGŨ HÀNH SƠN
1.

Tình hình huy động vốn qua ba năm 2016,2016, 2017

Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của bất cứ một tổ chức kinh tế nào muốn tồn tại
và phát triển. Nguồn vốn là nhân tố vững chắc góp phần quyết định quy mô hoạt động kinh
doanh từ đó quyết định đến hiệu quả kinh doanh của các tổ chức. Đối với Ngân hàng,
nguồn vốn của NHTM chính là nguồn hình thành nên tài sản Có để đầu tư vào hoạt động
kinh doanh của từng ngân hàng. Tình hình nguồn vốn và huy động vốn của NH Công
Thương ngũ hành sơn trong hai năm qua được thể hiện trong bảng báo cáo sau: (Bảng 1).
Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua ba năm 2016, 2016, 2017.

Năm 2016
Chỉ tiêu
Số tiền

Năm 2016

Năm 2017

Chênh lệch
2016- 2017

Tỷ trọng
Tỷ trọng
Tỷ trọng
Tốc độ
Số tiền
Số tiền
Số tiền
(%)
(%)
(%)
(%)

1. Tiền gửi tiết kiệm

121.132

46,56 147.487

37,88 170.686

34,22

23.199 15,73

2. Tiền gửi TCKT

133.234

51,21 234.586

60,25 319.865

64,13

85.279 36,35

1,65

935 12,84

3. Phát hành GTCG
Tổng

5.793
260.159

2,23

7.281

1,7

8.216

100,00 389.354 100,00 498.767 100,00 109.413 28,10

Nguồn:Bảng cân đối kế toán

Đvt:Triệu đồng


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Cụ thể, tiền gửi các tổ chức kinh tế trong năm 2016 là 234.586 triệu đồng, tăng
76,07% so với năm 2016, năm 2017 là 319.865 triệu đồng, tăng 36,35% so với năm
2016. Điều này chứng tỏ ngân hàng đã có sự quyết tâm đến việc tăng nguồn vốn
huy động từ nguồn tiền gởi của các tổ chức kinh tế, bởi đây là nguồn tiền gởi
tương đối ổn định. Mặt khác, với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao của Đà
Nẵng nói chung và của quận Ngũ Hành Sơn nói riêng, cùng với chính sách mở rộng
khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế thì trên địa bàn quận ngày càng có nhiều
công ty, doanh nghiệp ra đời phần nào đã giúp cho nguồn vốn huy động từ các tổ
chức kinh tế của ngân hàng ngày càng tăng lên.
Nguồn huy động thứ hai sau nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế của
ngân hàng là nguồn tiền gởi tiết kiệm của tầng lớp dân cư, cán bộ công nhân viên,
những người có thu nhập khá ổn định gởi tiền vào ngân hàng chủ yếu để hưởng lãi
suất và an toàn nên đa phần là tiền gởi có kỳ hạn, loại tiền gửi này đạt số tiền
121.132 triệu đồng năm 2016, 147.487 triệu đồng năm 2016, 170.686 triệu đồng
năm 2017 tăng liên tục qua các năm: năm 2016 tăng 21,76% so với năm 2016,năm
2017 tăng 15,73% so với năm 2016
Ngoài ra, Ngân hàng cũng chú trọng huy động từ việc phát hành các công cụ nợ
(chủ yếu là kỳ phiếu). Mặc dù trong những năm qua doanh số huy động từ- nguồn
này vẫn tăng nhưng tỷ trọng của nguồn vốn huy động này trong tổng số vốn huy
động được vẫn thấp hơn nhiều so với các hình thức huy động khác (2,23% năm
2016, 1,7% năm 2016 và giảm còn 1.65% năm 2017).
Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất của ngân hàng, nguồn vốn
này tuy có tăng nhưng không nhiều vì chi nhánh nằm ở địa bàn trung tâm thành phố
có mật độ dân cư đông nhưng lại có nhiều tổ chức tín dụng hoạt động mạnh trên địa
bàn, chi nhánh cần phải tìm cách huy động thật nhiều nguồn tiền nhàn rỗi của dân
cư đặc biệt là những hộ bị giải toả đền bù do chủ trương mở rộng phát triển kinh tế


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

của thành phố. Tóm lại trong 2 năm qua nguồn vốn tuy không tăng nhiều như
những năm trước nhưng vẫn tăng đều và khá ổn định, đó là một thành công của chi
nhánh trong công tác tạo nguồn vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình,
đặc biệt là trong việc mở rộng hoạt động cho vay vốn đối với các DNVVN. Sự gia
tăng nguồn tiền gửi đã thể hiện sức mạnh tổng hợp của tất cả cán bộ công nhân viên
trong ngân hàng làm gia tăng uy tín và vị thế của NH TMCP Công thương Ngũ
Hành Sơn trên thị trường tín dụng.
Nhìn chung, năm 2017 đánh dấu một năm khá thành công của NH TMCP Công
Thương Ngũ Hành Sơn trong công tác huy động vốn,tuy nhiên so với qui mô hoạt
động ngay càng mở rộng,nguồn vốn huy động tại chỗ vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu vay của các đơn vị,tổ chức trên địa bàn.Trong năm tới,Ban lãnh đạo chi nhánh
sẽ có những biện pháp tăng cường nguồn huy động điều chỉnh cơ cấu huy động để
đảm bảo trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong năm tới.


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

2 Công tác cho vay:
Bảng 2: Phân tích tình hình cho vay
Đơn vị tính:Triệu đồng
Năm 2016
CHỈ TIÊU
Số tiền
1Doanh số cho vay

Tỷ trọng
(%)

Năm 2017

Số tiền

Tỷ trọng
(%)

Tốc độ(%)

66.87

12,92

100

- DNNVV

384.537

74,05

415.017 71,64

30.480

7,93

- TP khác

128.521

25,05

164.328 28,36

35.807

27,86

2Doanh số thu nợ

385.321

100

127.653

33,13

- DNNVV

302.169

78,42

379.607 74,01

77.438

25,63

- TP khác

83.152

21,58

133.367 25,99

50.215

60,39

459.258

100

106.352

23,16

- DNNVV

349.679

76,14

413.324 73,08

63.645

18,20

- TP khác

109.579

23,86

152.286 26,92

42.707

38,97

19

100

12

100

-7

-36,84

-DNNVV

11

57,89

7

58,33

-4

-36,36

-TP khác

8

42,11

5

41,67

-3

-37,50

4.Nợ xấu bình quân

5. Tỷ lệ nợ xấu

100

Số tiền

513.058

3. Dư nợ bình quân

579.345

Chênh lệch ( 08-09)

100

512.974

100

565.610

0,004

0,002

-0,002

-DNNVV

0,003

0,002

-0,001

-TP khác

0,007

0,003

-0,004

( Báo cáo nguồn - sử dụng 2016-2017)

Từ bảng số liệu ta nhận thấy, quy mô tín dụng tại NH TMCP Công thương
Ngũ Hành Sơn đã có sự gia tăng đáng kể. Cụ thể doanh số cho vay năm 2017 đạt
579.345 tr. đồng tăng 66,287 triệu đồng so với năm 2016, với tốc độ tăng 12,92%.
Có được kết quả này là do trong những năm qua tình hình kinh tế xã hội của Thành
Phố Đà Nẵng đã có sự thay đổi tích cực hơn nên đã tạo nhiều thuận lợi cho ngân
hàng gia tăng quy mô tín dụng nhằm để đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Hơn nữa, cùng với sự nổ lực của tất cả


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

nhân viên, sự đổi mới trong phong cách giao dịch với khách hàng và việc cải tiến
thủ tục, cân đối lãi xuất cho thích hợp đã giúp cho ngân hàng thu được kết quả tốt
như vậy.
Cùng với sự thay đổi về quy mô tín dụng thì cơ cấu tín dụng của ngân hàng cũng
thay đổi theo. Trong tổng doanh số cho vay thì doanh số cho vay đối với DNVVN
chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với thành phần khác. Cụ thể, năm 2016 tỷ trọng của
DNNVV là 74,05% trong tổng doanh số cho vay tương ứng ở mức 384.537 triệu
đồng , năm 2017 tỷ trọng này là 71,64% tương ứng với mức 415.017 triệu đồng, so
với năm 2016, với tốc độ tăng 7,93%. Việc tỷ trọng cho vay đối với các DNVVN
thấp như vậy là vì hầu hết các doanh nghiệp này hiện nay thường có quy mô kinh
doanh nhỏ… nên nhu cầu vốn vay không lớn. Nhưng trong những năm qua hoạt
động tín dụng đối với DNNVV cũng tăng lên đáng kể, đây là một kết quả rất khả
quan, có được kết quả như vậy là do trong thời gian qua một số DNNVV hoạt đông
kinh doanh rất có hiệu quả và được ngân hàng coi đây là mục tiêu để thu hút và gia
tăng thị phần.
Còn lại là cho vay đối với các thành phần khác, năm 2016 doanh số đạt 128.521
triệu đồng, năm 2017 doanh số cho vay là 164.328 triệu đồng như vậy doanh số cho
vay thành phần khác cũng tăng lên với mức tăng 35.807 triệu đồng trong năm 2016
tương ứng với tốc độ tăng 27,86%.
Doanh số thu nợ là một chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện mức độ trả nợ của khách
hàng, nhìn vào đó cũng có thể đánh giá được phần nào kết quả kinh doanh của Chi
nhánh. năm 2016 doanh số này là 385.321 triệu đồng, năm 2017 doanh số này là
512.974 triệu đồng như vậy năm 2017 doanh số thu nợ tăng 127.653 triệu đồng so
với năm 2016 với tốc độ tăng 33,13%. Trong đó, doanh số thu nợ của DNNVV
tăng với tốc độ cao nhưng còn ở mức rất khiêm tốn so với thành phần khác. Cụ thể,
năm 2017 doanh số thu nợ của DNNVV đạt 379.607 triệu đồng tăng 77.438 triệu
đồng so với năm 2016 với mức tăng 25,63%. Còn lại thành phần khác cũng tăng với
tốc độ 60,39%, , năm 2016 con số này là 83.152 triệu đồng, năm 2017 là 133.367
triệu đồng tăng 50.2158 triệu đồng so với năm 2016. Trong những năm qua, với
chiến lược kinh doanh là hướng tới và coi trọng công tác cho vay đầu tư phát triển
cho vay đối với những dự án có hiệu quả và đặc biệt là những dự án thuộc các lĩnh


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

vực ưu tiên phát triển của Thành phố, những dự án có sản phẩm lới thế cuả địa
phương kết hợp với việc phân tích, thẩm định trước trong và sau khi cho vay để hạn
chế tối đa các rủi ro trong công tác tín dụng, tăng khả năng thu hồi nợ đúng hạn đã
làm cho doanh số thu nợ của Chi nhánh ngày càng tăng .
Với định hướng của ngân hàng là bám sát quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội định
hướng của Thành phố Đà Nẵng trong từng giai đoạn cụ thể, phân tích thế mạnh của
địa phương. Ngân hàng đã chủ động tiếp cận và cho vay các dự án có hiệu quả,
đồng thời với chính sách lãi suất mềm dẻo, phù hợp với khả năng nhu cầu vốn kinh
doanh của khách hàng, cùng với tác phong giao dịch ân cần lịch sự đã làm cho dư
nợ bình quân cũng tăng lên, năm 2016 đạt 459.258 triệu đồng, năm 2017 tăng
565.610 triệu đồng với tốc độ tăng 23,16% so với năm 2016. Việc dư nợ bình quân
tăng là do dư nợ bình quân của các thành phần đều tăng, cụ thể đối với DNNVV thì
dư nợ bình quân đạt 349.679 triệu đồng trong năm 2016, năm 2017 là 413.324 triệu
đồng với mức tăng 63.645 triệu đồng tương ứng tốc dộ tăng 18,20% so với năm
2016. Còn lại là đối với thành khác mặc dù cũng tăng cao nhưng với tốc độ tăng
nhỏ hơn nhiều so với DNNVV, năm 2016 là 109.579 triệu đồng, năm 2017 là
152.286 triệu đồng với tốc độ tăng 38,97% năm 2016
Để đánh giá được chất lượng tín dụng thì ngân hàng thường thông qua chỉ tiêu
nợ xấu để đánh giá.Cụ thể nợ xấu 2016 là 19 tr .đồng đến năm 2017 giảm còn 12
tr.đồng và sẽ còn giảm nữa trong những năm tới.Việc giảm nợ xấu cùng với qui mô
tín dụng tăng đã làm cho tỷ lệ nợ xấu giảm đi đáng kể,cụ thể năm 2017 tỷ lệ nợ xấu
là 0,002% giảm 0,002% so với năm 2016
Như vậy trong những năm qua hoạt động cho vay của chi nhánh đều tăng trưởng
và phát triển. Điều này chứng tỏ chi nhánh rất chú trọng trong việc cải thiện nâng
cao công tác tín dụng. Đó là chủ động hơn trong việc thiết lập mối quan hệ với
những khách hàng mới và giữ vững quan hệ với những khách hàng truyền thống
nên khách hàng của chi nhánh không những gia tăng về chất lượng mà cả về số
lượng. Đây là một kết quả đáng khích lệ
3.Kết quả kinh doanh.
Khi kinh doanh thì bất kỳ người nào, tổ chức nào cũng quan tâm đến kết quả
cuối cùng mà việc kinh doanh đó mang lại.Đối với ngânhàng cũng vậy,kết quả hoạt


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

động kinh doanh cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động cũng như sự
bền vững của nó.Do đó đánh giá kết quả kinh doanh để từ đó có được cái nhìn
chuẩn xác hơn,toàn diện hơn về hoạt động của ngân hàng để từ đó có thể đưa ra
biện pháp khắc phục các mặt yếu kem và phát huy những mặt mạnh.
Mặt dù trong các năm qua Ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt
được những kết quả khả quan.Điều này được thể hiện qua bảng kết quả kinh doanh
chung của ngân hàng


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

Bảng 3. Kết quả tài chính
Đơn vị :Triệu đồng
Chênh lệch
Năm 2016

Năm 2016

Năm 2017
2016 - 2017

CHỈ TIÊU
Số tiền
I. Tổng thu nhập

Tỷ trọng
(%)

28.379

1 Thu lãi từ cho vay,trog đó 26.968

Tỷ
Số tiền trọng Số tiền
(%)

Tỷ trọng
(%)

Số tiền

Tốc độ
(%)

100

37.559

100

45.276

100

7.717

20,55

95,03

36.057

96

43.158

95,32

7.101

16,69

26,22 13.022

30,17

3.568

37,74

Từ cho vay DNNVV

5.667

21,02

9.454

2. Thu khác

1.411

4,97

1.502

4

2.118

4,68

616

41,01

II.Tổng chi phí

20.213

100

27.120

100

32.520

100

5.400

16,06

1. Trả lãi TG

15.693

77,64

19.540 72,05 22.988

70,69

3.448

17,65

2. Trả lãi vốn điều hòa

3.695

18,28

7.000

25,81

9.120

28,04

2.120

30,29

3. Chi khác

825

4,08

580

2,14

412

1,27

-168

-28,97

2.317

22,20

III. Lợi nhuận

8.166

10.439

12.756

( Báo cáo nguồn - sử dụng 2016-2017)

Hình 2.3 Sơ đồ tình hình tài chính của Chi nhánh Ngũ Hành Sơn
Tổng thu nhập tăng trưởng qua các năm 2016 đạt 28.397 triệu đồng, năm 2016
đạt 37.559 triệu đồng, năm 2017 đạt 45.276 triệu đồng, tăng 7.717 triệu đồng,so với
năm 2016 với tốc độ tăng trưởng là 20,55%. Trong đó sự đóng góp thu nhập từ lãi
cho vay là chue yếu, cụ thể năm 2017 tăng 7.101 triệu đồng so với năm 2016, với
tốc độ 16,69% . Đặc biệt, trong thu nhập từ lãi cho vay này thì thu lãi từ cho vay đối


Chuyên đề thực tập

GVHD:TH.S Trịnh Thị Trinh

với DNVVN, mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng tăng với tốc độ cao, cụ thể năm
2017 là 13.022 triệu đồng tăng với tốc độ 37,74% so với năm 2016 với mức tăng
3.568 triệu đồng.Còn lại là các khoản thu khác cũng tăng, năm 2016 là 1.411 triệu
đồng, năm 2016 là 1.502 triệu đồng, năm 2017 là 2.118 triệu đồng, năm 2017 tăng
khoảng 41,01% so với năm 2016.Có được thành quả này là nhờ chi nhánh đã thu
hút được nhiều khách hàng là các DNNQD vay vốn đồng thời cũng thu hút nhiều
khách hàng tham gia sử dụng các dịch vụ của ngân hàng mình
Về chi phí thì, tổng chi phí năm 2016 là 20.213 triệu đồng , năm 2016 là 27.120
triệu đồng , năm 2017 là 32.520 triệu đồng tăng 5.400 triệu đồng so với năm 2016
với tốc độ tăng là 16,60% . Trong đó, chi trả lãi tiền gửi chiếm tỉ trọng lớn nhất
trong tổng chi phí (77,64% năm 2016, năm 2016 là 72,05%, năm 2017 là 70,69% )
và cũng tăng từ 15.693 triệu đồng năm 2016 lên 19.540 triệu đồng lên 22.988 triệu
đồng năm 2017. Chiếm tỉ trọng thứ 2 là chi trả lãi vốn điều hòa năm 2016 là 18,28
% , năm 2016 là 25,81% , năm 2017 là 28,04% và cũng tăng lên 2.120 triệu đồng từ
năm 2016 đến năm 2017 với tốc độ tăng 30,29 % . Chiếm tỉ trọng còn lại là chi
khác . Như vậy , chi phi của chi nhánh năm 2017 cao hơn năm 2016 , tuy nhiên nhờ
vào sự điều hành của ban lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm của tập thể cán bộ nhân
viên , chi nhánh đã hạn chế được những khoảng chi không cần thiết làm cho các
khoản chi khác cũng giảm góp phần làm cho lợi nhuận của ngân hàng năm sau cao
hơn năm trước, cụ thể năm 2017 đạt lợi nhuận 12.756 triệu đồng tăng 2.317 triệu
đồng so với năm 2016 , với tốc độ tăng 22,20%
Tóm lại , trong những năm qua mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng
chi nhánh cũng hoàn thành được mục tiêu và nhiệm vụ là phải mở rộng quy mô hoạt
động kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức huy động, tiết kiệm tối đa chi phí quản
lý, nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng. Thực hiện năng động sáng tạo chiến lược
chính sách sản phẩm và chính khách hàng, hoạt động tín dụng đã vượt qua những
yếu tố bất lợi của môi trường kinh doanh, lien tục tăng trưởng vững chắc. Lợi nhuận
tăng cao, điều này thể hiện được khả năng thu hút vốn và sử dụng vốn của
NHTMCP Công thương Ngũ Hành Sơn là rất tốt và có hiệu quả
II .VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ
Cũng như bất cứ thành phần kinh tế nào,loại hình doanh nghiệp nào cũng có


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×