Tải bản đầy đủ

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH rủi RO CHO VAY tại CHI NHÁNH NHNO PTNT QUẬN NGŨ HÀNH sơn

LỜI MỞ ĐẦU
Cho vay được xem là hoạt động mang tính sống còn của hầu hết các Ngân
hàng Thương mại và nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng
xã hội của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế. Ở nước ta thì cho vay là nghiệp
vụ mang lại từ 70-95% thu nhập cho các Ngân hàng, song rủi ro cũng lớn nhất.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp đều
có chiến lược kinh doanh cho riêng mình. Để đạt được mục tiêu của mình thì đôi khi
các doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro, chấp nhận thua lỗ với hy vọng thu hút được
khách hàng, quảng bá rộng rãi sản phẩm, thương hiệu của mình và từ đó thu được lợi
nhuận lớn nhất trong tương lai.
Riêng Ngân hàng, doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt hơn đó
là tiền thì rủi ro, thua lỗ là điều không thể chấp nhận được. Vì sự thiệt hại này không
chỉ tác động đến bản thân Ngân hàng mà còn có thể gây nên sụp đổ, phá sản cả hệ
thống Ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Vì vậy, việc phân tích, xem
xét mức độ rủi ro để từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng,
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất là việc
làm hết sức cần thiết đối với các Ngân hàng.
Vì vậy, trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Quận Ngũ Hành Sơn và được tìm hiểu tình hình thực tế tại Phòng giao
dịch Bắc Mỹ An (thuộc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Quận Ngũ Hành Sơn), em đã quyết định chọn đề tài: “Phân tích tình hình rủi ro cho

vay tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Ngũ Hành
Sơn”. Mục đích của đề tài là làm rõ hơn một số vấn đề có tính chất lý luận về rủi ro
trong hoạt dộng cho vay của Ngân hàng và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất
nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHN O & PTNT Quận
Ngũ Hành Sơn để có thể hy vọng góp một phần rất nhỏ vào quá trình hoàn thiện thể lệ
chế độ, biện pháp hạn chế rủi ro, thúc đẩy sự ổn định về kinh tế, tạo điều kiện cho hoạt
động tín dụng ngày một hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho Chi nhánh NHN O & PTNT
Quận Ngũ Hành Sơn nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Nội dung luận văn gồm 3
chương:

Trang

1


Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tín dụng Ngân hàng và rủi ro cho
vay trong hoạt động Ngân hàng.
Chương II: Phân tích tình hình rủi ro cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Quận Ngũ Hành Sơn.
Chương III: Một số biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro cho vay tại
Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Ngũ Hành Sơn.
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Đặng Tùng
Lâm; các anh, chị phòng tín dụng Chi nhánh NHN O & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn và
các anh, chị ở phòng giao dịch Bắc Mỹ An.
Do sự hạn chế về thời gian, năng lực và kiến thức thực tế còn ít ỏi nên chắc
chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong thầy, cô và các anh
chị góp ý để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn.
Đà Nẵng, ngày 11 tháng 6 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Huỳnh Thị Kim Phượng

Trang

2


CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN
HÀNG


1.1 Tín dụng Ngân hàng:
1.1.1 Khái niệm:
1.1.1.1 Tín dụng:
Về mặt hình thức: tín dụng là một quan hệ vay mượn kinh tế.
Về mặt nội dung: tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng vốn
từ người cho vay sang người đi vay với những điều kiện nhất định để sau một khoảng
thời gian nhất định đã thỏa thuận vốn sẽ được hoàn trả với một lượng giá trị danh nghĩa
lớn hơn ban đầu.
1.1.1.2 Tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng mà trong đó có ít nhất một chủ thể
tham gia là Ngân hàng. Trong quan hệ tín dụng này, Ngân hàng có thể là người cho vay
và là người đi vay.
1.1.2 Nguyên tắc của Tín dụng Ngân hàng:
1.1.2.1 Nguyên tắc hoàn trả:
Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn theo thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất quyết định quá trình kinh
doanh của Ngân hàng, bởi vì muốn duy trì hoạt động kinh doanh của mình thì đồng
vốn bỏ ra phải quay trở về với Ngân hàng, điều này có thể giúp cho Ngân hàng tái tạo
nguồn vốn và trang trải chi phí. Vì vậy, khi Ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng thì
cần thiết phải có cơ sở tin rằng khách hàng vay trả nợ nếu không hoạt động tín dụng sẽ
không xảy ra.
1.1.2.2 Nguyên tắc mục đích:
Vay phải có mục đích và đảm bảo sử dụng vốn vay đúng với mục đích vay đã
thỏa thuận vì Ngân hàng bán quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Tính mục đích giúp
cho Ngân hàng xác định được người trả nợ và đo lường được xác suất rủi ro của việc
tài trợ vốn của Ngân hàng từ đó quyết định có cho vay hay không? Trong trường hợp

Trang

3


khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì Ngân hàng được quyền thu hồi nợ ngay mà
không cần phải thương lượng.
1.1.2.3 Nguyên tắc đảm bảo:
Vay thì phải có đảm bảo nhằm khẳng định khả năng chắc chắn trong việc trả
nợ và lãi theo cam kết. Vì vậy, người đi vay phải chứng minh được khả năng này. Tùy
những cách chứng minh khác nhau mà có những hình thức đảm bảo khác nhau như
bằng uy tín của người đi vay, có thể chứng minh uy tín của người đi vay bằng năng lực
tài chính, bằng tính khả thi và hiệu quả của mục đích sử dụng vốn; quan hệ của người
đi vay với chính Ngân hàng.
1.1.3 Phân loại Tín dụng Ngân hàng:
1.1.3.1 Theo thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được
sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp
và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân và được hoàn trả trong
thời gian ngắn.
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, loại tín
dụng này thường được sử dụng để cho vay phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định,
cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu
hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, loại tín dụng này
được sử dụng để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn.
1.1.3.2 Theo mục đích sử dụng vốn vay:
Tín dụng đầu tư kinh doanh: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh
nghiệp để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng cuối
cùng của cá nhân, hộ gia đình,…

Trang

4


1.1.3.3 Theo hình thức bảo đảm:
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng được Ngân hàng cung cấp
trên cơ sở tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của một hoặc nhiều
người.
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng khi cấp không cần
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ
dựa vào uy tín, năng lực tài chính của bản thân khách hàng, tính khả thi của dự án hoặc
của phương án sản xuất kinh doanh.
1.1.3.4 Theo phạm vi:
Tín dụng trong nước
Tín dụng quốc tế
1.2 Rủi ro trong cho vay Ngân hàng:
1.2.1 Khái niệm rủi ro cho vay:
Rủi ro cho vay trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy
ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Mặc dù, hiện nay hoạt động Ngân hàng có rất nhiều hình thức kinh doanh ở các
lĩnh vực khác nhau nhưng cho vay vẫn là hình thức kinh doanh chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hình thức mang lại rủi ro lớn nhất và xảy
ra thường xuyên nhất, tùy theo mức độ rủi ro cao hay thấp mà hình thức này có thể
mang lại những tác hại khác nhau đối với Ngân hàng Thương mại, như: giảm lợi
nhuận; thua lỗ hay mất khả năng thanh toán và phá sản.
1.2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay:
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan:
Là những nguyên nhân xảy ra ngoài dự tính và tầm kiểm soát của Ngân hàng.
Mặc dù, rủi ro này gây ra không phải xuất phát từ phía Ngân hàng nhưng nó buộc
Ngân hàng phải gánh chịu những tổn thất nhất định. Trong hoạt động cho vay, Ngân
hàng thường gặp phải những rủi ro khách quan sau:

Trang

5


 Do những biến động về chính trị: như những trường hợp thay đổi đảng
cầm quyền, khủng bố, biểu tình, nội chiến,… có ảnh hưởng bao trùm lên toàn bộ nền
kinh tế, điều này ít nhiều ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp nói chung và Ngân hàng nói riêng.
 Do những biến động về kinh tế: những biến động kinh tế khu vực, kinh
tế thế giới làm cho các doanh nghiệp không thể bán hàng xuất khẩu; hay sự biến động
giá cả nguyên vật liệu làm cho các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ từ đó làm tăng nợ
xấu cho Ngân hàng;…
 Do cơ chế thị trường: bản thân của thị trường là luôn vận động nên các
dự đoán, dự báo đều có sai số dẫn đến có những quyết định sai lầm kéo theo gây rủi ro
trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, thị trường luôn có tính cạnh tranh nếu tận
dụng được thế mạnh thì tồn tại và phát triển còn ngược lại thì doanh nghiệp khó tồn tại
gây khó khăn trong công tác thu nợ của Ngân hàng.
 Do sự thay đổi chính sách của Chính phủ: sự thay đổi chính sách của
Chính phủ sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, điều
đó làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, từ đó ảnh hương đến công tác thu hồi nợ
của Ngân hàng.
 Do môi trường pháp lý không đồng bộ, không sát với thực tế đã gây
khó khăn cho cho môi trường hoạt động của Ngân hàng, làm chậm quá trình xử lý thu
hồi nợ của Ngân hàng.
 Do điều kiện tự nhiên thay đổi theo hướng tác động xấu đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp, các ngành nghề kinh tế. Chẳng hạn như thiên tai, lũ
lụt, hạn hán,… gây khó khăn cho quá trình sản xuất kinh doanh làm giảm lợi nhuận
dẫn đến việc trả nợ gốc và lãi không đúng hạn.
1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra bởi hai phía: phía khách
hàng và phía Ngân hàng.
 Nguyên nhân từ phía khách hàng:
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích: khách hàng sử dụng vốn
vay không đúng với cam kết trong hợp đồng tín dụng, không tính toán cẩn thận, sử

Trang

6


dụng vốn vay không hợp lý, đầu cơ hàng hóa bị thua lỗ,… những điều này tiềm ẩn rủi
ro mất vốn cho khách hàng và từ đó ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ của Ngân hàng.
- Kinh doanh thua lỗ: vì những nguyên nhân khách quan hay chủ
quan đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn làm
cho khách hàng không có nguồn thu nhập về nên việc chi trả cho Ngân hàng đã không
thực hiện được theo đúng như cam kết trong hợp đồng tín dụng.
- Khách hàng vay có ý lừa đảo: một số khách hàng lợi dụng kẽ hở của
phát luật để tính toán lừa đảo, móc ngoặc, vi phạm pháp luật hoặc sử dụng vốn sai mục
đích, vay không có ý định trả nợ gây thất thoát tài sản của Ngân hàng.
- Thiếu năng lực sử dụng vốn: do năng lực của người điều hành kém,
không thể tổ chức nhân sự trong bộ máy của doanh nghiệp một cách hiệu quả, không
xác định được mục tiêu, không vạch ra được những phương án tối ưu trong việc sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm, không nắm được thời cơ tốt để đưa ra chiến lược đúng đắn
nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Người lãnh đạo thiếu năng lực điều
hành đã đưa ra các quyết định sai lầm làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp dẫn đến tình trạng không thể thanh toán nợ vay cho Ngân hàng đúng hạn
hoặc thậm chí mất khả năng thanh toán.
- Việc làm và thu nhập không ổn định: khách hàng vay vốn bị thất
nghiệp, tai nạn lao động,… làm cho thu nhập bị giảm thấp do vậy gây khó khăn cho
Ngân hàng trong việc thu hồi nợ khi đến hạn.
 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: trong hoạt động kinh doanh Ngân
hàng những nguyên nhân gây ra rủi ro cho một vài khoản vay cũng có thể xuất phát từ
sự yếu kém của chính bản thân Ngân hàng. Chẳng hạn:
- Thu thập thông tin về khách hàng không đầy đủ và chính xác: Ngân
hàng khi xem xét cho vay ngoài việc dựa trên những thông tin do khách hàng cung cấp
trong hồ sơ xin vay còn phải thu thập thêm các thông tin khác nhằm bổ sung, đối chiếu
thông tin được đầy đủ, chính xác. Để quyết định cho vay hay không thì Ngân hàng cần
phải tiến hành phân tích khách hàng, phân tích khoản cho vay nhưng vì thu thập thông
tin về khách hàng không đầy đủ, phân tích không phù hợp dẫn đến đưa ra quyết định
sai lầm, điều này tiềm tàng nhiều rủi ro cho Ngân hàng.

Trang

7


-

Qui trình cho vay không được tuân thủ theo đúng quy định của

-

Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng vay.

Ngân hàng.

- Xác định mức vay vượt quá khả năng trả nợ của khách hàng: do sự
yếu kém trong việc xét duyệt và kiểm tra, không nắm bắt được một cách chính xác các
tài sản và khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng tạo ra lợi nhuận tối đa trong các kì
hạn nợ mà quyết định cho vay, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận nên cho vay vượt quá khả
năng trả nợ của khách hàng. Chính điều này đã làm cho Ngân hàng gặp khó khăn trong
việc thu hồi vốn vay khi đến hạn trong trường hợp khách hàng kinh doanh không hiệu quả.
- Ngân hàng định kỳ hạn nợ không phù hợp: định kỳ hạn nợ phải căn
cứ vào thời điểm khách hàng có nguồn thu nhập về để có thể thanh toán cho Ngân
hàng. Định kỳ hạn nợ là một trong những công việc hết sức quan trọng đối với Ngân
hàng trong qui trình xét duyệt cho vay, định kỳ hạn nợ không phù hợp sẽ ảnh hưởng
không tốt đến hoạt động kinh doanh của cả Ngân hàng lẫn khách hàng vay vốn. Nếu
Ngân hàng xác định kỳ hạn nợ quá sớm so với thời điểm khách hàng thu hồi vốn về thì
sẽ gây khó khăn cho khách hàng trong việc hoàn trả; nếu Ngân hàng đình kỳ hạn nợ
quá trễ thì sẽ làm cho Ngân hàng bị ứ đọng vốn.
- Không có những biện pháp đúng và không có được những quyết
định kịp thời để xử lý những trường hợp cho vay có dấu hiệu của một khoản vay kém
an toàn.
- Thiếu kiến thức về kinh tế - kĩ thuật đặc thù của đối tượng vay và
những hiểu biết về pháp luật có liên quan.
- Không kiểm soát hoặc không theo dõi một cách chặt chẽ khoản cho
vay do sự yếu kém về năng lực chuyên môn hoặc thiếu phẩm chất.
- Rủi ro về việc nhận tài sản làm đảm bảo: do sự yếu kém của cán bộ
Ngân hàng khi tiến hành phân tích đánh giá tài sản; nhận tài sản khó thanh lý, tài sản
không thuộc quyền sở hữu của khách hàng, tài sản không được phép chuyển nhượng,
… Điều này đã gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc thu hồi nợ khi khách hàng kinh
doanh không hiệu quả.

Trang

8


- Do chính sách tín dụng của Ngân hàng không phù hợp với từng giai
đoạn kinh doanh của Ngân hàng, chẳng hạn quá thiên về lợi nhuận nên chạy theo
những khoản cho vay chứa đựng rủi ro cao mà xem nhẹ các yêu cầu đảm bảo.
1.2.3 Những dấu hiệu nhận biết những khoản nợ có vấn đề:
Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc
có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nợ
có vấn đề được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là những khoản vay đã quá hạn thanh
toán, thanh toán không đúng kì hạn mà bao gồm cả những khoản vay trong hạn nhưng
có những dấu hiệu không an toàn có thể dẫn đến rủi ro. Để quản lý nợ có vấn đề một
cách hiệu quả thì các nhà quản lý Ngân hàng cần phải sớm nhận biết những khoản nợ
có vấn đề. Một số dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề:
 Sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo
cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thoả thuận; hoặc chậm trễ trong việc liên lạc với cán
bộ tín dụng.
 Khách hàng có ý lảng tránh hoặc thoái thác trả lời cán bộ Ngân hàng.
 Phát sinh nợ quá hạn, lãi quá hạn.
 Số dư tiền gửi của khách hàng giảm một cách đột ngột.
 Tồn kho và các khoản phải thu gia tăng một cách đột ngột.
 Khiếm khuyết về nhân sự.
 Giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi.
 Có những biểu hiện không lành mạnh trong những chủ thể vay vốn.
 Doanh thu bán hàng giảm.
 Không đáp ứng được những đơn đặt hàng.
 Các khoản thu tiền về chậm.
 Nhiều tài sản không hoạt động (nhàn rỗi).
 Nhờ cậy vào chỉ một khách hàng hoặc một nhà cung cấp.
 Thay đổi phạm vi kinh doanh.
 Xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động kinh doanh.

Trang

9


 Dư luận và tin đồn.
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay:
Để đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay có thể sử dụng một số chỉ
tiêu sau:
1.2.4.1 Tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu

=

x

100

(%)

Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu cho biết trong 100 đồng dư nợ cho vay thì có bao
nhiêu đồng nợ xấu. Chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng xấu.
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 (quy định tại Điều 6 hoặc
Điều 7 của quyết định 493/2016/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Tỷ
lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
+ Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức
tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản
nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
+ Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là khả năng tổn thất cao.
+ Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ
chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
1.2.4.2 Tỷ lệ dự phòng cụ thể:
Tỷ lệ
DPCT

Dự phòng cụ thể
=

x

100

(%)

Tổng dư nợ

Tỷ lệ dự phòng cụ thể cho biết trong 100 đồng dư nợ cho vay thì có bao nhiêu
đồng được trích ra để xử lý tín dụng. Chỉ tiêu này cho biết sự chuẩn bị của Ngân hàng
cho những tổn thất có thể xảy ra.

Trang

10


Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các
khoản nợ (quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của quyết định 493/2016/QĐ-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
1.2.4.3 Tỷ lệ xóa nợ:
Nợ xóa
Tỷ lệ xóa nợ

=

x

100

(%)

Tổng dư nợ
Tỷ lệ xoá nợ cho biết trong 100 đồng dư nợ cho vay thì có bao nhiêu đồng
được xoá nợ. Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng xấu.

Trang

11


CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH RỦI RO CHO VAY TẠI CHI
NHÁNH NHNO & PTNT QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
2.1 Giới thiệu sơ lược về Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn:
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển:
Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển nhanh và mạnh với sự cạnh tranh gay
gắt giữa các thành phần kinh tế và các Ngân hàng để tranh giành thị phần. Với tầm
nhìn chiến lược của lãnh đạo NHN O & PTNT Việt Nam, các Chi nhánh cấp III đã ra
đời với mục đích là nhằm vào các thị trường vừa và nhỏ, đáp ứng nhanh chóng và kịp
thời các nhu cầu về vốn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội và nhất là tạo thế đứng
vững chắc trong việc huy động vốn nội địa tại từng địa phương. Chi nhánh NHN O &
PTNT Quận Ngũ Hành Sơn đã ra đời trong bối cảnh đó.
Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Ngũ Hành Sơn
được thành lập theo quyết định số 515/QĐ-NHNN ngày 16/12/1996 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam nhưng thực sự đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1997.
NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn thành lập chủ yếu là phục vụ đối tượng
nông dân và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên
địa bàn Quận nhằm thực hiện sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ Quận giao
phó, góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của
Thành phố.
Bên cạnh đó, Chi nhánh còn đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh
cho mọi thành phần kinh tế và cá nhân trên địa bàn Quận nhằm khắc phục tình trạng
cho vay nặng lãi thường xuyên xảy ra từ trước đến nay.
Hiện nay, Chi nhánh đã mở rộng thêm hai phòng giao dịch tại phường Bắc Mỹ
An và Non Nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp và mọi
tầng lớp dân cư dễ dàng gửi tiền, vay vốn và tiếp cận với các dịch vụ Ngân hàng nhanh
chóng, tiện lợi.
Mặc dù mới thành lập, cơ sở vật chất kĩ thuật chưa hoàn chỉnh, đội ngũ cán bộ
công nhân viên còn thiếu nhưng bằng sự chỉ đạo của ban Giám đốc cùng với sự yêu
nghề và sự nỗ lực của từng cán bộ nên hoạt động kinh doanh không ngừng phát triển cả
về số lượng lẫn chất lượng nên dần dần đã tạo được uy tín, mở rộng thị trường đầu tư,
nâng cao khả năng cạnh tranh của Chi nhánh với các Ngân hàng khác trên địa bàn.

Trang

12


2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ:
2.1.2.1 Chức năng:
Ngân hàng hoạt động kinh doanh theo luật các tổ chức tín dụng, điều lệ của
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Chức năng của NHN O & PTNT Quận Ngũ Hành
Sơn là thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ Ngân hàng đối với mọi thành
phần kinh tế, hoạt động của NHN O & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn gắn liền với phát
triển kinh tế của Quận.
2.1.2.2 Nhiệm vụ:
Chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách của Nhà nước, các quy định trong
Ngân hàng.
Nhận vốn kí thác từ các chương trình tài trợ quốc gia, nhận tiền gửi thanh
toán, nhận tiền gửi tiết kiệm và phát hành kỳ phiếu.
Tích lũy vốn trong quá trình hoạt động, đảm bảo an toàn tài sản của khách
hàng, của Nhà nước, giữ vững tỷ lệ an toàn vốn, đảm bảo khả năng thanh toán với
khách hàng trong phạm vi tài sản của mình.
Ngoài ra, NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn còn thực hiện các nhiệm vụ do
Giám đốc sở giao dịch III điều hành phân cấp của NHNO & PTNT Việt Nam.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý:

Giám đốc
Phó Giám đốc

P. Kế toán

P. Tín dụng

P. Thủ quỹ

P. Giao dịch
Ghi chú:

: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng

Trang

13

P. Hành chính


 Đứng đầu Chi nhánh là Giám đốc.
- Giám đốc là người chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của
Chi nhánh, là người có quyền quyết định cao nhất và cũng là người chịu trách nhiệm
trước tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về mọi hoạt động và quản lý kinh
doanh của Chi nhánh.
- Giám đốc là người truyền đạt kịp thời những thông tin cần thiết, những văn
bản chủ trương chính sách về huy động, về cho vay, về lãi suất, về pháp lệnh Ngân
hàng, về những quy định của ngành và của Nhà nước cho các phòng ban chức năng để
qua đó các phòng thực hiện theo đúng chế độ.
- Giám đốc giám sát toàn bộ các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, là
người trực tiếp giải quyết những vấn đề cấp bách nhất trong hoạt động kinh doanh của
Chi nhánh.
 Dưới quyền Giám đốc là Phó giám đốc phụ trách kinh doanh, thay mặt Giám
đốc điều hành về mặt kinh doanh, chịu trách nhiệm cá nhân trước Giám đốc và trước
pháp luật về những công việc mà mình giải quyết khi thay mặt Giám đốc điều hành về
các hoạt động tiền tệ, tín dụng Ngân hàng.
 Phòng tín dụng gồm một trưởng phòng, một phó phòng và ba cán bộ tín dụng.
Phòng có chức năng giao dịch với khách hàng vay vốn, hướng dẫn khách hàng làm thủ
tục, hồ sơ xin vay, có trách nhiệm kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng
trước, trong và sau khi vay để có cách giải quyết kịp thời tránh gây thiệt hại và gây rủi
ro cho Ngân hàng.
Bên cạnh đó phòng tín dụng còn có trách nhiệm lập báo cáo, cán bộ tín dụng có
quyền từ chối cho vay đối với những dự án không có tính khả thi, có quyền đình chỉ
cho vay, thu hồi vốn trước thời hạn nếu vốn vay được khách hàng sử dụng không đúng
mục đích, có quyền khởi kiện khách hàng trước tòa án kinh tế nếu làm sai những cam
kết trong hợp đồng tín dụng.
 Phòng kế toán gồm một kế toán trưởng, một kế toán chi tiêu, một kế toán
tiền gửi, một kế toán liên hàng và một kế toán thanh toán. Phòng có nhiệm vụ hạch
toán các nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, thanh toán liên hàng; thanh toán bù trừ; mở tài
khoản cho khách hàng; các dịch vụ thanh toán như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi,...

Trang

14


 Phòng ngân quỹ có chức năng thực hiện các nghiệp vụ về ngân quỹ như
quản lý thu tiền mặt với khách hàng, thực hiện kiểm tra quỹ tiền hàng ngày và đối
chiếu khớp với số liệu sổ sách kế toán.
 Phòng hành chính có chức năng quản lý và thực hiện các công việc nội bộ,
lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến Ngân hàng và văn bản định chế của
Ngân hàng Nông nghiệp. Ngoài ra, còn tham gia vào việc khác như công tác kiểm kê ở
phòng kế toán; thông tin tuyên truyền; mua sắm, sửa chữa các tài sản, phòng cháy chữa
cháy tại cơ quan;…
 Phòng giao dịch: thực hiện việc mở tài khoản cho khách hàng, nhận tiền gửi
của khách hàng, thanh toán tiền vay, trả lãi và tiền gửi khi đến hạn, chuyển tiền thanh
toán cho khách hàng,…
2.1.4 Sơ lược về kết quả hoạt động của Chi nhánh:
2.1.4.1 Tình hình huy động vốn:
Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, với nguồn vốn tự có
của mình, dù nguồn vốn đó có lớn đến đâu đi chăng nữa thì Ngân hàng cũng không thể
đủ sức thỏa mãn tất cả các nhu cầu tín dụng của khách hàng và thực hiện được các
nghiệp vụ đa dạng của mình. Vì thế, mọi Ngân hàng bất kể với quy mô lớn hay nhỏ
muốn có đủ khả năng tài chính để tồn tại và phát triển đều phải tổ chức hoạt động huy
động vốn và NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn cũng vậy. Trong những năm qua
Ngân hàng đã có nhiều nỗ lực trong công tác huy động vốn, tổng nguồn vốn huy động
của Ngân hàng qua các năm đều tăng, tình hình huy động vốn của Ngân hàng được thể
hiện thông qua bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh NHN O & PTNT Quận
Ngũ Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm 2016
Chỉ tiêu
Tổng vốn huy động
Tiền gửi dân cư
Tiền gửi TCKT
Tiền gửi TCTD
Tiền gửi Kho bạc

ST

Năm 2017

TT(%)

126.995
115.189
11.755
51
0

100
90,70
9,26
0,04
0

ST
181.963
170.589
11.310
64
0

TT(%)
100
93,75
6,22
0,03
0

Chênh lệch
Tỷ lệ T/G
Mức T/G
(%)
54.968
43,28
55.400
48,09
- 445
- 3,79
13
25,49
0
0

(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2016 - 2017)

Trang

15


Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình nguồn vốn tiếp tục tăng tưởng và ổn
định, tổng vốn huy động của Ngân hàng năm 2017 tăng một mức so với năm 2016 là
54.968 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 43,28%. Trong đó, tiền gửi dân cư chiếm
tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn huy động, năm 2016 chiếm 90,70% tổng vốn huy
động, đến năm 2017 khoản mục này tăng 55.400 triệu đồng so với năm 2016, tương
ứng với tỷ lệ tăng 48,09% chiếm 93,75% tổng vốn huy động. Sự gia tăng vốn huy động
này là do trong những năm vừa qua tại Đà Nẵng quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ,
nhiều cá nhân, tổ chức được Nhà nước đền bù do nằm trong khu vực bị giải tỏa nên
lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn và một số đông những cá nhân này đã gửi
tiền vào Ngân hàng để vừa kiếm thêm lợi nhuận vừa đảm bảo an toàn cho đồng vốn
của mình. Lượng vốn này lớn sẽ góp phần đảm bảo cho hoạt động cấp tín dụng của
Ngân hàng nhưng lãi suất đầu vào thường cao nên sẽ phần nào làm ảnh hưởng đến lợi
nhuận của Ngân hàng.
Bên cạnh việc huy động vốn từ dân cư thì Ngân hàng còn tiến hành huy động
vốn từ các tổ chức kinh tế, năm 2016 Ngân hàng huy động từ nguồn này 11.755 triệu
đồng, năm 2017 là 11.310 triệu đồng, tức giảm 445 triệu đồng so với năm 2016, tương
ứng với tỷ lệ giảm 3,79%. Từ số liệu này cho thấy trong năm vừa qua lượng vốn huy
động từ nguồn này đang có xu hướng giảm so với những năm trước. Đây chính là một
thiệt thòi lớn cho Ngân hàng vì lượng tiền mà các tổ chức kinh tế gửi vào Ngân hàng
chủ yếu là nhằm mục đích thanh toán nên chi phí sử dụng nguồn này thường rẻ hơn. Vì
vậy, trong thời gian tới Ngân hàng cần nỗ lực hơn nữa để thu hút vốn từ nguồn này
bằng cách tạo mối quan hệ tốt với các đơn vị và tổ chức kinh tế.
Riêng đối với các loại hình tiết kiệm có kỳ hạn như trái phiếu, chứng chỉ tiền
gửi có kỳ hạn dài chưa phù hợp với nhu cầu của nhân dân trên địa bàn Quận vì nguồn
tiền chủ yếu là tiền giải tỏa đền bù, tiết kiệm dự thưởng tuy có giải thưởng cao nhưng
lãi suất huy động thấp nên đã hạn chế dần và không hấp dẫn trực tiếp đến khách hàng.
Như vậy, công tác huy động vốn qua hai năm 2016, 2017 đều đảm bảo đáp
ứng kịp thời nhu cầu vốn trong nền kinh tế. Để đạt được kết quả đó không thể không
nhắc đến sự nỗ lực của ban lãnh đạo cũng như tập thể cán bộ công nhân viên của chi
nhánh trong việc đa dạng hóa các hình thức huy động; đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
quảng cáo tại trụ sở, trên mạng truyền thanh Quận; phát tờ rơi đến tay người dân; các
hình thức khuyến mại;… từ đó giúp khách hàng có thể thấy được những tiện ích khi

Trang

16


gửi tiền vào Ngân hàng và làm cho khách hàng tin tưởng vào Ngân hàng hơn và tin
rằng việc gửi tiền này cũng là một hình thức kinh doanh nhưng ít rủi ro nhất.
2.1.4.2 Tình hình cho vay:
Cho vay được xem là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho các Ngân
hàng nói chung và Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn nói riêng. Vốn vay
của Chi nhánh trong những năm qua tài trợ chủ yếu cho các hộ sản xuất kinh doanh và
một số ít doanh nghiệp trên địa bàn Quận. Tình hình cho vay của Chi nhánh trong
những năm qua được thể hiện thông qua bảng sau:
Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại Chi nhánh NHN O & PTNT Quận Ngũ
Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm 2016
Năm 2017
Chênh lệch
Chỉ tiêu
Mức
Tỷ lệ
ST
TT(%)
ST
TT(%)
T/G
T/G(%)
Tổng dư nợ
122.104
100 102.864
100 - 19.240
- 15,76
+ Ngắn hạn
31.248 25,59 33.922 32,98
2.674
8,56
+ Trung, dài hạn
90.856 74,41 68.942 67,02 - 21.914
- 24,12
Nợ xấu
8.246
100 39.108
100 30.862
347,27
+ Ngắn hạn
2.665 32,32
4.992 12,76
2.327
87,32
+ Trung, dài hạn
5.581 67,68 34.116 87,24 28.535
511.29
Tỷ lệ nợ xấu (%)
3,67
21,05
17,38
+ Ngắn hạn
4,90
11,75
6,85
+ Trung, dài hạn
3,30
24,84
21,54
(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2017)
Qua bảng trên ta thấy tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh năm 2017 giảm
19.240 triệu đồng so với năm 2016, tương ứng với tỷ lệ giảm 15,76%. Nguyên nhân là
do trong năm qua Chi nhánh không tiếp cận được với nhiều khách hàng, biện pháp tiếp
cận khách hàng chưa thực sự phát huy hiệu quả, không tiếp cận được với những dự án
khả thi, tiến độ thực hiện dự án chậm,… Trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng thì
cho vay trung dài hạn luôn chiếm một tỷ lệ cao hơn so với cho vay ngắn hạn, năm 2016
dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 74,41% tổng dư nợ cho vay; đến năm 2017 mặc dù
tổng dư nợ cho vay trung dài hạn giảm 21.914 triệu đồng so với năm 2016 nhưng tỷ
trọng dư nợ cho vay trung dài hạn vẫn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng dư nợ, đó là
67,02%.

Trang

17


Tuy nhiên, nợ xấu trong năm 2017 lại có xu hướng gia tăng mạnh, năm 2016
nợ xấu là 8.246 triệu đồng thì năm 2017 là 39.108 triệu đồng, tăng 30.862 triệu đồng so
với năm 2016, tương ứng 347,27%. Như vậy, nợ xấu gia tăng kéo theo tỷ lệ nợ xấu
cũng tăng đột biến, tỷ lệ nợ xấu trong năm 2016 là 3,67%; thì năm 2017 là 21,05%, tức
tăng 17,38%. Thực trạng này là do năm 2017 bão số 6 đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp
đến các tỉnh miền Trung nói chung, Đà Nẵng nói riêng gây thiệt hại nặng nề từ đó tác
động đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng trong đó có Chi nhánh NHN O &
PTNT Quận Ngũ Hành Sơn. Mặt khác, dịch cúm gia cầm diễn ra trên diện rộng cũng
ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn
từ đó gây nên nợ xấu cho Ngân hàng.
2.1.4.3 Kết quả hoạt động kinh doanh:
Việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết đối
với các doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng nói riêng nhằm đánh giá thực trạng
hoạt động của mình, từ đó đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với từng thời
kỳ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Kết quả hoạt động
kinh doanh của NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHN O & PTNT
Quận Ngũ Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm
Năm
Chênh lệch
Chỉ tiêu
Mức
T/G
Tỷ lệ T/G(%)
2016
2017
1. Tổng thu nhập
11.056
19.794
8.738
79,03
- Thu lãi hoạt động TD
10.429
19.329
8.900
85,34
- Thu từ hoạt động dịch vụ
86
146
60
69,77
- Thu từ KD ngoại tệ
76
63
- 13
- 17,11
- Thu khác
455
256
- 199
- 43,74
2. Tổng chi phí
10.651
19.551
8.900
83,56
- Chi phí hoạt động TD
9.073
9.577
504
5,55
- Chi phí hoạt động dịch vụ
146
118
- 28
- 19,19
- Chi hoạt động KD ngoại tệ
28
41
13
46,43
- Chi phí khác
1.404
9.815
8.411
599,07
3. Lợi nhuận (1-2)
405
243
- 162
- 40
(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2017)

Trang

18


Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tổng thu nhập và tổng chi phí của Chi nhánh
năm 2017 đều tăng nhưng mức tăng của chi phí lớn hơn mức tăng thu nhập nên đã làm
cho lợi nhuận giảm đi 162 triệu đồng. Trong tổng thu nhập của Chi nhánh thì nguồn
thu từ lãi hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập, năm 2016
thu từ nguồn này chiếm 94,33% tổng thu nhập, năm 2017 chiếm 97,65% tổng thu nhập.
Cũng tương tự như thu nhập thì tổng chi phí của Chi nhánh trong hai năm vừa qua
cũng chủ yếu là chi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, năm 2017 chi phí cho hoạt
động tín dụng tuy có tăng so với năm 2016 nhưng tỷ trọng của khoản chi này trong
tổng chi phí lại chiếm một tỷ trọng nhỏ hơn. Cụ thể là năm 2016 khoản chi này chiếm
85,18% tổng chi phí, năm 2017 khoản chi này chỉ chiếm 48,98% tổng chi phí.
Như vậy, trong những năm qua NHN O & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn kinh
doanh tương đối hiệu quả, lợi nhuận năm 2016 là 405 triệu đồng, sang năm 2017 đạt
243 triệu đồng, giảm 162 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 40%. Tuy lợi nhuận
trong năm 2017 có giảm so với năm 2016 nhưng đó cũng là sự cố gắng hết mình của
Chi nhánh vì năm 2017 là năm có những biến động và thay đổi lớn ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của các Ngân hàng.
2.2 Phân tích tình hình rủi ro cho vay tại Chi nhánh:
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng có quan hệ với nhiều khách hàng thuộc mọi
thành phần kinh tế khác nhau do vậy nó luôn tiềm ẩn những rủi ro. Việc phân tích đánh
giá rủi ro của Ngân hàng có một vai trò hết sức to lớn và là mối quan tâm hàng đầu của
tất cả các Ngân hàng Thương mại. NHN O & PTNT Thành phố Đà Nẵng Chi nhánh
Quận Ngũ Hành Sơn hoạt động trên địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng
không ít khó khăn vì đây là khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai, hạn hán, lũ lụt,…
tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình và các doanh
nghiệp. Điều này đã làm cho việc kinh doanh của Ngân hàng ngày càng khó khăn hơn,
đặc biệt là trong hoạt động cho vay việc khách hàng không trả được nợ khi đến hạn đã
trở thành gánh nặng cho Chi nhánh và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các Ngân
hàng Thương mại nói chung, Chi nhánh nói riêng. Vì vậy, buộc Chi nhánh phải đề ra
những biện pháp kịp thời để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất có thể. Để có thể đề ra
được những biện pháp hữu hiệu chúng ta sẽ tiến hành phân tích tình hình rủi ro cho vay
tại Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Ngũ Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.

Trang

19


2.2.1 Đánh giá chung về tình hình rủi ro cho vay tại Chi nhánh:
Tại Đà Nẵng phần lớn vốn vay được các hộ gia đình sử dụng để buôn bán, đánh
bắt xa bờ, trồng hoa,…Có thể nói đây là những ngành phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên nhưng trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2017 điều kiện tự nhiên có
nhiều biến đổi bất thường nên đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của các hộ sản xuất và các doanh nghiệp trên địa bàn. Thêm vào đó là trình độ quản lý
của hộ gia đình thường không cao, quy mô nhỏ, không đủ sức cạnh tranh nên đã gây
thất thoát vốn của Ngân hàng. Tình hình chung về rủi ro cho vay tại Chi nhánh được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.4: Tình hình chung về rủi ro cho vay tại Chi nhánh NHN O & PTNT
Quận Ngũ Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm
Năm
Chênh lệch
Chỉ tiêu
Mức T/G
Tỷ lệ T/G(%)
2016
2017
1. Dư nợ bình quân
116.077 112.484
- 3.593
- 3,10
2. Nợ cần chú ý
6.619 13.021
6.402
96,72
3. Nợ xấu bình quân
4.262 23.677
19.415
455,54
4. Tỷ lệ nợ xấu (%)
3,67
21,05
17,38
5. Tỷ lệ DPCT (%)
4,10
9,85
5,75
(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2016-2017)
Từ bảng 2.4 cho thấy, dư nợ bình quân năm 2017 giảm so với năm 2016 một
khoản là 3.593 triệu đồng hay mức giảm là 3,10%. Tuy nhiên, nhìn vào dư nợ bình
quân ta chưa thể đánh giá được chất lượng tín dụng của Chi nhánh trong thời gian qua
mà phải thông qua một chỉ tiêu hết sức quan trọng là nợ xấu mới cho phép ta đánh giá
được chất lượng tín dụng tốt hay xấu. Thông qua chỉ tiêu này có thể giúp cho các Ngân
hàng đưa ra những giải pháp kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất
có thể xảy ra. Mặc dù, trong thời gian qua ban lãnh đạo Ngân hàng cũng như các cán
bộ tín dụng đã cố gắng rất nhiều trong việc giảm nợ xấu nhưng trong những năm gần
đây, đặc biệt là năm 2017 do sự khắc nghiệt của tự nhiên, sự biến động của giá cả vật
tư nên nợ xấu đã tăng lên một cách đột biến, trong khi nợ xấu bình quân năm 2016 là
4.262 triệu đồng thì sang năm 2017 là 23.677 triệu đồng, tức tăng 19.415 triệu đồng so
với năm 2016, tương ứng tỷ lệ tăng 455,54%.

Trang

20


Vậy nguyên nhân nào làm nợ xấu phát sinh mạnh như vậy trong năm 2017?
Và nguyên nhân này phát sinh từ phía khách hàng vay vốn hay từ chính bản thân Ngân
hàng? Từ báo cáo phân tích nguyên nhân nợ xấu theo thành phần kinh tế tại Ngân hàng
qua hai năm 2016 và 2017 đã cho thấy nguyên nhân phát sinh nợ xấu tập trung chủ yếu
ở nguyên nhân khách quan tức là những nguyên nhân từ phía khách hàng, không có
nguyên nhân nào phát sinh từ phía Ngân hàng. Điều này chứng tỏ đường lối lãnh đạo
đúng đắn của ban lãnh đạo Ngân hàng trong việc quán triệt tư tưởng làm việc tránh gây
thiệt hại cho Ngân hàng. Báo cáo cũng cho thấy hai nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh
nợ xấu đó là do thiên tai và do sản xuất kinh doanh thua lỗ, trong đó nợ xấu phát sinh
do kinh doanh thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nợ xấu. Cụ thể, năm 2016 do
kinh doanh thua lỗ đã làm phát sinh nợ xấu cho Ngân hàng là 8.076 triệu đồng, chiếm
97,94% tổng nợ xấu, trong khi đó do thiên tai đã làm phát sinh 170 triệu đồng nợ xấu,
chiếm 2,06% tổng nợ xấu. Đến năm 2017 nợ xấu tăng lên 30.862 triệu đồng so với năm
2016, tương ứng tỷ lệ tăng 374,27%; trong đó nguyên nhân thiên tai làm nợ xấu tăng
2.638 triệu đồng, tương ứng 1.551,76% còn nợ xấu phát sinh do kinh doanh thua lỗ
tăng 28.224 triệu đồng, tương ứng 349,48%. Như vậy, qua hai năm thì nguyên nhân
làm phát sinh nợ xấu chủ yếu là do doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, làm ăn kém hiệu
quả nên làm nợ xấu của Ngân hàng tăng lên cao. Bởi vì trong những năm gần đây
khách hàng của Ngân hàng kinh doanh kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ do công nghệ sản
xuất kinh doanh lạc hậu, giá thành sản xuất cao, sản phẩm không có tính cạnh tranh
trên thị trường. Đồng thời trong thời gian gần đây giá cả không ổn định, biến động liên
tục chẳng hạn như sự tăng vọt của giá thép, giá xăng dầu,… kéo theo chi phí sản xuất
của khách hàng tăng làm cho thu nhập của khách hàng Ngân hàng giảm thấp và gây
nên nợ xấu cho Ngân hàng.
Mặt khác, sự thay đổi khí hậu, dịch cúm gia cầm bùng phát liên tục trên diện
rộng trực tiếp ảnh hưởng đến những khách hàng kinh doanh các mặt hàng từ gia súc,
gia cầm gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của họ vì vậy làm thay đổi kế
hoạch trả nợ cho Ngân hàng khi đến hạn.
Nợ xấu năm 2017 tăng lên trong khi dư nợ lại có xu hướng giảm so với năm
2016 nên đã làm cho tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh cũng tăng theo, năm 2016 tỷ lệ nợ xấu
chỉ là 3,67% thì năm 2017 đã tăng lên đến 21,05%. Đây là một tỷ lệ đáng quan tâm, do
vậy trong thời gian tới Chi nhánh cần có những giải pháp kịp thời để tăng cường công
tác thu nợ từ đó giảm tỷ lệ nợ xấu, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trang

21


Ngoài chỉ tiêu nợ xấu ra thì dựa vào chỉ tiêu nợ cần chú ý (nợ cần chú ý bao
gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ
gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ) người ta cũng có
thể đánh giá được chất lượng tín dụng có xu hướng tốt lên hay xấu đi. Nhìn vào bảng
trên ta có thể thấy năm 2017 nợ cần chú ý tăng 6.402 triệu đồng so với năm 2016,
tương ứng tỷ lệ tăng là 96,72%. Điều đó tiềm ẩn những tổn thất cho Chi nhánh vì trong
nợ cần chú ý còn bao gồm cả nợ quá hạn và trong tương lai nếu những khoản nợ này
không được thu hồi có thể chuyển thành nợ xấu và có nguy cơ gây thiệt hại cho Chi
nhánh. Vì vậy, trong thời gian tới Chi nhánh cũng cần phải tăng cường công tác giám
sát và thu hồi những khoản nợ này.
Tóm lại, trong năm 2017 nợ xấu đã tăng mạnh so với năm 2016 và chất lượng
tín dụng cũng đang có xu hướng xấu đi. Điều này còn được thể hiện rõ hơn thông qua
tỷ lệ trích lập dự phòng để xử lý rủi ro của Ngân hàng trong hai năm vừa qua, thông
qua tỷ lệ này ta có thể thấy được sự chuẩn bị của Ngân hàng cho những tổn thất có thể
xảy ra mà Ngân hàng đã tiên đoán trước. Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy tỷ lệ
dự phòng cụ thể để xử lý rủi ro tín dụng tăng từ 4,10% lên 9,85%, tức tăng 5,75%. Có
thể nói trong hoạt động cho vay của Ngân hàng dù ở bất kì có chế nào cũng đều phát
sinh nợ xấu và khi nợ xấu phát sinh thì tỷ lệ trích lập dự phòng cũng phải tăng theo.
Nhưng một điều cũng không kém phần quan trọng ở đây là trong nợ xấu được chia làm
ba bộ phận, mỗi bộ phận có một mức độ tổn thất khác nhau và tỷ trọng của mỗi bộ
phận này trong tổng nợ xấu rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh. Để có thể thấy được nợ xấu tập trung chủ yếu ở nhóm nào ta có
thể nhìn vào bảng sau:
Bảng 2.5: Tình hình nợ xấu tại Chi nhánh NHN O & PTNT Quận Ngũ Hành
Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm 2016
Năm 2017
Chênh lệch
Chỉ tiêu
ST
TT(%)
ST
TT(%) Mức T/G Tỷ lệ T/G(%)
- Nợ xấu
8.246
100 39.108
100
30.862
374,27
+ Nhóm 3 3.002
36,41 34.389
87,93
31.387
1.045,54
+ Nhóm 4 2.342
28,40 4.227
10,81
1.885
80,49
+ Nhóm 5 2.902
35,19
492
16,95
- 2.410
- 83,30
(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2016 - 2017)

Trang

22


Qua bảng trên có thể thấy nợ xấu năm 2017 tăng 30.862 triệu đồng so với năm
2016 hay tỷ lệ tăng là 374,27% và tập trung chủ yếu ở nhóm 3. Năm 2016 nợ xấu
nhóm 3 là 3.002 triệu đồng, chiếm 36,41% tổng nợ xấu; nợ xấu nhóm 4 là 2.342 triệu
đồng, chiếm 28,40% tổng nợ xấu; nợ xấu nhóm 5 là 2.902 triệu đồng, chiếm 35,19%
tổng nợ xấu. Năm 2017 nợ xấu nhóm 3 là 34.389 triệu đồng, chiếm 87,93% tổng nợ
xấu; nợ xấu nhóm 4 là 4.227 triệu đồng, chiếm 10,81%; nợ xấu nhóm 5 là 492 triệu
đồng, chiếm 16,95%. Như vậy, năm 2017 nợ xấu nhóm 3 tăng 31.387 triệu đồng so với
năm 2016, tương ứng với tỷ lệ tăng là 1.045,54%; nợ xấu nhóm 4 tăng 1.885 triệu
đồng, tương ứng 80,49%; nợ xấu nhóm 5 giảm 2.410 triệu đồng, tương ứng 83,30%.
Qua đó, có thể thấy nợ xấu nhóm 3, nợ xấu nhóm 4 trong năm 2017 đều tăng so với
năm 2016 nhưng nợ xấu nhóm 5 thì giảm, đây cũng là dấu hiệu đáng mừng cho Chi
nhánh do nhóm 5 được xem là nhóm nguy hiểm nhất, đáng lo ngại nhất đối với các
Ngân hàng vì nợ xấu ở nhóm này chiếm tỷ trọng càng cao thì khả năng gây tổn thất
mất vốn cho các Ngân hàng là càng lớn. Trên đây mới chỉ là những phân tích chung về
tình hình rủi ro cho vay tại Chi nhánh, để hiểu rõ hơn có thể đi vào phân tích từng loại
hình cho vay cụ thể.
2.2.2 Tình hình rủi ro cho vay theo thành phần kinh tế:
Ngân hàng có quan hệ cho vay đối với mọi thành phần kinh tế, tuy nhiên trong
quá trình hoạt động mỗi thành phần kinh tế có ảnh hưởng khác nhau, để có thể nắm bắt
được mức độ rủi ro mà mỗi thành phần kinh tế gây ra cho Ngân hàng ta đi vào xem xét
bảng số liệu sau:

Trang

23


Bảng 2.6: Tình hình ro cho vay theo thành phần kinh tế tại Chi nhánh NHN O
& PTNT Quận Ngũ Hành Sơn qua hai năm 2016 - 2017.
ĐVT: triệu đồng
Năm 2016
Năm 2017
Chênh lệch
Tỷ lệ
Chỉ tiêu
ST
TT(%)
ST
TT (%) Mức T/G
T/G(%)
1. Dư nợ bình quân 116.077
100 112.484
100
- 3.593
- 3,10
+ QD
9.513
8,20
9.447
8,40
- 66
- 0,69
+ NQD
106.564 91,80 103.037
91,60
- 3.527
- 3,31
2. Nợ cần chú ý
6.619
100 13.021
100
6.402
96,72
+ QD
0
0
9.576
73,54
9.576
+ NQD
6.619
100
3.445
26,46
- 3.174 - 47,95
3. Nợ xấu BQ
4.262
100 23.677
100
19.415 455,54
+ QD
0
0
0
0
0
0
+ NQD
4.262
100 23.677
100
19.415 455,54
4. Tỷ lệ nợ xấu (%)
3,67
21,05
17,38
+ QD
0
0
0
+ NQD
4,0
37,96
33,96
5. Tỷ lệ DPCT (%)
4,10
9,85
5,75
+ QD
0
0
0
+ NQD
4,10
9,85
5,75
(Nguồn: Cân đối tài khoản tổng hợp năm 2016-2017)
Bảng số liệu trên cho thấy:
- Năm 2016 dư nợ cho vay bình quân đối với thành phần kinh tế quốc doanh
chiếm 8,20% tổng dư nợ cho vay; dư nợ cho vay bình quân đối với thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh chiếm 91,80% tổng dư nợ cho vay bình quân. Sang năm 2017 dư nợ
cho vay đối với thành phần kinh tế quốc doanh chiếm 8,40% tổng dư nợ cho vay bình
quân; chiếm 91,60% tổng dư nợ bình quân đối với thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh. Như vậy, dư nợ cho vay bình quân năm 2017 đối với thành phần kinh tế quốc
doanh giảm 66 triệu đồng so với năm 2016, tương ứng tỷ lệ giảm 0,69%; còn đối với
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh giảm 3.527 triệu đồng, tương ứng 3,31%. Tuy
nhiên, trong tổng dư nợ cho vay bình quân thì tỷ trọng dư nợ cho vay đối với thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với thành phần kinh tế
quốc doanh.

Trang

24


- Nợ cần chú ý trong năm 2017 cũng tăng lên đáng kể so với năm 2016, năm
2016 nợ cần chú ý chủ yếu tập trung ở thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì năm
2017 khoản mục này tập trung ở cả hai thành phần kinh tế. Năm 2017 nợ cần chú ý ở
thành phần kinh tế quốc doanh là 9.576 triệu đồng, tăng 9.576 triệu đồng so với năm
2016; đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là 3.445 triệu đồng, giảm 3.175
triệu đồng so với năm 2016, tương ứng tỷ lệ giảm 47,95%. Từ đó có thể thấy trong năm
2017 thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã kinh doanh hiệu quả hơn trong năm 2016
và nguy cơ tiềm ẩn tổn thất đối với Chi nhánh từ thành phần kinh tế cũng thấp hơn.
Điều này là do khi nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường thì thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh vốn đã phát triển thì nay lại càng phát triển hơn do nhanh chóng
thích ứng với cơ chế thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh
tế này thường mang lại hiệu quả cao. Chính vì lẽ đó mà dư nợ cho vay đối với thành
phần kinh tế này thường chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với thành phần kinh tế quốc
doanh, còn thành phần kinh tế quốc doanh thì chỉ những doanh nghiệp nào kinh doanh
thật sự hiệu quả mới được Chi nhánh phê duyệt cho vay.
- Nợ xấu cũng tăng lên nhưng chủ yếu tập trung ở thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh. Năm 2016 nợ xấu bình quân là 4.262 triệu đồng thì tập trung hết ở thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh, năm 2017 nợ xấu bình quân là 23.677 triệu đồng và đều phát
sinh ở thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do
sản xuất kinh doanh thua lỗ; sử dụng vốn sai mục đích; trốn nợ; hay các nguyên nhân
khác như thiên tai, hạn hán, lũ lụt,... Từ báo cáo nguyên nhân nợ xấu theo thành phần
kinh tế qua hai năm 2016 và 2017 tại Ngân hàng cho thấy năm 2016 do sản xuất kinh
doanh thua lỗ thành phần kinh tế này đã làm phát sinh nợ xấu cho Ngân hàng là 6.688
triệu đồng, do thiên tai là 1.458 triệu đồng, do nguyên nhân khác là 100 triệu đồng.
Bước sang năm 2017 tình hình nợ xấu đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
tiếp tục có xu hướng gia tăng, cụ thể nợ xấu phát sinh do sản xuất kinh doanh thua lỗ là
29.612 triệu đồng, do thiên tai là 1.350 triệu đồng. Như vậy, trong năm 2017 các doanh
nghiệp chịu thiệt hại của thiên tai, dịch bệnh,… nên đã ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh từ đó gây nên nợ xấu cho Ngân hàng. Mặt khác, do thị hiếu tiêu dùng
của khách hàng thay đổi trong khi sản phẩm mà các doanh nghiệp sản xuất lại không
có tính cạnh tranh, giá thành lại cao. Chính vì vậy mà sản phẩm khi tung ra thị trường

Trang

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×