Tải bản đầy đủ

Quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật cạnh tranh - Một số vấn đề đặt ra

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LẬP PHÁP

Chuyên đề nghiên cứu:

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
TRONG LUẬT CẠNH TRANH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
(Phục vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về Dự án Luật Cạnh tranh(sửa đổi))

Hà Nội, tháng 10/2017


MỤC LỤC

A. MỞ ĐẦU....................................................................................................... 2
B. NỘI DUNG ................................................................................................... 3
1. Thực trạng quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ...................... 3
2. Một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết.................................................... 17

C. KẾT LUẬN ................................................................................................. 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 24

1


A. MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, tập trung kinh tế tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ
biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Đây là xu hướng tất yếu khách quan của
nền kinh tế thị trường, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới xu hướng này
diễn ra rất mạnh, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng. Tập trung kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Mặt khác, tập trung kinh tế cũng tiềm ẩn nguy cơ hình thành độc quyền
hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường, gây hại cho môi trường kinh doanh, ảnh
hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả nền kinh tế nói chung.
Trước bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 đã được Quốc hội ban hành nhằm
kiểm soát tập trung kinh tế bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trì
trật tự cạnh tranh.
Tuy nhiên, qua thực tế triển khai thực hiện, quy định về kiểm soát tập
trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập
không còn phù hợp với thực tiễn. Trước tình hình đó, dự án Luật Cạnh tranh
(sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội
khóa XIV. Để có thêm thông tin tham khảo phục vụ các vị Đại biểu Quốc hội
xem xét, cho ý kiến về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), Viện Nghiên cứu lập
pháp xin giới thiệu chuyên đề nghiên cứu: “Quy định pháp luật về kiểm soát
tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh – Một số vấn đề đặt ra và hướng giải
quyết”.

2


B. NỘI DUNG
1. Thực trạng quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
1.1. Quy định của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
a) Tập trung kinh tế
Dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 (sau đây gọi tắt là Luật
Cạnh tranh) không quy định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành
vi được coi là tập trung kinh tế (TTKT). Theo đó, khoản 3 Điều 3 Luật này
khẳng định TTKT là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định TTKT là
hành vi của doanh nghiệp gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp,


mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp, các hành vi TTKT
khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, cho dù được nhìn nhận dưới nhiều
góc độ khác nhau, TTKT vẫn có 3 đặc điểm cơ bản sau: i) Chủ thể của TTKT là
các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường. Các doanh nghiệp tham gia
TTKT có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị
trường liên quan; ii) Hành vi TTKT được thể hiện dưới những hình thức nhất
định theo quy định của pháp luật; iii) TTKT đã hình thành nên doanh nghiệp có
năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn
kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có
trên thị trường. Theo pháp luật về cạnh tranh, các hình thức tập trung kinh tế bao
gồm: tập trung kinh tế theo chiều ngang, tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập
trung kinh tế theo đường chéo (tập trung kinh tế hỗn hợp). Luật Cạnh tranh quy
định có 4 hình thức tập trung kinh tế cơ bản tại Điều 16 và Điều 17 như sau:
- Sáp nhập doanh nghiệp: Khoản 1 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định:
“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ
tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp
khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”. Theo quy
định này, sáp nhập doanh nghiệp là một hình thức TTKT nên bị kiểm soát nhằm
ngăn ngừa khả năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường có thể
dẫn đến thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh.
3


- Hợp nhất doanh nghiệp: Khoản 2 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy
định: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp
nhất”. Như vậy, sau khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm
dứt tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp,
chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các
nghĩa vụ tài sản khác của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
- Mua lại doanh nghiệp: Khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định:
“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài
sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành
nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Có một số ý kiến cho rằng mua lại toàn bộ
doanh nghiệp là hình thức sáp nhập doanh nghiệp bởi khi mua lại toàn bộ doanh
nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của
doanh nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh
nghiệp đó. Về bản chất, việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ
chức giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại. Ngoài ra, khoản 1
Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ, quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, còn quy định trường hợp
mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung kinh tế.
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp: Khoản 4 Điều 17 Luật Cạnh tranh
quy định: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh
nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình để hình thành một doanh nghiệp mới”. Có thể thấy, hành vi liên doanh có
một sự khác biệt cơ bản so với hành vi hợp nhất doanh nghiệp đó là sau khi các
doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của mình
để hình thành một doanh nghiệp mới thì địa vị pháp lý của các doanh nghiệp đó
vẫn còn tồn tại.

4


Như vậy, có thể hiểu bản chất của tập trung kinh tế là hành vi của doanh
nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan. Các hành vi
này được thực hiện dưới các hình thức nhất định theo quy định của pháp luật
như: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp,
liên doanh giữa các doanh nghiệp.
b) Kiểm soát tập trung kinh tế
“Kiểm soát” được cho là xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm ngăn chặn
những điều trái với quy định.1 So với thanh tra, kiểm tra, giám sát thì kiểm soát
có phạm vi xem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn.
Tập trung kinh tế được hiểu là quyền tự do kinh doanh của các chủ sở hữu
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã chủ động tích tụ
các nguồn lực kinh tế như: vốn, lao động, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh,
khoa học & công nghệ,... nhằm hình thành một doanh nghiệp thống nhất hoặc
nhóm doanh nghiệp hoặc tập đoàn kinh tế lớn mạnh. Tuy nhiên, hoạt động tập
trung kinh tế tiềm ẩn nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh, vì vậy Nhà nước cần kiểm
soát các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế tức là kiểm soát hành vi tập
trung kinh tế nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và quyền lợi của
người tiêu dùng.
Như vậy, từ khái niệm kiểm soát và bản chất của tập trung kinh tế nêu
trên, có thể hiểu kiểm soát tập trung kinh tế là hoạt động xem xét, đánh giá,
theo dõi của cơ quan quản lý nhà nước nhằm phát hiện, ngăn ngừa những sai
phạm trong quá trình thực hiện tập trung kinh tế.
* Cơ sở pháp lý về kiểm soát tập trung kinh tế
Thứ nhất, mô hình kiểm soát tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2004 có nhiều điều khoản quy định tạo hành lang
pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung
kinh tế. Cụ thể là: (i) Mô hình TTKT hoàn toàn tự do: Luật Cạnh tranh đã sử
dụng tiêu chí thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan để kiểm soát

1

Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học – Nxb Đà Nẵng, 2003

5


TTKT. Khoản 1 Điều 20 của Luật này quy định các doanh nghiệp có quyền tự
do thực hiện TTKT trong hai trường hợp sau: Thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia TTKT thấp hơn 30% trên thị trường liên quan thì không bị cấm
và không có nghĩa vụ phải thông báo; và thị phần kết hợp của các doanh nghiệp
từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan cũng không bị cấm và không phải
thông báo, nếu sau khi thực hiện TTKT vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
theo quy định của pháp luật; (ii) Mô hình TTKT phải thông báo: Tại đoạn 1
khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy định: “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế
có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh
trước khi tiến hành tập trung kinh tế”. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp
chỉ có thể thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh sau khi đã
hoàn tất thủ tục thông báo và được cơ quan quản lý cạnh tranh chấp thuận; (iii)
Mô hình TTKT bị cấm và miễn trừ đối với TTKT bị cấm: Tại Điều 18 Luật
Cạnh tranh quy định: “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các
doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên
quan”. Quy định như vậy xuất phát từ thực tế cho thấy những vụ việc TTKT có
thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên
quan luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh, dẫn đến hình thành một doanh
nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên
quan, đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lại trên thị trường đứng trên bờ phá
sản. Tại Điều 19 Luật Cạnh tranh quy định cụ thể về trường hợp miễn trừ đối
với TTKT bị cấm. Có thể thấy, pháp luật về cạnh tranh của nước ta dựa trên
những tình huống về TTKT đã diễn ra trên thực tế để dự liệu trường hợp miễn
trừ này. Các quy định từ Điều 35 đến Điều 38 Luật Cạnh tranh quy định về trình
tự và thủ tục xin hưởng miễn trừ TTKT được thực hiện thay cho thông báo
TTKT và tương tự như thủ tục xin miễn trừ cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế
(i) Thủ tục thông báo TTKT: Trình tự xem xét một vụ TTKT ở Việt Nam
theo quy định của Luật Cạnh tranh bao gồm các bước: Doanh nghiệp nộp hồ sơ
6


thông báo TTKT; Cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý hồ sơ thông báo TTKT; Cơ
quan quản lý cạnh tranh trả lời thông báo TTKT. Luật Cạnh tranh đã quy định
cụ thể về thủ tục thông báo TTKT, trong đó đề cập cụ thể các vấn đề như: đối
tượng áp dụng; trách nhiệm của các doanh nghiệp; thẩm quyền của cơ quan
quản lý cạnh tranh và quy định về thời hạn trả lời thông báo tập trung kinh tế.
(ii) Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ TTKT: Thủ tục thực hiện
các trường hợp miễn trừ được quy định tại Mục 4 Luật Cạnh tranh và chi tiết tại
Mục 6 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP. Mà theo đó, quy trình thực hiện miễn trừ
TTKT như sau: Nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ; Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng
miễn trừ; Yêu cầu bổ sung hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ và cung cấp thông tin
từ các bên liên quan; Ra quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận cho
hưởng miễn trừ; Thực hiện TTKT; Bãi bỏ quyết định cho hưởng miễn trừ (nếu
thực hiện trong các trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Cạnh tranh); Khiếu nại
quyết định liên quan đến việc cho hưởng miễn trừ.
Thứ ba, tố tụng cạnh tranh đối với vụ việc tập trung kinh tế
Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính. Cơ
quan tiến hành tố tụng cạnh tranh gồm: cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng
cạnh tranh. Tuy nhiên Luật Cạnh tranh đã tách hai chức năng điều tra và xử lý
vụ việc tập trung kinh tế cho hai cơ quan này: cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ thụ
lý, điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh và kiểm soát quá trình tập trung
kinh tế là Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương; việc xử lý hành vi hạn
chế cạnh tranh, xử lý, giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan
đến hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ thuộc chức năng của Hội đồng cạnh tranh
Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về TTKT) ở Việt Nam như sau:
Khiếu nại về vụ việc cạnh tranh; Thụ lý hồ sơ khiếu nại; Điều tra vụ việc cạnh
tranh (Điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ
trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh) và Mở phiên điều trần.
Thứ tư, xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế
Việc xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh
tập trung xử lý các vi phạm trong những trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
7


hoặc tập trung kinh tế mà không thông báo khi thuộc những trường hợp phải
thông báo. Hoạt động điều tra, xử lý được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh
tranh theo Luật Cạnh tranh và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực cạnh tranh (thay thế Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của
Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 9 năm 2005 quy định về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực cạnh tranh).
Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/7/2014
quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh
tranh bao gồm các hành vi sau: Hành vi sáp nhập doanh nghiệp bị cấm (Điều
23); Hành vi hợp nhất doanh nghiệp bị cấm (Điều 24); Hành vi mua lại doanh
nghiệp bị cấm (Điều 25); Hành vi liên doanh doanh giữa các doanh nghiệp bị
cấm (Điều 26); Hành vi không thông báo về tập trung kinh tế (Điều 27). Các
hình thức và mức độ xử lý vi phạm pháp luật về TTKT được quy định, bao gồm:
phạt tiền; có thể bị buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã hợp nhất, sáp
nhập; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc bị buộc bán tài
sản đã mua,…( Từ Điều 23 đến Điều 27 Nghị Định số 71/2014/NĐ-CP)
Thứ năm, kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài
Về vấn đề kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài,
Luật Cạnh tranh hiện hành chưa quy định cụ thể điều chỉnh các khía cạnh của
một vụ việc TTKT có liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
quy định của pháp luật cạnh tranh mới chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh về thủ tục
chung khi tiến hành TTKT với nhà đầu tư nước ngoài và điều chỉnh việc mua cổ
phần Doanh nghiệp Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Điều 13 Nghị
định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ, hướng dẫn chi tiết thi
hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài có quyền góp vốn và mua cổ phần không hạn chế tại doanh nghiệp.
Như vậy, các quy định của pháp luật cạnh tranh về TTKT đối với nhà đầu tư
nước ngoài còn rất hạn chế và đây đang là một lỗ hổng của pháp luật về cạnh
tranh ở Việt Nam.
8


1.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
a) Kết quả đạt được
Hơn 12 năm thực thi Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh đã tích
cực triển khai theo dõi, giám sát hoạt động tập trung kinh tế đối với nhiều ngành,
lĩnh vực trong nền kinh tế và đã đạt được những kết quả nhất định. Theo Báo
cáo thống kê của Bộ Công thương về số vụ việc thông báo tập trung kinh tế và
vụ việc tham vấn về tập trung kinh tế cả trước và trong quá trình các doanh
nghiệp thực hiện tập trung kinh tế, tính đến hết năm 2016, Việt Nam đã thụ lý 32
vụ việc thông báo tập kinh tế, 45 vụ việc tham vấn tập trung kinh tế, cụ thể:
Thống kê số vụ việc tập trung kinh tế2
Năm

20052007

2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Tổng

Số vụ việc
thông báo

0

2

2

1

4

6

4

9

0

4

32

1

0

0

5

6

8

19

2

3

1

45

TTKT
Số vụ việc
tham vấn
TTKT

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động tập trung kinh tế có xu
hướng diễn ra ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
thuộc mọi thành phần kinh tế nhưng chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp lớn, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Số vụ việc cạnh tranh được phát hiện, điều tra,
xử lý trong thời gian qua còn khiêm tốn, nhưng xét trong bối cảnh chung của
nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức, nguồn nhân lực và kinh
nghiệm thực tiễn của cơ quan quản lý cạnh tranh còn nhiều hạn chế, môi trường
kinh doanh tiềm ẩn nhiều hành vi tập trung kinh tế có tác động tiêu cực đến môi
trường cạnh tranh nhất là trong những lĩnh vực có quy mô lớn hoặc đóng vai trò
thiết yếu trong nền kinh tế như phân phối, bán lẻ, năng lượng, dược phẩm, vận

2

Bộ Công thương, Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh, ngày 7 tháng 7 năm 2017

9


tải, du lịch, … thì quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh
đã dần phát huy tác dụng.
Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn nhưng trong thời gian qua, việc
thực thi các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế của Việt Nam đã
ngăn chặn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến thị trường, môi trường kinh
doanh và quyền lợi của người tiêu dùng. Thông qua quá trình điều tra, xử lý các
vụ việc cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh đã đưa ra một số khuyến nghị đối
với doanh nghiệp về việc tuân thủ quy định pháp luật về tập trung kinh tế, tránh
thực hiện các hành vi vi phạm trong tương lai.
b) Hạn chế, bất cập
Sau hơn 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi
hành về kiểm soát tập trung kinh tế, bên cạnh những kết quả đạt được, quy định
pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như
sau:
Thứ nhất, quy định về tiêu chí để kiểm soát tập trung kinh tế chưa đầy đủ
và chưa phù hợp với thực tiễn. Cụ thể:
- Về tiêu chí thị phần: Luật Cạnh tranh lấy tiêu chí thị phần kết hợp của
các bên tham gia tập trung kinh tế làm căn cứ để đặt ra ngưỡng kiểm soát tập
trung kinh tế và đánh giá vụ việc tập trung kinh tế. Tại Điều 18, Luật Cạnh tranh
2004 quy định: Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp
tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường
hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi
thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy
định của pháp luật; Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định: Thị phần của
doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm
giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan
hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng
doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ
10


đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm.
Trên thực tế, cơ quan quản lý cạnh tranh khó xác định, khó thực hiện tiêu
chí thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. Bởi vì thị phần
luôn là một đại lượng thay đổi theo thời gian và theo nhu cầu của thị trường. Do
đó, việc xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp chỉ trong một tháng,
quý, năm ở thời điểm thực hiện hành vi là chưa hợp lý, đầy đủ. Cơ quan quản lý
cạnh tranh rất khó thu thập dữ liệu về thị phần. Mặt khác, thị phần chỉ là một
trong những yếu tố thể hiện sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, mà chưa
phản ánh đầy đủ bản chất sức mạnh thị trường của doanh nghiệp.
Ngoài ra, theo Điều 18 Luật Cạnh tranh nêu trên, chỉ kiểm soát và ngăn
cấm các hành vi tập trung kinh tế theo chiều ngang dựa trên tiêu chí thị phần kết
hợp trên thị trường liên quan, mà chưa quan tâm đến tập trung kinh tế theo chiều
dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp. Đây là 2 hiện tượng tập trung kinh tế của
những doanh nghiệp không hoạt động trên cùng một thị trường liên quan. Tuy
nhiên, trên thực tế tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp
đã và đang diễn ra trên thị trường và cũng có khả năng gây hại nhất định cho nền
kinh tế nói chung và ảnh hưởng đến trật tự cạnh tranh nhưng không chịu sự
kiểm soát của Luật Cạnh tranh. Những năm gần đây, số lượng các giao dịch mua
bán, sáp nhập theo chiều dọc cũng đang có xu hướng tăng lên với mục đích là
kiểm soát nguồn cung đầu vào hoặc tận dụng hệ thống phân phối sẵn có của các
doanh nghiệp. (Ví dụ điển hình: Tập đoàn TCC Holdings Thái Lan mua Metro
Cash & Carry Việt Nam là Thương vụ tập trung kinh tế theo chiều dọc).
- Về việc xác định thị trường liên quan: Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải
thông báo tập trung kinh tế căn cứ trên tiêu chí thị phần kết hợp trên thị trường
liên quan. Tại Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “1. Các doanh
nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên
quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan
quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế.
Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung
11


kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp
sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
quy định của pháp luật thì không phải thông báo.”
Như vậy, theo quy định tại Điều 18 và Điều 20 của Luật Cạnh tranh nêu
trên, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thông báo tập trung kinh tế với cơ quan
quản lý cạnh tranh căn cứ trên tiêu chí thị phần kết hợp trên thị trường liên quan.
Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp chỉ có thể biết doanh thu, doanh số
của mình mà không thể biết doanh thu, doanh số của đối thủ cạnh tranh trên thị
trường liên quan, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc xác định thị phần
của mình trên thị trường liên quan. Do vậy, doanh nghiệp gặp khó khăn trong
việc xác định có thuộc trường hợp bị cấm hoặc phải thông báo tập trung kinh tế
hay không. Bên cạnh đó, tính công khai, minh bạch trong quản trị ở nhiều doanh
nghiệp Việt Nam còn yếu kém, nhiều doanh nghiệp cho rằng thị phần của mình
không nằm trong ngưỡng phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh.
- Về việc xác định tiêu chí thị trường liên quan của một loại dịch vụ: Tại
khoản 2 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định: “Đặc tính của hàng
hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ sau đây: a) Tính chất
vật lý; b) Tính chất hóa học; c) Tính năng kỹ thuật; d) Tác dụng phụ đối với
người sử dụng; đ) Khả năng hấp thụ”. Theo quy định này, các tiêu chí nêu trên
có thể phù hợp đối với hàng hóa nhưng không có sự liên quan nào tới dịch vụ
như: dịch vụ internet, dịch vụ vận tải hành khách, v.v . Do đó, việc xác định thị
trường liên quan của một loại dịch vụ, cơ quan quản lý cạnh tranh không thể áp
dụng các tiêu chí này để xác định đặc tính của dịch vụ. Việc xác định tiêu chí thị
trường liên quan của một loại dịch vụ chưa phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, quy định pháp luật về thông báo tập trung kinh tế còn đơn giản
Từ Điều 20 đến Điều 24 Luật Cạnh tranh quy định về thông báo tập trung
kinh tế. Tuy nhiên, các quy định này còn đơn giản, mang tính nguyên tắc, khái
quát các vấn đề về quy trình, thủ tục cần thực hiện khi doanh nghiệp thông báo
tập trung kinh tế (như: hồ sơ thông báo, thời hạn thụ lý hồ sơ, thời hạn và nội
12


dung trả lời thông báo tập trung kinh tế) mà chưa làm rõ các nội dung thẩm tra
hồ sơ thông báo để đánh giá một vụ việc tập trung kinh tế.
Thứ ba, chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về các trường hợp miễn trừ
đối với tập trung kinh tế bị cấm để bảo đảm lợi ích cho nền kinh tế
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, không phải các thương vụ tập trung
kinh tế bị cấm đều gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường mà cũng có thương vụ
mang lại tác dụng tích cực, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế - xã hội.
Điều 19 Luật Cạnh tranh quy định về những trường hợp tập trung kinh tế
bị cấm nhưng có thể được xem xét miễn trừ. Có hai trường hợp miễn trừ đối với
tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung
kinh tế chiếm trên 50% thị trường liên quan, đó là:
+ Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang có nguy cơ giải thể
hoặc phá sản;
+ Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần
phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ.
Đây là 2 trường hợp để cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét miễn trừ đối
với các thương vụ tập trung kinh tế bị cấm. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cạnh
tranh và cả doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng quy định
này bởi pháp luật cạnh tranh chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Điều đó thể
hiện ở các vấn đề sau:
- Về “nguy cơ giải thể hoặc phá sản”, Luật Cạnh tranh và các văn bản
dưới luật không có quy định cụ thể nào về nguy cơ giải thể hoặc lâm vào tình
trạng phá sản. Hai khái niệm này làm nền tảng cho việc thực thi trường hợp
miễn trừ. Do đó, lý do doanh nghiệp được hưởng miễn trừ khi tham gia tập trung
kinh tế bị cấm không rõ ràng gây khó khăn cho cơ quan quản lý cạnh tranh và cả
doanh nghiệp.
- Về “việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần
phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ”. Quy định này thiếu các
tiêu chí cụ thể để xem xét miễn trừ trong trường hợp doanh nghiệp tập trung
13


kinh tế bị cấm, gây khó khăn cho cơ quan quản lý cạnh tranh triển khai thực hiện
Luật (Ví dụ: Như thế nào thì có tác dụng mở rộng xuất khẩu. Bởi nếu thương vụ
doanh nghiệp tham gia giao dịch mua bán, sáp nhập đều là những doanh nghiệp
chuyên kinh doanh mặt hàng xuất khẩu thì thị phần kết hợp của doanh nghiệp
sau tập trung kinh tế có phải có tác dụng mở rộng xuất khẩu hay không).
Vì vậy, bên cạnh mặt tích cực, hiệu quả nhất định, việc xem xét miễn trừ
đối với các thương vụ tập trung kinh tế bị cấm có thể dẫn đến 2 trường hợp, đó
là: (i) cơ quan quản lý cạnh tranh dễ dàng cho hưởng miễn trừ; (ii) không cho
hưởng miễn trừ mặc dù thương vụ đó đem lại nhiều lợi ích đối với nền kinh tế
hơn là những thiệt hại mà chúng mang lại.
Thứ tư, quy định về đối tượng điều chỉnh trong kiểm soát tập trung kinh
tế chưa đầy đủ và cụ thể
Chưa có quy định cụ thể về kiểm soát các doanh nghiệp nước ngoài hoạt
động tại Việt Nam thực hiện tập trung kinh tế ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có
tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh tới môi trường cạnh
tranh tại Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phạm vi hoạt động của các
doanh nghiệp ngày càng mở rộng trên phạm vi lãnh thổ của nhiều quốc gia, hoạt
động tập trung kinh tế ngày càng nhiều và phổ biến. Thực tiễn thời gian qua, đã
xuất hiện những thương vụ tập trung kinh tế có giá trị giao dịch lớn được thực
hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có tác động nhất định tới thị trường
Việt Nam trong những lĩnh vực như: phân phối, bán lẻ, năng lượng, dược phẩm,
v.v. (Ví dụ: Thương vụ Tập đoàn Central Group Thái Lan mua lại hệ thống siêu
thị Big C tại Việt Nam; Thương vụ tập đoàn TCC Holdings Thái Lan mua Metro
Cash & Carry Việt Nam). Nhưng cơ quan quản lý cạnh tranh không thể can
thiệp, điều chỉnh hành vi của những doanh nghiệp nước ngoài này bởi Việt Nam
chưa có cơ chế quản lý đối với đối tượng này.
Thứ năm, cơ quan quản lý cạnh tranh còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập
về: tính độc lập, nguồn nhân lực, kinh nghiệm thực tiễn
14


Theo Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý
cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh là Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ
Công thương. Sau hơn 10 năm thi hành Luật Cạnh tranh, bên cạnh kết quả đạt
được, cơ quan quản lý cạnh tranh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập đó là:
- Tính độc lập của Cục Quản lý cạnh tranh không được bảo đảm, dẫn đến
hiện tượng những quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh chịu ảnh hưởng rất
nhiều từ quan điểm, sự chỉ đạo của Bộ Công thương;
- Đội ngũ cán bộ nhân sự của Cục Quản lý cạnh tranh còn hạn chế về số
lượng, chất lượng và thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Trong khi đó, để điều tra, thụ
lý giải quyết vụ việc cạnh tranh, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nhân sự ngoài những
kiến thức về chính sách, pháp luật, kinh tế còn cần cả kiến thức chuyên ngành
chuyên sâu khác. Mặt khác, Cục Quản lý cạnh tranh được quy định có nhiều
chức năng hoạt động: điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
điều tra, xử lý các hành vi tập trung kinh tế; bảo vệ người tiêu dùng; quản lý nhà
nước về chống bán phá giá… Trong khi đó, nguồn nhân lực của Cục Quản lý
cạnh tranh khó có thể đáp ứng hết được các chức năng hoạt động này. Điều này
dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh trong thời
gian qua.
c) Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Thứ nhất,cách tiếp cận về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật Cạnh
tranh theo hướng bị đơn giản hóa, cụ thể:
- Luật Cạnh tranh mới chỉ căn cứ vào tiêu chí thị phần để kiểm soát tập
trung kinh tế là chưa phản ánh đúng bản chất sức mạnh thị trường của doanh
nghiệp tham gia tập trung kinh tế và mức độ tác động của vụ việc tập trung kinh
tế đến môi trường cạnh tranh.
- Thủ tục thông báo tập trung kinh tế còn đơn giản. Luật Cạnh tranh mới
chỉ giải quyết các vấn đề về thủ tục mang tính hành chính, nguyên tắc cần thực
hiện khi doanh nghiệp thông báo tập trung kinh tế mà chưa làm rõ những nội
15


dung thẩm tra hồ sơ thông báo.
Thứ hai, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội về Luật cạnh
tranh nói chung và quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế nói riêng
còn hạn chế. Cụ thể:
- Cách xác định thị trường liên quan trong Luật Cạnh tranh còn chưa rõ
ràng, khó hiểu. Nguồn thông tin về vấn đề này chưa được công khai một cách
chính thống khiến cho các doanh nghiệp lúng túng khi cần thu thập, sử dụng,
gây ảnh hưởng đến các thương vụ, các cuộc đàm phán kinh doanh của doanh
nghiệp và gây khó khăn cho Cục Quản lý cạnh tranh trong xem xét, đánh giá vụ
việc tập trung kinh tế.
- Việc xác định thị phần không đơn giản. Các doanh nghiệp sẽ có xu
hướng không cung cấp thông tin chính xác về thị phần của họ. Trên thực tế,
nhiều trường hợp doanh nghiệp có thị phần tương đối lớn, khi thực hiện tập
trung kinh tế nhưng lại không lưu ý đến thủ tục thông báo, chỉ đến khi nộp đơn
thay đổi đăng ký kinh doanh tới Sở Kế hoạch – đầu tư mới được yêu cầu tham
vấn với Cục Quản lý cạnh tranh về nghĩa vụ này. Do đó, Cục Quản lý cạnh tranh
phải chủ động thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau để
xác định chính xác thị phần của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.
Thứ ba, hệ thống thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
chưa hoàn thiện; sự phối hợp và trao đổi thông tin giữa Cục Quản lý cạnh tranh
và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan trong quá trình thực thi
pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế chưa hiệu quả.
Hệ thống thông tin ở nước ta còn rất yếu cả về số lượng và chất lượng
thông tin, đặc biệt là các thông tin liên quan đến hoạt động trên thị trường.
Trong khi đó, Cục Quản lý cạnh tranh cần thu thập nhiều thông tin tạo cơ sở
quan trọng cho việc giải quyết và quyết định các vụ việc tập trung kinh tế. Mặt
khác, việc thiếu thông tin trên thị trường cũng là trở ngại gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong các quyết định tập trung kinh tế. Hiện nay, các nguồn thông
tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp
16


chưa có nhiều thông tin, hiểu biết về các thủ tục, điều kiện thực hiện tập trung
kinh tế. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến các thương vụ tập trung kinh tế của
doanh nghiệp.
Hiện nay, vẫn chưa có quy chế liên kết làm việc, trao đổi thông tin giữa
Cục Quản lý cạnh tranh trong việc kiểm soát tập trung kinh tế với các cơ quan
chuyên ngành về: thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục đầu tư v.v. Do đó, trong
quá trình thực thi Luật Cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế, thực tế sẽ khó
phối hợp kiểm soát khi tiến hành đánh giá vụ việc tập trung kinh tế.
Thứ tư, Luật Cạnh tranh nói chung và quy định về kiểm soát tập trung
kinh tế nói riêng ra đời trong bối cảnh Việt Nam mới bước vào quá trình xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó,
việc xây dựng và thực thi Luật Cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế còn
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã xuất hiện nhiều
hành vi phản cạnh tranh dưới nhiều hình thức, mức độ phức tạp ngày càng cao,
gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, ảnh hưởng
đến môi trường cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh 2004 nói chung
và quy định về kiểm soát tập trung kinh tế nói riêng đã ra đời nhằm tạo lập và
duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, từ đó tạo điều kiện phát
triển kinh tế đất nước, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, đến nay
một số quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh chưa cụ
thể, một số quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh không
còn phù hợp với thực trạng cạnh tranh, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất
nước và xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay.
2. Một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết
Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, trong thời gian tới việc thực hiện các
quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế sẽ phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức trong việc áp dụng các quy định như: quy định về tiêu chí để
17


kiểm soát tập trung kinh tế (tiêu chí thị phần, thị trường liên quan, tiêu chí xác
định thị trường liên quan của một loại dịch vụ); quy định về thông báo tập trung
kinh tế; quy định về các trường hợp miễn trừ tập trung kinh tế bị cấm; quy định
về đối tượng điều chỉnh “doanh nghiệp nước ngoài” trong kiểm soát tập trung
kinh tế. Do vậy, trong thời gian tới để vượt qua những khó khăn, thách thức này
nhằm kiểm soát tập trung kinh tế có hiệu quả, Chuyên đề sẽ đề xuất hướng giải
quyết như sau:
2.1. Đối với các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
Thứ nhất, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chí để kiểm soát
tập trung kinh tế theo hướng:
(i) Thay vì chỉ quy định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế dựa trên tiêu
chí thị phần, nên quy định theo hướng kết hợp giữa tiêu chí thị phần và tiêu chí
khác như: vị thế của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, giá trị giao
dịch, tổng tài sản, tổng doanh thu của một trong các bên đạt mức ngưỡng nhất
định theo quy định pháp luật,… làm cơ sở xác định ngưỡng thông báo tập trung
kinh tế. Từ đó, giúp cơ quan quản lý cạnh tranh có thêm căn cứ xác định thương
vụ này sau tập trung kinh tế có thể dẫn đến doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên
thị trường/ vị trí độc quyền, gây ra những ảnh hưởng cho môi trường cạnh tranh
hay không. Bởi trên thực tế, có trường hợp hành vi tập trung kinh tế không đạt
mức thị phần kết hợp trên 50%, nhưng vẫn có khả năng tạo ra nhóm doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường, gây hạn chế cạnh tranh. Chẳng hạn:
nhóm doanh nghiệp này nắm giữ hệ thống phân phối mạnh, quy mô vốn điều lệ
doanh nghiệp lớn nên khi thâm nhập vào thị trường mới, dù chưa có thị phần
đáng kể nhưng đã có những lợi thế rất lớn, gây hạn chế cạnh tranh.
Mặt khác, mở rộng hình thức kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc
giúp cho pháp luật cạnh tranh phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế,
có thể quy định theo hướng: Trao quyền chủ động cho cơ quan quản lý cạnh
tranh chủ động trong việc quản lý, giám sát và kiểm tra những doanh nghiệp có
khả năng thực hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng hình thức tập trung kinh tế
18


theo chiều dọc; yêu cầu các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế theo chiều
dọc phải chia sẻ những đơn giao hàng hoặc đơn đặt hàng của họ để cơ quan
quản lý cạnh tranh có thêm cơ sở xác định những thương vụ mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
(ii) Bổ sung thêm các tiêu chí đánh giá để xác định thị trường liên quan cả
về định tính và định lượng. Đối với việc xác định thị trường liên quan, không
nên áp dụng một cách cứng nhắc các đánh giá mang tính kỹ thuật để đảm bảo
xác định một thị trường liên quan phản ánh đúng thực tế của từng vụ việc cụ thể.
(iii) Bổ sung các tiêu chí xác định thị trường liên quan của một loại dịch
vụ phù hợp với đặc tính của dịch vụ giúp cơ quan quản lý cạnh tranh có cơ sở
pháp lý để kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các quy định về thông báo tập trung kinh tế
trong Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) hoặc các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan theo hướng sau:
(i) Làm rõ các thông tin về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tham gia
tập trung kinh tế, thông tin trong Báo cáo thị phần của doanh nghiệp.
(ii) Xây dựng cơ chế tham vấn và tư vấn doanh nghiệp trong thủ tục thông
báo tập trung kinh tế.
(iii) Làm rõ nội dung thẩm tra của cơ quan quản lý cạnh tranh đối với hồ
sơ thông báo trên cơ sở xem xét, đánh giá cấu trúc thị trường, mức độ tập trung
kinh tế của doanh nghiệp tham gia, khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị
trường và tác động tích cực của việc tập trung kinh tế đem lại cho nền kinh tế.
Thứ ba, quy định cụ thể, rõ ràng đối với từng trường hợp miễn trừ tập
trung kinh tế bị cấm làm cơ sở cho việc thực thi miễn trừ hiệu quả, đó là:
(i) Cần quy định rõ ràng, cụ thể khái niệm “nguy cơ giải thể hoặc phá sản”
trong Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) hoặc các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan để cơ quan quản lý cạnh tranh có căn cứ áp dụng.
(ii) Quy định các tiêu chí cụ thể để cơ quan quản lý cạnh tranh và cả
19


doanh nghiệp thực thi pháp luật cạnh tranh có cơ sở rõ ràng hơn trong việc xác
định thế nào là mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến
bộ kỹ thuật, công nghệ. Từ đó, cơ quan quản lý cạnh tranh tiến hành xem xét
thương vụ tập trung kinh tế bị cấm có rơi vào trường hợp miễn trừ hay không và
sẽ có những tiêu chí cụ thể nhằm đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế. Đồng thời,
bản thân doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn trong việc thuyết phục cơ quan quản
lý cạnh tranh trong trường hợp được hưởng miễn trừ.
Thứ tư, quy định về đối tượng điều chỉnh“doanh nghiệp nước ngoài”
trong kiểm soát tập trung kinh tế cần rõ ràng, cụ thể hơn
Quy định về cơ chế quản lý, giám sát, kiểm tra các doanh nghiệp nước
ngoài tham gia tập trung kinh tế có giá trị giao dịch lớn cần cụ thể hơn nhằm
đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế nước ta theo hướng đó là: (i) Quy định doanh
nghiệp nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh là doanh
nghiệp nước ngoài có hiện diện hoặc không hiện diện tại Việt Nam; (ii) Quy
định cụ thể về điều kiện và quy mô, mức độ để doanh nghiệp nước ngoài được
phép thực hiện tập trung kinh tế tại Việt Nam; quy mô và mức độ tập trung kinh
tế của doanh nghiệp là bao nhiêu,...
Thứ năm, nâng cao tính độc lập và năng lực của cơ quan quản lý cạnh
tranh trong kiểm soát tập trung kinh tế, theo đó:
(i) Cần trao quyền chủ động cho cơ quan quản lý cạnh tranh để bảo đảm
nguyên tắc tự chủ, khách quan trong phán quyết các vụ việc tập trung kinh tế.
(ii) Bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của cơ quan quản
lý cạnh tranh để chủ động nghiên cứu và dự đoán trước những thị trường, lĩnh
vực kinh tế và những doanh nghiệp có khả năng tập trung kinh tế, thậm chí
những doanh nghiệp có khả năng thực hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng
hình thức tập trung kinh tế. Trên thực tế, không phải mọi lĩnh vực kinh tế khi
xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế đều thuộc phạm vi kiểm soát của pháp luật
cạnh tranh. Các giao dịch sáp nhập, mua lại ở những thị trường có quy mô đầu
tư nhỏ sẽ không ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh và thường không thuộc
20


phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Phần lớn các vụ việc tập trung kinh
tế có tác động lớn đến thị trường cạnh tranh xảy ra ở những thị trường đang có
mức độ tập trung kinh tế đáng kể hoặc có vị trí tương đối lớn trong nền kinh tế.
Vì vậy, những dự báo khi kết hợp với pháp luật cạnh tranh và định hướng phát
triển trong từng lĩnh vực kinh tế, giúp cơ quan quản lý cạnh tranh xác định các
phương tiện và thủ tục kiểm soát phù hợp.
(iii) Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh với
cơ quan đăng ký kinh doanh cùng các cơ quan hữu quan như: Tổng cục thống
kê, Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước, Ngân hàng nhà nước,…để
kiểm soát tập trung kinh tế có hiệu quả. Ngoài ra, trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế sâu rộng, với xu hướng tập trung kinh tế xuyên quốc gia, cơ quan quản
lý cạnh tranh cần tăng cường sự hợp tác với các cơ quan quản lý cạnh tranh quốc
tế để trao đổi thông tin liên quan đến các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp
lớn trên thế giới là rất quan trọng để cơ quan quản lý cạnh tranh chủ động hơn
trong việc giám sát hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp này.
2.2. Đối với cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế thực thi pháp luật đủ mạnh để xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế. Cơ quan quản lý cạnh tranh là
một thiết chế đặc biệt, mang tính đặc thù và có vị trí quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hội đất nước nên việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức của cơ
quan này là rất cần thiết trong thời gian tới.
Hiện nay, ở Việt Nam, Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công
thương là chưa hợp lý. Bởi tính độc lập của Cục Quản lý cạnh tranh không được
bảo đảm, dẫn đến hiện tượng những quyết định của Cục Quản lý cạnh tranh chịu
ảnh hưởng rất nhiều từ quan điểm, sự chỉ đạo, chi phối của Bộ Công thương. Vì
vậy, trong tương lai, cần tách Cục Quản lý cạnh tranh ra khỏi Bộ Công thương,
nên xây dựng một cơ quan quản lý cạnh tranh ngang Bộ trực thuộc Chính phủ,
để đảm bảo nguyên tắc độc lập, tự chủ trong các vụ việc tập trung kinh tế. Đồng
thời, chuẩn bị số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi Luật Cạnh tranh
21


chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, thiết lập một một hệ thống đội ngũ cộng tác viên,
chuyên gia có kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu về pháp lý, kinh tế, tài
chính, chính sách và pháp luật cạnh tranh để hỗ trợ cùng xử lý, giải quyết các vụ
việc tập trung kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh
như: cơ chế rà soát, giải quyết các khiếu nại liên quan đến các quyết định của cơ
quan quản lý cạnh tranh. Với điều kiện hiện nay ở nước ta về lực lượng chuyên
gia pháp luật cạnh tranh còn thiếu và trình độ hạn chế, trong khi điều tra một vụ
việc tập trung kinh tế là vô cùng khó khăn, phức tạp. Do đó, trong giai đoạn
trước mắt, nên trao thẩm quyền xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý cạnh
tranh cho Tòa án kinh tế thuộc Tòa án thành phố Hà Nội và Tòa án Thành phố
Hồ Chí Minh. Nếu các bên không đồng ý với quyết định của Tòa Kinh tế thì có
thể tiếp tục khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, quyết định của
Tòa này là chung thẩm. Trường hợp đặc biệt, có thể thành lập một Tòa riêng biệt
để xử lý vụ việc cụ thể.

22


C. KẾT LUẬN
Sau hơn 12 năm triển khai thi hành Luật Cạnh tranh, có thể thấy rằng Nhà
nước ta đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thực hiện kiểm soát TTKT thông qua
việc ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, từ thực tiễn thực thi
đã nảy sinh nhiều vấn đề gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp nói riêng
và nền kinh tế nước ta nói chung. Chính vì vậy, Nhà nước cần quan tâm và hoàn
thiện các văn bản pháp lý để tạo nên một khung pháp lý vững chắc, đầy đủ làm
công cụ hữu hiệu để thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tập trung kinh tế
cũng như bảo vệ nền kinh tế tránh được những rủi ro … Trong phạm vi nghiên
cứu, Chuyên đề đã tập trung phân tích, làm rõ một số hạn chế, bất cập trong quy
định của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế và từ đó đề xuất một số kiến
nghị nhằm tăng cường kiểm soát tập trung kinh tế. Với kết quả nghiên cứu
Chuyên đề, hy vọng đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ Đại biểu
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong quá trình xây dựng Dự án Luật Cạnh
tranh (sửa đổi).

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Cạnh tranh năm 2004
2. Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2005 của Chính
phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
3. Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/7/2014
quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực cạnh tranh (thay thế Nghị định số 120/2005/NĐ-CP, có hiệu lực
thi hành từ ngày 15/9/2014)
4. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh;
5. Nghị định số 119/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Cạnh tranh;
6. Nghị định số 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
16/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Hội đồng cạnh tranh (thay thế Nghị định số 05/2006/NĐ-CP,
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/3/2015)
7. Nghị định số 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập và quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng
cạnh tranh;
8. Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;
9. Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh, ngày 7 tháng 7
năm 2017, Bộ Công thương
10.Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học – Nxb Đà Nẵng, 2003
11.Luận văn thạc sĩ, Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp
luật Việt Nam, Ths. Phạm Thị Ngoan
Nguồn:http://repositories.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/38871/1/
00050000662.pdf
12. Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và dự báo, Cục
Quản lý cạnh tranh, tháng 1 năm 2009

24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×