Tải bản đầy đủ

Tín dụng cho các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội

MỤC LỤC
CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP
KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI..v
CHƯƠNG 2.......................................................................................................24
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP.......................................24
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH HÀ NỘI................................................................................................24
CHƯƠNG 3.......................................................................................................58
ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG......................................58
TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT....................................................58
NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG ]VIỆT NAM – CHI NHÁNH
HÀ NỘI.............................................................................................................58


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Tiếng Anh


1

ADB

2

AFTA

ASEAN Free Trade Area

3

FCI

Factor Chain International

Asian Development Bank

Tiếng Việt Nam
Ngân hàng thương mại cổ
phần Á Châu
Khu vực tự do mậu dịch các
nước Đông Nam Á
Hiệp hội Bao thanh toán
Quốc tế

4

ÌMF

International monetary

Quỹ tiền tế quốc tế

fund
5

L/C

Letter of credit



Thư tín dụng

6

NHTM

Ngân hàng thương mại

7

NH

Ngân hàng

8

NK

Nhập khẩu

9

Techcombank

10

TMCP

Thương mại cổ phần

11

TSĐB

Tài sản đảm bảo

12

WB

World Bank

13

WTO

World Trade Organization

14

XK

Xuất khẩu

15

XNK

Xuất nhập khẩu

Ngân hàng thương mại cổ
phần kỹ thương Việt Nam

Ngân hàng Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế
Giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP
KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI..v
Chính sách về XNK của Nhà nước........................................................19
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước..................20
Năng lực của doanh nghiệp XNK.........................................................21
Vốn tự có của ngân hàng.....................................................................22
Về năng lực điều hành kinh doanh của các nhà quản lý ngân hàng. . .22
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên ngân hàng.........................23
Thông tin tín dụng:..............................................................................23
CHƯƠNG 2.......................................................................................................24
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP.......................................24
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH HÀ NỘI................................................................................................24
CHƯƠNG 3.......................................................................................................58
ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG......................................58
TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT....................................................58
NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG ]VIỆT NAM – CHI NHÁNH
HÀ NỘI.............................................................................................................58


i

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập, các quốc gia muốn phát triển kinh tế - xã hội đều
cần phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại. Nhiều năm trước đây, hoạt động
thương mại quốc tế của Việt Nam chưa phát triển đúng với khả năng và phát huy tốt
vai trò của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
hạn chế này và một trong những nguyên nhân đó là chúng ta thiếu những nguồn đầu
tư cho hoạt động xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà mỗi doanh
nghiệp không thể lúc nào cũng đáp ứng được đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu
hoặc có đủ vốn để mua nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh
nhu cầu xin cấp tín dụng. Dưới góc độ của các Ngân hàng Thương mại, việc cung
cấp tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong hoạt
động kinh doanh, không những đem lại hiệu quả kinh doanh từ lãi vay mà còn thu
được các phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ,… Mặt
khác, việc phục vụ khách hàng khép kín từ việc cho vay, thực hiện dịch vụ thanh
toán quốc tế, mua bán ngoại tệ sẽ tạo thuận lợi cho các Doanh nghiệp xuất nhập
khẩu khi thực hiện giao dịch, giảm chi phí cho khách hàng và tăng uy tín cho Ngân
hàng. Thực tế hiện nay cho thấy các Ngân hàng Thương Mại nói chung và Ngân
hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội nói riêng mặc
dù đã chú trọng tới tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, song vẫn chưa
thể đáp ứng được nhu cầu về vốn của các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khả năng
mở rộng quy mô tín dụng và khả năng thu hồi nợ vay còn gặp khó khăn. Nhận thức
được điều này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh
Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu .
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu theo 3 chương như sau:


ii

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn chung về tín dụng cho các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi
nhánh Hà Nội
Chương 2: Thực trạng tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp tăng cường tín dụng cho các
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi
nhánh Hà Nội
CHƯƠNG 1 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG CHO CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.

Khái niệm và vài trò của tín dụng cho các doanh nghiệp xuất

nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại
Có thể hiểu tín dụng ngân hàng là hình thức phản ánh mối quan hệ vay và trả
nợ giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể khác
trong nền kinh tế. Cụ thể hơn, nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Trên cơ sở khái niệm về tín dụng ngân hàng ta có thể hiểu tín dụng xuất nhập
khẩu như sau: Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là hình thức cho
vay thương mại, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ, đối tượng cho vay
là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác. Giá trị tín dụng thường
là ở mức vừa và lớn.
Hoặc ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn, tín dụng cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu nước sở tại đẩy
mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp đỡ các nhà nhập khẩu nước
ngoài có đủ điều kiện về tài chính để mua hàng hoá của nước đó.


iii

1.1.2. Vai trò của tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đối với
Ngân hàng Thương mại
 Đối với ngân hàng
- Thứ nhất, tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp XNK thường là tín
dụng ngắn hạn. Điều này giúp NH tránh được những rủi ro về thanh khoản.
- Thứ hai, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK đảm bảo cho việc sử dụng
vốn đúng mục đích.
- Thứ ba, trong trường hợp NH phục vụ thanh toán cho nhà XNK đồng thời
là NH cấp tín dụng XNK, thì tín dụng cho các doanh nghiệp XNK nâng cao tính an
toàn cho NH thông qua việc quản lý thu các nguồn thanh toán.
- Thứ tư, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK còn đem lại nguồn thu đáng
kể cho ngân hàng.
- Thứ năm,thông qua tín dụng cho các doanh nghiệp XNK, Ngân hàng còn
có điều kiện mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng
cao uy tín của ngân hàng trên thị trường quốc tế.

 Đối với các doanh nghiệp
- Thứ nhất, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NH giúp doanh nghiệp
thực hiện được những thương vụ lớn.
- Thứ hai, khả năng thực hiện hợp đồng cao hơn.
- Thứ ba, hiệu quả trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng cao hơn.
-Thứ tư, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NH còn giúp cho các
doanh nghiệp có vốn để nhập máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ
thuật, dây chuyền sản xuất, chế biến, trên cơ sở đó, nâng cao chất lượng hàng hoá,
hạ được giá thành sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong nước
và quốc tế.


iv

- Thứ năm, tín dụng của NH đối với hoạt động xuất nhập khẩu còn góp phần
nâng cao uy tín của các doanh nghiệp đó trên thị trường quốc tế.
Đối với nền kinh tế
- Thứ nhất, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NHTM tạo điều kiện
thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK và lưu thông hàng hóa XNK.
- Thứ hai, Nhờ có điều kiện phát triển thông qua khoản tài trợ của ngân hàng,
các doanh nghiệp XNK có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất
kinh doanh, từ đó tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất
nghiệp, làm tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước và làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
- Thứ ba, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK còn góp phần đáng kể phục
vụ chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế đất nước của Đảng và Nhà nước, góp
phần mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
1.2.

Các hình thức tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của

Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Tín dụng xuất khẩu
- Cấp tín dụng trên cơ sở hối phiếu
- Cấp tín dụng trên cơ sở L/C trong thanh toán hàng xuất
- Bao thanh toán (Factoring)
1.2.2. Tín dụng nhập khẩu
- Cho vay theo phương thức nhờ thu
- Cho vay thanh toán L/C
- Cho vay trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ
- Cho vay theo phương thức chuyển tiền
- Tín dụng ứng trước đối với nhà NK
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu (accepting credit)
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng cho các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại
1.3.1. Các yếu tố khách quan:
- Chính sách về XNK của Nhà nước
- Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước
- Năng lực của doanh nghiệp XNK
1.3.2. Các yếu tố thuộc về Ngân hàng


v

-

Vốn tự có của ngân hàng
Về năng lực điều hành kinh doanh của các nhà quản lý ngân hàng
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên ngân hàng
Thông tin tín dụng:

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT
NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1.

Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt

Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.1.1. Tình hình kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ
thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.1.1.1.
Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn huy động chung của Chi nhánh Hà Nội có sự tăng trưởng qua các
năm, đến năm 2010 đạt hơn 2 tỷ đồng tăng 13,77% so với năm 2008 Các nguồn vốn
huy động trên thị trường sơ cấp (dân cư và các tổ chức kinh tế) có chi phí rẻ hơn các
nguồn vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác, khách hàng gửi đa dạng nên giảm
được áp lực thanh khoản. Chính vì vậy, từ 2006 đến 2010, mặc dù nguồn vốn huy
động từ các tổ chức tín dụng khác vẫn có sự tăng trưởng về tuyệt đối nhưng tỷ trọng
trong tổng nguồn vốn kinh doanh có sự sụt giảm, được thay thế bằng nguồn vốn
huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế. Vốn chủ sở hữu của Techcombank cũng
được tăng lên qua các năm, bằng hai nguồn chính là từ nguồn lợi nhuận bổ sung và
phát hành thêm cổ phiếu. Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng
nguồn vốn kinh doanh của Techcombank là chưa cao, dao động khoảng 10% qua
các năm.
2.1.1.2.

Hoạt động sử dụng vốn

Hoạt động cho vay của Techcombank tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng
năm 2007 khá cao (127%) sau đó tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần vào
năm 2008 (32%), 2009 (60%) và 2010 (62.1%).
Tại thời điểm ngày 31/12/2010, tổng cho vay khách hàng của Techcombank


vi

đạt hơn 52.703,81 tỷ đồng, tăng 62.1% so với năm 2009, tăng 154% so với năm
2008 và tăng 766% so với năm 2006 (bảng 2.3). Cho vay khách hàng luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu sử dụng vốn của Techcombank
2.1.1.3.

Hoạt động kinh doanh khác

Hoạt động kinh doanh khác bao gồm: hoạt động thanh toán quốc tế, hoạt
động kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngoại tệ…
2.1.1.4.

Kết quả hoạt động kinh doanh

Tổng doanh thu của Techcombank liên tục tăng qua các năm. Tín dụng vẫn
là “xương sống” trong hoạt động kinh doanh của Techcombank với doanh số thu lãi
tín dụng luôn chiếm trên 80% tổng doanh thu của ngân hàng. Tỷ trọng thu lãi tín
dụng trong tổng thu của ngân hàng qua các năm 2006 – 2010 lần lượt là 86%, 88%,
80% và 82%. Các khoản mục chi phí được kiểm soát chặt chẽ và có mức tăng
trưởng phù hợp với mức tăng về quy mô và chất lượng của tài sản có sinh lời.
2.2.

Thực trạng tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại

Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.2.1. Quy trình tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Kỹ Thương Việt Nam
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong
việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định
kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị vay vốn cho đến khi ngân hàng thanh lý hợp đồng.
Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một
trình tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau.
2.2.2. Thực trạng tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.2.2.1.
Tổng quan tình hình tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Kỹ Thương – Chi nhánh Hà Nội
Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần
Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm


vii

trước. Hoạt động xuất nhập khẩu tăng mạnh làm thúc đẩy tín dụng xuất nhập khẩu
của Chi nhánh phát triển. trong các khoản mục đầu tư tín dụng của Ngân hàng
TMCP Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội, tín dụng xuất nhập khẩu chiếm
từ 25-30%. Đối với cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ
Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội, Chi nhánh cho vay các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu nhằm mục đích xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc
thiết bị trong nước, chi trả chi phí xây lắp, góp vốn liên doanh sản xuất hàng xuất
khẩu, gia công chế biến và thu mua các mặt hàng xuất khẩu như thu mua hàng nông
sản.
2.2.2.2.

Tín dụng nhập khẩu

Cùng với sự tăng trưởng về doanh số thanh toán xuất nhập khẩu thì các cam
kết L/C cũng tăng lên. Năm 2008 là 2.879,25 tỷ đồng thì đến năm 2009 là 6,082,66
tỷ đồng, tăng 111 %. Tuy nhiên sự tăng trươngr này có chững lại khi doanh số cam
kết L/C năm 2010 giảm xuống còn 5.410,64 tỷ đồng. Doanh số cam kết L/C của
Chi nhánh Hà Nội tăng qua các năm. Năm 2009 đạt 314,14 tỷ đồng tăng 104,2 % so
với năm 2008, doanh số này tiếp tục được gia tăng và đạt mức 550,57 tỷ đồng vào
năm 2010 ( tăng 175% so với năm 2009).
Dư nợ cho vay nhập khẩu của của Chi nhánh Hà Nội gia tăng qua các năm,
đặc biệt Chi nhánh chỉ có dư nợ cho vay nhập khẩu ngắn hạn. Tổng dư nợ cho vay
nhập khẩu năm 2008 của Chi nhánh Hà Nội đạt 87,6 tỷ đồng, trong đó cho vay nhập
khẩu ngắn hạn bằng VND là chủ yếu đạt 75,08 tỷ đồng chiếm 14,28%. Đến quý III
năm 2011, dư nợ cho vay nhập khẩu của Chi nhánh Hà Nội tăng lên 315,8 tỷ đồng
gấp gấp 3,61 lần so với năm 2008. Kết quả đạt được là do sự nỗ lực của toàn Chi
nhánh trong việc tìm kiếm khách hàng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, do nhu cầu
khách hàng cần cấp tín dụng tăng cao, và do tình hình chung khi Việt Nam đang hội
nhập nền kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay…
2.2.2.3.

Tín dụng xuất khẩu

Chiết khấu hối phiếu và chiết khấu bộ chứng từ là hình thức tín dụng dành
cho nhà xuất khẩu. Có thể nói nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Thương


viii

mại cổ phần Kỹ thương mặc dù đã được thực hiện được một thời gian nhưng chưa
thực sự được quan tâm đúng mức do doanh số thấp và tăng không đáng kể.
Chi nhánh Hà Nội cũng đã đạt được những kết quả nhất định trong dư nợ cho
vay xuất khẩu. Cũng giống như nhập khẩu, Chi nhánh Hà Nội cũng chỉ cấp tín dụng
xuất khẩu ngắn hạn bằng VND và ngoại tệ do đó không có dư nợ tín dụng xuất khẩu
trong trung và dài hạn. Năm 2008, dư nợ cho vay xuất khẩu ngắn hạn của Chi
nhánh đạt 25,38 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay xuất khẩu bằng VND là 15,3 tỷ
đồng chiếm 60,3%. Đến quý III năm 2011 dư nợ cho vay xuất khẩu tại Chi nhánh
lên đến 91,51 tỷ gấp 3,61 lần so với năm 2008. Dư nợ cho vay xuất khẩu tại Chi
nhánh Hà Nội có gia tăng qua các năm, tuy nhiên sự gia tăng này vẫn chưa ổn định
và tương xứng với lượng nhu cầu khách hàng doanh nghiệp xuất nhập khẩu như
hiện nay.
2.3.

Đánh giá tín dụng dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại

Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.3.1. Những kết quả đạt được
Hình thức cho vay thanh toán cũng như các phương thức thanh toán ngày
càng đa dạng. Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh Hà Nội tăng lên
qua các năm. Chính sách tín dụng của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam có
nhiều đổi
2.3.2. Những vấn đề tồn tại
Nguồn vốn ngoại tệ cho vay và thanh toán xuất nhập khẩu chưa đảm bảo,
Một điểm hạn chế nữa là các hình thức tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu còn đơn điệu, chưa đa dạng hóa và chưa hiệu quả. Ngân hàng thương mại cổ
phần Kỹ thương nói chung và Chi nhánh Hà Nội nói riêng có thời gian thâm nhập
và lĩnh vực thanh toán quốc tế chưa lâu nên trình độ cũng như kinh nghiệm hoạt
động còn hạn chế. Công tác kiểm tra kiểm toán chưa được thực hiện thường xuyên.
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại
Nguyên nhân khách quan: Chính sách Thương mại chưa ổn định, Môi
trường pháp lý chưa đồng bộ, Chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà


ix

nước còn bất cập, Nguyên nhân từ thông tin hệ thống, Về phía các doanh nghiệp
tiến hành các giao dịch xuất nhập khẩu
Nguyên nhân chủ quan: Xây dựng chiến lược kinh doanh chưa được chú
trọng đúng mức, Chất lượng thẩm định và đánh giá phương án kinh doanh chưa
được thống nhất và đồng bộ trong toàn hệ thống Ngân hàng, Nhân sự của ngân hàng
dù đã được chuẩn hóa nhiều nhưng vẫn chưa triệt để,Chính sách Marketing chưa có
hiệu quả.
CHƯƠNG 3 – ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG TÍN DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆPXUẤT NHẬP KHẨU TẠI
NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI
3.1. Phương hướng tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Trong chiến lược phát triển 5 năm tới (2010-2015) của mình, Techcombank
định hướng là NHTM đô thị đa năng ở Việt Nam, cung cấp sản phẩm dịch vụ tài
chính đồng bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao cho dân cư và doanh nghiệp. Tiếp
tục định hướng lấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ (trong và ngoài nước) làm đối
tượng khách hàng chính.


x

3.2.

Một số giải pháp để tăng cường tín dụng cho các doanh nghiệp

xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam –
Chi nhánh Hà Nội
Đa dạng hóa các hình thức tín dụng XNK: Techcombank cần phải tạo
ra thêm nhiều tiện ích mới cho sản phẩm, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về
cả chất lượng và đa dạng về chủng loại. Tạo cơ chế đơn giản trong thủ tục và quy
trình các sản phẩm tín dụng ngắn hạn cho KHDN hiện đã có.
Hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng XNK và nâng cao chất lượng
thẩm định dự án sản xuất kinh doanh XNK
Đảm bảo nguồn vốn cho tín dụng XNK
Xây dựng và thực hiện tốt chính sách khách hàng và Marketing
Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ
3.3. Một số kiến nghị
Kiến nghị đối với Hội sở chính: Đổi mới mô hình tín dụng XNK: hợp lý
đối với từng đối tượng khách hàng. Để mở rộng hoạt động cho vay XNK đề nghị
hội sở Trung ương nên có những giải pháp thích hợp nhằm điều hòa vốn trong toàn
hệ thống một cách có hiệu quả nhất, tập trung vốn cho chi nhánh có triển vọng làm
ăn có hiệu quả đang cần vốn. Từng bước cải thiện các thủ tục vay vốn nhằm phục
vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn các mặt
hoạt động nghiệp vụ ngân hàng đặc biệt là quy chế miễn giảm lãi và quy chế xử lý
nợ rủi ro, các văn bản quy định chi tiết trong lĩnh vực cho vay tài trợ XNK.


xi

-

Kiến nghị đối với chính phủ và các bộ ngành liên quan: Nhà nước cần

hoàn thiện môi trường pháp lý và môi trường hoạt động cho các ngân hàng và các
doanh nghiệp đảm bảo cho quan hệ tín dụng được dựa trên một nền tảng vững chắc,
đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng, có cơ chế để ngân hàng cơ cấu lại
tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp thậm chí cho phép ngân hàng chuyển
nợ thành vốn góp và tham gia điều hành hoạt động của doanh nghiệp để doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả trở lại, góp phần nâng cao khả năng thu hồi vốn cho
ngân hàng đồng thời thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Mạnh dạn giải thể các doanh
nghiệp làm ăn không có hiệu quả, không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, các công cụ lãi uất, tỷ giá hối đoái phải thực
sự phù hợp với biến động thị trường, tránh gây đột biến cho hoạt động kinh doanh
của đơn vị cũng như ngân hàngKiến nghị đối với ngân hàng nhà nước
Kiến nghị đối với khách hàng: Đẩy mạnh hoạt động Marketing XNK,
Các doanh nghiệp cần phải chủ động nâng cao năng lực quản lý điều hành và khả
năng lập kế hoạch kinh doanh để trước tiên là điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của đơn vị mình có hiệu quả, sau đó là sử dụng và quản lý đồng vốn vay
ngân hàng đúng mục đích, đúng phương án đảm bảo tính khả thi trong quá trình
thực hiện, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp của mình và hoàn trả đầy đủ nợ vay
cho ngân hàng.

KẾT LUẬN
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Việc gia nhập WTO đã trở thành một bước tạo đà tốt trong việc đưa Việt nam
trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Chiến lược xây dựng nền kinh tế
đất nước về dài hạn đặt trọng tâm vào việc phát triển ngoại thương, đặc biệt ưu tiên
lĩnh vực xuất nhập khẩu. Chính Phủ cũng nỗ lực tạo điều kiện nhằm tạo ra một môi
trườg thuận lợi cho hoạt động này. Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam là
một trong những cơ sở để hòa nhập và bình đẳng trên thị trường quốc tế, tín dụng
xuất nhập khẩu trở thành một trong những mảng hoạt động kinh doanh lớn của các


xii

Ngân hàng Thương mại. Để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất nhâp khẩu, Ngân
hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam nói chung và chi nhánh Hà Nội nói
riêng cần phát huy những thế mạnh của mình đáp ứng mọi nhu cầu về vốn, về công
nghệ, về phương thức thanh toán,... tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giao dịch
một cách thuận lợi hơn.
Sau khi nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bằng các phương pháp phân tích
tổng hợp và đối chiếu so sánh, luận văn đã hoàn thành những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống hoá những lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng tín dụng cho
các DN XNK của Ngân hàng Thương mại. Đồng thời, luận văn cũng đã nêu được
vai trò của tín dụng cho các DN XNK của NHTM trong nền kinh tế. Thứ hai, trên
cơ sở lý luận, luận văn áp dụng vào thực tiễn hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội, đánh
giá thực trạng, tìm ra những biện pháp chưa thành công cũng như những nguyên
nhân dẫn đến hiệu quả chưa cao ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu
của Ngân hàng và của Chi nhánh. Thứ ba, dựa trên cơ sở phân tích tìm ra những
biện pháp thành công và chưa thành công cũng như những nguyên nhân dẫn đến
hiệu quả chưa cao trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng và chi
nhánh Hà Nội, luận văn đề xuất những giải pháp cho tín dụng xuất nhập khẩu tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương để hoạt động này đạt kết quả tốt hơn .


1

LỜI MỞ ĐẦU

1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập, các quốc gia muốn phát triển kinh tế - xã hội đều
cần phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại. Do khác nhau về điều kiện tự nhiên
như tài nguyên khí hậu … nếu chỉ dựa vào sản xuất trong nước thì không thể cung
cấp đầy đủ những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị,
hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được
nhưng giá cả cao hơn. Ngược lại, trên cơ sở tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn
có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước còn có thể tạo nên những
thặng dư có thể xuất khẩu sang các nước khác, tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập
khẩu các mặt hàng còn thiếu và để trả nợ. Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mà phát sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau,
hay nói cách khác, hoạt động xuất nhập khẩu là yêu cầu khách quan trong nền kinh
tế mỗi quốc gia.
Nhiều năm trước đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam chưa phát
triển đúng với khả năng và phát huy tốt vai trò của nó đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế này và một trong những nguyên
nhân đó là chúng ta thiếu những nguồn đầu tư cho hoạt động xuất nhập khẩu. Do
khả năng tài chính có hạn mà mỗi doanh nghiệp không thể lúc nào cũng đáp ứng
được đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn để mua nguyên vật liệu
để sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh nhu cầu tài trợ. Có thể tài trợ bằng hai
cách: một là tài trợ giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và hai là tài trợ của các
ngân hàng thương mại (NHTM) cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tuy nhiên,
xuất nhập khẩu là một lĩnh vực kinh doanh thường có quy mô lớn, rủi ro cao, đòi
hỏi sự chuyên môn hóa về nghiệp vụ cao, việc tài trợ lẫn nhau của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu là việc rất khó thực hiện. Do đó cần có nguồn tín dụng của các


2

NHTM với tư cách là trung tâm cung ứng vốn, hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu.
Dưới góc độ của các Ngân hàng Thương mại, việc cung cấp tín dụng cho các
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh,
không những đem lại hiệu quả kinh doanh từ lãi vay mà còn thu được các phí dịch
vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ,… Mặt khác, việc phục vụ
khách hàng khép kín từ việc cho vay, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, mua bán
ngoại tệ sẽ tạo thuận lợi cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi thực hiện giao
dịch, giảm chi phí cho khách hàng và tăng uy tín cho Ngân hàng.
Tuy nhiên, tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu là một hoạt động
phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh
tế trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau
và bị ảnh hưởng mạnh theo sự biến động của thị trường quốc tế. Do vậy mà tín
dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải hết sức thận trọng.
Thực tế hiện nay cho thấy các Ngân hàng Thương Mại nói chung và Ngân
hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội nói riêng mặc
dù đã chú trọng tới tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, song vẫn chưa
thể đáp ứng được nhu cầu về vốn của các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khả năng
mở rộng quy mô tín dụng và khả năng thu hồi nợ vay còn gặp khó khăn.
Nhận thức được điều này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Tín dụng cho các
doanh nghiệp xuất - nhập khẩu ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương
Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu .
2.

Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân
hàng thương mại.


3

Từ lý thuyết nghiên cứu kết hợp với thực trạng tín dụng xuất nhập khẩu tại
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương – Chi nhánh Hà Nội để đánh giá những kết quả đạt
được và vấn đề tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường tín dụng cho các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương - CN Hà Nội.
3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của
các Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng tín dụng cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn từ 2006 – 2010
và đề xuất định hướng, giải pháp đến năm 2015.
4.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình hoàn thành bài viết, tác giả có sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp đối chiếu so sánh.
Phương pháp luận của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu

Tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng
của Ngân hàng Thương mại, vì vậy việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận và khảo sát
thực tiễn tín dụng cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Chi nhánh một Ngân hàng
thương mại đặc thù không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
hoạt động, đảm bảo hiệu quả, an toàn kinh doanh cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội mà còn có ý nghĩa quan trọng trong
việc tăng cường hoạt động này trên toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam trong quá trình nhập và phát triển hiện nay.


4

6.

Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu theo 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn chung về tín dụng cho các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi
nhánh Hà Nội
Chương 2: Thực trạng tín dụng cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp tăng cường tín dụng cho các
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương - Chi
nhánh Hà Nội


5

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG CHO
CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và vài trò của tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu của Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng được coi là hình thức tín
dụng phát triển, giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín dụng. Đối với ngân hàng, trong
nhiểu năm vừa qua nghiệp vụ tín dụng vẫn được coi là nghiệp vụ chính yếu, quyết
định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Có thể hiểu tín dụng ngân hàng là hình thức phản ánh mối quan hệ vay và trả
nợ giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể khác
trong nền kinh tế. Cụ thể hơn, nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Trên cơ sở khái niệm về tín dụng ngân hàng ta có thể hiểu tín dụng xuất nhập
khẩu như sau: Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là hình thức cho
vay thương mại, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ, đối tượng cho vay
là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác. Giá trị tín dụng thường
là ở mức vừa và lớn.
Hoặc ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn, tín dụng cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu nước sở tại đẩy
mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp đỡ các nhà nhập khẩu nước
ngoài có đủ điều kiện về tài chính để mua hàng hoá của nước đó.
Với sự hòa nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, khi hoạt động
ngoại thương của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nước ta ngày càng mở rộng và
được tạo điều kiện để phát triển, nhu cầu tài trợ tín dụng cho các doanh nghiệp này


6

cũng tăng lên theo.

1.1.2.

Vai trò của tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập

khẩu đối với Ngân hàng Thương mại
Sự ra đời của tín dụng cho các doanh nghiệp XNK là một yêu cầu khách quan,
và nó gắn liền với các quan hệ ngoại thương giữa các nước với nhau. Vai trò quan
trọng của tín dụng cho các doanh nghiệp XNK đối với sự tồn tại và phát triển của
ngoại thương cũng như đối với sự phát triển kinh tế của đất nước được thể hiện qua
các mặt sau:

 Đối với ngân hàng
- Thứ nhất, tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp XNK thường là tín
dụng ngắn hạn. Điều này giúp NH tránh được những rủi ro về thanh khoản.
Thời hạn tín dụng cho các doanh nghiệp XNK thường ngắn do nó gắn liền
với thời gian thực hiện hợp đồng XNK. Thời gian thực hiện hợp đồng XNK đối với
người XK là thời gian kể từ lúc thu gom hàng, chế biến, xuất đi cho đến lúc nhận
được tiền thanh toán của người mua. Đối với người NK, thời gian này tính từ lúc
nhận hàng cho đến lúc bán hết hàng và thu tiền về. Thời gian này thường là dưới
một năm. Như vậy, có thể thấy rằng, kỳ hạn tín dụng XNK phù hợp với kỳ hạn huy
động vốn của các NHTM, hay là thời hạn “cho vay” phù hợp với thời hạn “đi vay”.
Và do đó, ngân hàng tránh được các rủi ro về thanh toán có thể xảy ra trong quá
trình kinh doanh.
- Thứ hai, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK đảm bảo cho việc sử dụng
vốn đúng mục đích. Trong hoạt động XNK, với hình thức thanh toán qua ngân
hàng, vốn thường được thanh toán thẳng cho bên thứ ba mà không qua bên xin cấp
tín dụng. Do đó, tránh được tình trạng người xin cấp tín dụng sử dụng vốn sai mục
đích, hạn chế được rủi ro tín dụng.
- Thứ ba, trong trường hợp NH phục vụ thanh toán cho nhà XNK đồng thời
là NH cấp tín dụng XNK, thì tín dụng cho các doanh nghiệp XNK nâng cao tính an


7

toàn cho NH thông qua việc quản lý thu các nguồn thanh toán. Cụ thể, trong nghiệp
vụ thanh toán hàng XK, khi NH chuyển bộ chứng từ hàng hoá để đòi tiền người NK
nước ngoài, NH sẽ chỉ định việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của
người XK mở tại NH. Còn trong nghiệp vụ thanh toán hàng NK, NH tài trợ sẽ buộc
người NK phải tập trung tiền bán hàng vào tài khoản của mình mở tại NH.Nhờ vậy,
các nguồn thu để trả các khoản tín dụng được NH quản lý hết sức chặt chẽ, tránh
được những rủi ro gây ra bởi tình trạng xoay vốn, sử dụng vốn sai mục đích của
doanh nghiệp nhận tài trợ trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi.
- Thứ tư, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK còn đem lại nguồn thu đáng
kể cho ngân hàng. Đó là các khoản lãi của hoạt động cho vay thanh toán, lãi chiết
khấu hối phiếu, chứng từ thanh toán, các khoản phí cho hoạt động bảo lãnh.... Tiền
lãi thu cao do giá trị tài trợ thường ở mức vừa và lớn.
- Thứ năm,thông qua tín dụng cho các doanh nghiệp XNK, Ngân hàng còn
có điều kiện mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng
cao uy tín của ngân hàng trên thị trường quốc tế.

 Đối với các doanh nghiệp
- Thứ nhất, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NH giúp doanh nghiệp
thực hiện được những thương vụ lớn.
Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp XNK, đặc biệt là các doanh
nghiệp XNK của Việt Nam hiện nay, có năng lực tài chính rất hạn chế. Trong khi
đó, có những thương vụ trong ngoại thương đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn để
có thể thực hiện được hợp đồng. Tín dụng NH cho hoạt động XNK chính là giải
pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được những hợp đồng dạng này.
Thêm vào đó, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, , các doanh
nghiệp chỉ có thể bán được hàng khi chấp nhận bán hàng trả chậm, trả gối đầu.
Song việc thu hồi nợ bán hàng gối đầu đang ngày càng trở thành nỗi lo của các
doanh nghiệp XNK vì họ có thể đối mặt với nguy cơ mất trắng hàng trăm tỷ đồng từ


8

phương thức bán hàng này. Do đó, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NH đã
khiến cho các nhà XNK yên tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, từ đó
khắc phục được nguy cơ sụt giảm trong hoạt động bán hàng trả chậm nói riêng và
nguy cơ sụt giảm trong doanh số bán hàng XNK nói chung.
- Thứ hai, khả năng thực hiện hợp đồng cao hơn. Trong quá trình đàm phán,
thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại thương, một doanh nghiệp đã được NH đứng
ra bảo lãnh, cấp tín dụng sẽ có lợi thế rất lớn. Bởi vì khi đó khả năng thực hiện hợp
đồng của doanh nghiệp được khẳng định. Cùng với nghệ thuật đàm phán, và vị thế
sẵn có của mình, doanh nghiệp hoàn toàn có thể giành được nhiều điều kiện có lợi
cho mình trong quá trình thực hiện thương vụ.
- Thứ ba, hiệu quả trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng cao hơn. Thông
qua tài trợ của NH, doanh nghiệp sẽ có đủ vốn để thực hiện thương vụ. Đối với
doanh nghiệp XK, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ, gia
công, chế biến và giao hàng đúng thời điểm. Đối với doanh nghiệp NK, vốn tài trợ
của NH giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng lớn, giá hạ, đáp ứng kịp thời
nhu cầu của thị trường trong nước. Bởi vậy, các doanh nghiệp XNK có thể chớp
được thời cơ kinh doanh và thu lợi nhuận cao, tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể, đứng vững và cạnh tranh được trên thị
trường đồng thời thực hiện được các nghĩa vụ đối với nhà nước.
-Thứ tư, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NH còn giúp cho các
doanh nghiệp có vốn để nhập máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ
thuật, dây chuyền sản xuất, chế biến, trên cơ sở đó, nâng cao chất lượng hàng hoá,
hạ được giá thành sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong nước
và quốc tế.
- Thứ năm, tín dụng của NH đối với hoạt động xuất nhập khẩu còn góp phần
nâng cao uy tín của các doanh nghiệp đó trên thị trường quốc tế. Do có nguồn vốn
của NH, doanh nghiệp XNK có khả năng thực hiện có hiệu quả những thương vụ


9

lớn, từ đó xây dựng các mối quan hệ làm ăn với các khách hàng tầm cỡ trên thế
giới, dần dần củng cố, nâng cao được uy tín cũng như vị trí của mình trên thị trường
thế giới.

 Đối với nền kinh tế
- Thứ nhất, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK của NHTM tạo điều kiện
thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK và lưu thông hàng hóa XNK. Nhờ có nguồn
cấp tín dụng của ngân hàng, hàng hoá được xuất, nhập phù hợp với yêu cầu của thị
trường về số lượng, chất lượng, thời vụ..., đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng thiết yếu
cho đời sống và sinh hoạt của nhân dân, góp phần làm ổn định thị trường và tăng
tính năng động của nền kinh tế.
- Thứ hai, Nhờ có điều kiện phát triển thông qua khoản tài trợ của ngân hàng,
các doanh nghiệp XNK có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất
kinh doanh, từ đó tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất
nghiệp, làm tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước và làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
- Thứ ba, tín dụng cho các doanh nghiệp XNK còn góp phần đáng kể phục
vụ chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế đất nước của Đảng và Nhà nước, góp
phần mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằngvới tư cách là một thành viên
hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, các NHTM cùng với hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế của mình, đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh
tế đất nước, và cho cân bằng cán cân thanh toán quốc gia. Tín dụng XNK của
NHTM chính là một trong những công cụ để triển khai có hiệu quả các chiến lược
phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của một đất nước.

1.2.

Các hình thức tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của

Ngân hàng Thương mại


10

1.2.1. Tín dụng xuất khẩu
 Tài trợ trên cơ sở hối phiếu
Trong kinh doanh ngoại thương, hối phiếu đóng một vai trò vô cùng quan
trọng. Hối phiếu là chứng từ có giá với chức năng: chức năng bảo đảm, chức năng
thanh toán và chức năng tài chính.
Tín dụng chiết khấu hối phiếu là tín dụng của NH cấp cho khách hàng dưới
hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán. Tín dụng chiết khấu này tạo
điều kiện thuận lợi cho nhà XK trong việc tái đầu tư với khoản tín dụng cung ứng đã
cấp cho nhà NK (bán chịu cho nhà NK). NH mua lại hối phiếu thông qua hình thức
chuyển nhượng và trả tiền cho nhà XK bằng giá trị của hối phiếu trừ đi tỷ lệ chiết
khấu hối phiếu. Tỷ lệ chiết khấu hối phiếu cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Khả năng truy hoàn nhà XK.
- Khả năng thanh toán của nhà NK, NH nhà NK cũng như nước nhà NK.
- Thời gian chờ thanh toán.
- Giá trị hối phiếu.
- Hình thức hối phiếu (hối phiếu thương mại hay hối phiếu tài chính).
NH chỉ chiết khấu hối phiếu khi không còn một sự nghi ngờ rằng hối phiếu
do nhà XK lập ra là nhằm mục đích kinh doanh chứ không phải là để cấp tài chính
cho nhà NK. Người phát hành hối phiếu cũng như người chấp nhận trả tiền hối
phiếu phải chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hối phiếu. Hoặc trường hợp khác,
NH chỉ chiết khấu các hối phiếu khi có khả năng tái chiết khấu tại NH Trung ương.

 Tài trợ trên cơ sở L/C trong thanh toán hàng xuất
Đi liền với phương thức thanh toán L/C có rất nhiều hình thức tài trợ của NH
cho nhà XK, bao gồm:
- Cho vay thực hiện hàng xuất theo L/C đã mở:
Trên cơ sở L/C đã mở, nhà XK có thể đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×