Tải bản đầy đủ

Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................86


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATM:

Máy rút tiền tự động (Automated Teller Machine)

Banknetvn:

Công ty Cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam.

CNTT:


Công nghệ thông tin

ĐVCNT:

Đơn vị chấp nhận thẻ

ĐƯTM:

Điểm ứng tiền mặt

NHTM:

Ngân hàng thương mại

NHPHT:

Ngân hàng phát hành thẻ

NHNN:

Ngân hàng nhà nước

NHTTT:

Ngân hàng thanh toán thẻ

POS:

Điểm bán hàng (Point of Sale)

TCTD:

Tổ chức tín dụng

TCTQT:

Tổ chức thẻ quốc tế

TK TGTT:


Tài khoản tiền gửi thanh toán

TMCP:

Thương mại cổ phần

Smartlink:

Công ty cổ phần dịch vụ thẻ SmartLink

ACB:

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu:.....................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu:...............................................................................................2
5. Kết cấu luận văn:............................................................................................................2

Ngân hàng phát hành thẻ.........................................................................11
Ngân hàng phát hành thẻ.........................................................................11
Ngân hàng thanh toán thẻ........................................................................11
Ngân hàng thanh toán thẻ........................................................................11
Đơn vị chấp nhận thẻ...............................................................................12
Đơn vị chấp nhận thẻ...............................................................................12
Chủ thẻ......................................................................................................12
Chủ thẻ......................................................................................................12
Tổ chức thẻ quốc tế..................................................................................13
Tổ chức thẻ quốc tế..................................................................................13
1.1.4. Các hoạt động chính của Dịch vụ thẻ..............................................................13
1.1.4. Các hoạt động chính của Dịch vụ thẻ..............................................................13
1.1.4.1 Hoạt động phát hành thẻ................................................................................13
1.1.4.1 Hoạt động phát hành thẻ................................................................................13
Các nhân tố chủ quan.................................................................................................24
Các nhân tố chủ quan.................................................................................................24
Các nhân tố khách quan.............................................................................................25
Các nhân tố khách quan.............................................................................................25


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển, sự hội nhập của nền kinh tế đất nước vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương
mại Việt Nam cũng từng bước đổi mới để đáp ứng ngày càng cao đòi hỏi của
khách hàng, của nền kinh tế và của tiến trình đổi mới và hội nhập. Các dịch
vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng đa dạng, phong phú của nền kinh tế - xã hội như các nghiệp vụ
ngân hàng đối nội và đối ngoại từ nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thanh toán
quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán điện tử đến việc cung cấp các sản
phẩm dịch vụ như mở tài khoản và nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và
dân cư, dịch vụ tư vấn khách hàng, dịch vụ chuyển tiền kiều hối... Ngoài
những dịch vụ truyền thống, các ngân hàng thương mại nước ta không ngừng
mở rộng các dịch vụ khác mang tính hiện đại trong đó có dịch vụ thẻ, một
dịch vụ đang được coi là cơ hội mới cho các ngân hàng với số lượng khách
hàng tiềm năng rất lớn.
Dịch vụ thẻ có ưu thế về nhiều mặt trong việc thoả mãn nhu cầu của
khách hàng vì tính tiện dụng, an toàn, được sử dụng rộng rãi trên thế giới, đặc
biệt ở những nước có nền kinh tế phát triển. Mỗi ngân hàng có những chiến
lược riêng để chiếm lĩnh thị trường và phát triển thương hiệu dịch vụ thẻ của
mình. Sự cạnh tranh phát triển dịch vụ thẻ của các ngân hàng hiện nay đã
khiến cho nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng được đáp ứng và thị trường
dịch vụ thẻ cũng trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Do đó, vấn đề phát triển
dịch vụ thẻ có vai trò rất quan trọng và cần thiết.
Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng
TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội” để nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết
những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn của việc phát triển dịch vụ thẻ của Ngân
hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội nói riêng và các NHTM nói chung.


2

2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ thẻ và phát triển
dịch vụ thẻ của Ngân hàng Thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng
TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân
hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản của việc phát triển
dịch vụ thẻ trên cơ sở hoạt động của ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Luận văn tập trung tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý
luận về sự phát triển của dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn nghiên cứu hoạt động phát triển dịch vụ
thẻ trong phạm vi hoạt động của Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà
Nội, trên cơ sở hệ thống số liệu được thu thập và xử lý trong thời gian từ năm
2008 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
các phương pháp khoa học được sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê và so sánh
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp
5. Kết cấu luận văn:
Để đạt được mục đich nghiên cứu và truyền tải được những nội dung nghiên
cứu, cấu trúc của luận văn, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, gồm có 3 chương:


3

- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân
hàng Thương mại
- Chương 2: Thực trạng Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP
Á Châu – Chi nhánh Hà Nội
- Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á
Châu – Chi nhánh Hà Nội
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS., TS. Hoàng Xuân
Quế, các thầy cô giáo khoa Ngân hàng - Tài chính, cùng tập thể cán bộ ngân
hàng TMCP Á Châu - Chi nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn
thanh luận văn này. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo và các cán bộ chuyên môn để luận văn được hoàn thiện hơn.


4

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Dịch vụ thẻ
1.1.1. Khái niệm và phân loại thẻ ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời
từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự
ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công
cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh
toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình
hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các
dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục
vụ ATM.
Thẻ ngân hàng được làm bằng plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế
và bao gồm các yếu tố sau:
- Nhãn hiệu thương mại của thẻ (VISA, MASTER....)
- Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ
-

Loại thẻ (ATM, debit, prepaid, credit.....)

- Thời hạn hiệu lực của thẻ
- Hạng thẻ (vàng/ chuẩn/ đặc biệt)
- Số thẻ, tên chủ thẻ, các yếu tố bảo mật
- Ngoài ra, thẻ còn có thể có tên công ty chịu trách nhiệm thanh toán
hoặc thêm một số yếu tố khác theo quy định của TCTQT.
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ thông tin trong lĩnh
vực ngân hàng, thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán điện tử đem lại


5

cho khách hàng những ưu thế về thời gian và phạm vi thanh toán, tính an toàn
và hiệu quả trong quá trình sử dụng. Với một tấm thẻ ngân hàng nhỏ gọn, chủ
thẻ có thể rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hàng hóa, dịch vụ tại
các ĐVCNT….. Với những ưu thế trên, ngày nay thẻ ngân hàng đã trở thành
công cụ thanh toán phổ biến, có vị trí quan trọng trong các công cụ thanh toán
tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển.
1.1.1.2. Phân loại thẻ ngân hàng
 Phân theo công nghệ bảo mật.
- Thẻ từ: Là loại thẻ mà toàn bộ thông tin về chủ thẻ được mã hóa trong
dải băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong
tổng số lượng thẻ đang được sử dụng trên thị trường. Tuy nhiên thẻ từ có
nhược điểm là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều và mang tính
chất cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hóa an toàn và có thể bị ăn
cắp thông tin và lợi dụng để làm thẻ giả hoặc thực hiện các giao dịch giả gây
thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng.
- Thẻ chíp: Là loại thẻ hiện đại hơn, bảo mật tốt hơn, do ngoài vạch từ
thì thông tin còn được mã hóa trong một con chíp điện tử đặt ở mặt trước của
thẻ. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào
thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo cho phép mã hóa
thông tin và khách hàng và tài khoản, vì vậy tính bảo mật của loại thẻ này là
rất cao. Tuy nhiên do đây là công nghệ mới và có nhiều ưu điểm nên giá
thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ này cũng đắt nên chưa được
sử dụng phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ
này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn
đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấp
nhận loại thẻ này nhằm hạn chế rủi ro do giả mạo thẻ.


6

 Phân theo tính chất thanh toán của thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit Card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ
trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp và chủ thẻ phải thanh toán toàn
bộ các khoản dư nợ phát sinh theo qui định. Thẻ tín dụng là phương thức
thanh toán cho phép nguời sử dụng chi tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm
khách hàng thanh toán hàng hóa dịch vụ ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng thanh
toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ tiến hành thu hồi
khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả
thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Khoảng thời gian kể từ khi thẻ đuợc dùng để
thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ
dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức thẻ khác nhau. Nếu
chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở
thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ
cuối kỳ. Tuy vậy nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc
chưa thanh toán hết dư nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu
những khoản phí và lãi chậm trả trên số dư nợ còn lại. Sau khi thanh toán hết
dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục
như ban đầu. Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng
Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách
hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Khả
năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tình
hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế
chấp … của khách hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất
trình thẻ của mình tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ
để thanh toán.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là thẻ kết nối với tài khoản, cho phép khách
hàng có thể rút tiền trong tài khoản của mình tại các máy ATM hoặc thực hiện
các giao dịch mua sắm hàng hóa, thanh toán hóa đơn.


7

Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt. Nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản
của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại
các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy
ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản.
Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ. Đối
với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay
tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần có
tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân
hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu
thế vượt trội so với thẻ tín dụng.
+ Thẻ ghi nợ nội địa: Là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một
quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ. Hoạt động của loại
thẻ này rất đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành từ
việc phát hành, xử lý trung gian cho đến thanh toán. Thẻ có nhược điểm là
việc sử dụng chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia, vì vậy việc kinh doanh
sẽ không có hiệu quả nếu hệ thống máy ATM không phát triển.
+ Thẻ ghi nợ quốc tế: Thẻ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán,
được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Thẻ được hỗ trợ và quản lý bởi các tổ
chức thẻ quốc tế, mà hiện nay phổ biến nhất là hai tổ chức thẻ VISA và
MASTER, được hoạt động thống nhất và đồng bộ. Thẻ quốc tế rất được ưa
chuộng vì tính tiện lợi của nó, có thể rút tiền và thanh toán tại tất cả các quốc
gia trên thế giới có chấp nhận thanh toán thẻ của các thương hiệu thẻ (hiện
nay chủ yếu là 2 thương hiệu thẻ VISA và MASTER)
- Thẻ trả trước (Prepaid Card): Là loại thẻ do các ngân hàng và tổ chức
tín dụng phát hành cho phép khách hàng nạp trước một khoản tiền và dùng để
thanh toán khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ. Tính năng sử dụng của thẻ trả


8

trước giống như thẻ ghi nợ (Debit Card). Nhưng có một sự khác biệt là thẻ
PREPAID không kết nối với tài khoản, chủ thẻ phải nộp tiền vào thẻ mới có
thể sử dụng, và chỉ được sử dụng trên số tiền có trong thẻ.
 Phân theo phạm vi sử dụng của thẻ
- Thẻ nội địa (thẻ trong nước): Là thẻ do các ngân hàng, tổ chức tín dụng
phát hành sử dụng thay thế tiền mặt để thanh toán hàng hoá dịch vụ và rút tiền
mặt trong phạm vi quốc gia. Thông thường đó là thẻ ghi nợ nội địa của các
ngân hàng thương mại phát hành sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới
các đơn vị chấp nhận thẻ của ngân hàng phát hành và ngân hàng đại lý, ngân
hàng liên kết với ngân hàng phát hành đó trong một nước.
- Thẻ quốc tế: Thẻ quốc tế là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ
quốc tế do các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành, sử dụng trên
phạm vi thế giới thông qua các tổ chức là thành viên của hiệp hội thẻ quốc tế.
Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất
kỳ các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận
thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải
đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ
chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ
quốc tế đó ban hành. Có 2 loại thẻ quốc tế là thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín
dụng quốc tế.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của Dịch vụ thẻ ngân hàng
Khái niệm về dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch
vụ thẻ nói riêng hết sức phức tạp vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.
Trước hết, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người
bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không
mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản
phẩm vật chất.


9

Dịch vụ ngân hàng, trong đó có dịch vụ thẻ, là một dạng hoạt động,
một quá trình, một kinh nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng
một nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. Ngân hàng sẽ thiết kế
một sản phẩm dựa trên quan niệm đó là một tập hợp các ích lợi mang đến sự
thoả mãn khách hàng mục tiêu. Sản phẩm ngân hàng thường chia thành nhiều
cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ tăng thêm giá trị cho khách hàng va được
dùng để tạo sự khác biệt so với các sản phẩm và nhãn hiệu khác nhau của
ngân hàng đối thủ. Từ cơ sở này, các ngân hàng sẽ tiến hành các hoạt động
marketing khác nhau để khai thác hiệu quả sản phẩm của mình.
Để đưa ra khái niệm về dịch vụ thẻ ngân hàng có thể đứng trên hai giác
độ, từ phía ngân hàng và từ phía khách hàng. Đứng trên góc độ thỏa dụng nhu
cầu khách hàng thì có thể hiểu: dịch vụ thẻ ngân hàng là tổng hợp những đặc
điểm, tính năng, công dụng của thẻ do ngân hàng phát hành cung cấp cho
khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng trong việc
sử dụng thẻ.
Đứng trên góc độ của ngân hàng phát hành thẻ, dịch vụ thẻ cũng là một
phần của dịch vụ ngân hàng. Do đó, ngoài việc cung cấp dịch vụ để đáp ứng
nhu cầu của khách hàng, ngân hàng còn thu phí thông qua phát hành thẻ và
các dịch vụ gia tăng khác.
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ thẻ ngân hàng là tập hợp những tính năng,
tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ nhằm thỏa mãn
nhu cầu của khách hàng như: Rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,
thanh toán hàng hóa dịch vụ và các nhu cầu khác. Các hoạt động của dịch vụ
thẻ ngân hàng bao gồm: Hoạt động phát hành thẻ, hoạt động thanh toán thẻ và
hoạt động quản lý rủi ro.
Trong số các sản phầm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ, dịch vụ thẻ ngân
hàng mang những đặc điểm riêng nhất định:


10

- Hoạt động thẻ ngân hàng là sự phát triển cao của hoạt động ngân hàng,
là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ (đặc biệt là điện tử, tin học
viễn thông) với quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá của các hoạt động dịch vụ
tài chính-ngân hàng và đặc biệt là sự phát triển mạng lưới toàn cầu của các
ngân hàng và sự liên kết giữa các ngân hàng thành một khối thống nhất trên
cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ.
- Hoạt động thẻ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích không chỉ đối với
nền kinh tế và hệ thống ngân hàng mà còn với những chủ sử dụng thẻ. Tuy
nhiên, bên cạnh những tiện ích, dịch vụ thẻ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro
và tổn thất.
- Cùng với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác như:
séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, Internet banking, E-banking, Home banking,
Phone banking...,thẻ ngân hàng góp phần làm giảm tỷ lệ thanh toán bằng tiền
mặt trong các giao dịch kinh tế.
- So với các công cụ thanh toán khác thì chi phí đầu tư đối với lĩnh vực
thẻ trong việc xây dựng hệ thống phát hành và thanh toán thẻ là rất lớn, thời
gian hoàn vốn dài.
- Dịch vụ thẻ ngân hàng đòi hỏi một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn,
nghiệp vụ và kinh nghiệm xử lý để đảm bảo thông suốt và an toàn trong hoạt
động thẻ và đáp ứng yêu cầu của các TCTQT.
- Không giống như các sản phẩm, dịch vụ khác, loại hình dịch vụ thẻ
ngân hàng mang tính đồng nhất cao, sự khác biệt hoá sản phẩm hầu như
không có. Do vậy, để thắng lợi trong cạnh tranh các ngân hàng thường tập
trung vào các hoạt động liên quan đến việc marketing sản phẩm, dịch vụ sau
bán hàng... hơn là tập trung nghiên cứu tạo ra sự khác biệt về đặc tính giữa
các sản phẩm.


11

1.1.3. Các chủ thể tham gia vào dịch vụ thẻ
 Ngân hàng phát hành thẻ
NHPHT là tổ chức tài chính - tín dụng thực hiện việc phát hành thẻ cho
chủ thẻ một cách hợp pháp. NHPHT cũng có thể là ngân hàng được sự cho
phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương
hiệu của những tổ chức và công ty thẻ này. Tên của NHPHT được in trên thẻ,
thể hiện thẻ đó là sản phẩm do mình phát hành.
NHPHT qui định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho chủ thẻ tuân
thủ và có quyền kí kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là một ngân hàng hoặc
một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ
tín dụng. Trong trường hợp này, NHPHT tận dụng được ưu thế của bên thứ ba
về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và những ưu việt về vị trí địa
lý, tuy nhiên, cũng phải chịu rủi ro về tài chính bởi bên thứ ba (lúc này hoạt
động dưới danh nghĩa là ngân hàng đại lý). Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng
đại lý với NHPHT được gọi là ngân hàng đại lý phát hành. Nếu tên của ngân
hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì nhất thiết ngân hàng đại
lý phát hành thẻ phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc các công
ty thẻ.
NHPHT có trách nhiệm quản lý hệ thống tài khoản thẻ, hệ thống phát
hành thẻ và các hoạt động liên quan sử dụng thẻ.
 Ngân hàng thanh toán thẻ
NHTTT là ngân hàng trong hệ thống các ngân hàng quốc tế chấp nhận
thanh toán các loại dịch vụ liên quan đến thẻ do NHPH đã phát hành.
Vai trò của NHTT là thiết lập và duy trì mạng lưới các ĐVCNT trong
nghiệp vụ thẻ cũng như vai trò của NHPH là thiết lập và duy trì quan hệ với
các chủ thẻ. Nhiều NHTM cũng như các tổ chức tài chính làm nghiệp vụ thẻ
với tư cách vừa là nhà phát hành vừa là nhà thanh toán thẻ. Quản lý tốt hệ


12

thống ĐVCNT có thể thu lợi nhuận cho nhà thanh toán và nhiều lợi ích khác
cho việc liên kết.
Các NHTM thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ phải đầu tư hệ thống máy
móc xử lý và quản lý giao dịch, hệ thống cấp phép tại nội bộ ngân hàng và hệ
thống máy móc chấp nhận thẻ tại các ĐVCNT. Các ngân hàng thu phí chấp
nhận thẻ từ các ĐVCNT để bù đắp cho chi phí đầu tư, phí trao đổi thanh toán
bù trừ giữa các ngân hàng và thu lợi nhuận.
 Đơn vị chấp nhận thẻ
ĐVCNT là các tổ chức hay cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ chấp
nhận thẻ làm phương tiện thanh toán. ĐVCNT hoạt động trên nhiều lĩnh vực:
nhà hàng, khách sạn, sân bay...
Để trở thành ĐVCNT của ngân hàng, các ĐVCNT phải ký kết hợp đồng
chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán, có tình hình tài chính tốt và có
năng lực kinh doanh. Cũng như việc các NHPHT thẩm định khách hàng trước
khi phát hành thẻ, các NHTTT cũng sẽ chỉ quyết định ký kết hợp đồng chấp
nhận thẻ với những đơn vị kinh doanh hiệu quả, có khả năng thu hút nhiều
giao dịch sử dụng thẻ. Mặc dù phải trả cho NHTTT một tỷ lệ phí chiết khấu
theo lượng tiền trong mỗi giao dịch, các ĐVCNT vẫn có được lợi thế cạnh
tranh bởi việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ ngân hàng sẽ giúp các đơn vị
này thu hút được một lượng khách hàng lớn, nâng cao số lượng các giao dịch
thực hiện, góp phần tăng cao hiệu quả kinh doanh.
 Chủ thẻ
Chủ thẻ là người được NHPHT phát hành thẻ để sử dụng trong hạn mức
tín dụng được cấp hoặc số dư trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Chủ thẻ có
thể là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công ty ủy
quyền sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ và sử dụng thẻ theo những điều
khoản, điều kiện do NHPHT quy định. Chủ thẻ được sử dụng thẻ của mình để


13

thanh toán hàng hóa - dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hóa - dịch vụ có
chấp nhận thẻ, ứng tiền mặt tại các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân
hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy ATM.
 Tổ chức thẻ quốc tế
TCTQT là những tổ chức phi chính phủ có chức năng và đầy đủ điều
kiện đứng ra làm người tổ chức, điều hành, điều tiết, hướng dẫn và giám sát
hoạt động của các ngân hàng thành viên hoạt động trong khuôn khổ và điều lệ
nhất định. TCTQT có mạng lưới hoạt động rộng khắp với thương hiệu nổi
tiếng và các sản phẩm đa dạng như các tổ chức thẻ: VISA, MASTERCARD,
AMERICAN EXPRESS, JCB...
1.1.4. Các hoạt động chính của Dịch vụ thẻ
1.1.4.1 Hoạt động phát hành thẻ
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai
toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Mỗi một
quá trình đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và quản lý
rủi ro cho ngân hàng. Các NHPHT phải xây dựng các quy định về việc sử
dụng thẻ và thu nợ, gồm các yếu tố: số tiền thanh toán tối thiểu, ngày sao kê,
ngày đến hạn, các loại phí và lãi, hạn mức tín dụng tối đa tối thiểu, các chính
sách ưu đãi...
Tài khoản
thẻ

Chủ thẻ

(4)
(1)

(2)

(3)

Ngân hàng
phát hành

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ


14

(11

Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ cho NHPHT theo

mẫu của NHPHT
(11

NHPHT kiểm tra tính chính xác, hợp lệ của các thông tin trên hồ

sơ yêu cầu phát hành thẻ do khách hàng khai báo; đối chiếu, tham khảo với
các thông báo phòng ngừa rủi ro (nếu có) của các cơ quan hữu quan khác.
(11

Sau khi hồ sơ mở thẻ của khách hàng được chấp nhận, ngân hàng

mở tài khoản thẻ cho khách hàng, thu phí phát hành thẻ (nếu có), lập hồ sơ
quản lý thẻ, xác định hạng thẻ và loại thẻ, xác định hạn mức tín dụng (đối với
thẻ tín dụng), tiến hành mã hóa thẻ, xác định số PIN và in thẻ.
(11

Ngân hàng tiến hành giao thẻ cho khách hàng một cách an toàn

và đảm bảo bí mật. Chủ thẻ nhận thẻ và ký vào giấy giao nhận thẻ và dải băng
từ ở mặt sau của thẻ.
Khi phát hành thẻ, ngân hàng phát hành phải tiến hành nhiều hoạt động
khác nhau có liên quan như:
- Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường.
- Thẩm định khách hàng phát hành thẻ.
- Cấp hạn mức tín dụng thẻ đối với thẻ tín dụng.
- Thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng.
- In nổi và mã hoá thẻ, cung cấp mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ.
- Quản lý thông tin khách hàng.
- Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng.
- Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng.
- Cung cấp dịch vụ khách hàng.
- Tổ chức thanh toán bù trừ với các TCTQT.
Triển khai nghiệp vụ phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí thu từ chủ thẻ,
các ngân hàng còn được hưởng phí trao đổi do NHTTT chia sẻ từ phí thanh
toán thẻ thông qua các TCTQT. Đây là phần lợi nhuận cơ bản của các
NHPHT. Trên cơ sở nguồn thu này, các NHPHT đưa ra những chế độ miễn lãi


15

và ưu đãi khác cho khách hàng để mở rộng đối tượng sử dụng thẻ cũng như
tăng doanh số sử dụng thẻ.
1.1.4.2. Hoạt động thanh toán thẻ
Cùng với hoạt động phát hành thẻ, hoạt động thanh toán thẻ đóng vai trò
quyết định đến sự phát triển của dịch vụ thẻ. Việc triển khai hoạt động thanh
toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thu lợi nhuận từ nguồn phí chiết
khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các đơn vị chấp nhận
thẻ mà còn là mong muốn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn chính,
tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng thẻ.
(1)

CHỦ THẺ

(9)

ĐƠN VỊ CHẤP
NHẬN THẺ

(2)

(8)

NGÂN HÀNG
PHÁT HÀNH

(6)
(7)

(4)

TỔ CHỨC THẺ
QUỐC TẾ

(5)

(3)

NGÂN HÀNG
THANH TOÁN

Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ

(1) Chủ thẻ dùng thẻ của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc
rút tiền tại các máy ATM và các ĐVCNT. ĐVCNT khi nhận được thẻ từ
khách hàng phải kiểm tra tính hợp lệ. Nếu thông tin trên thẻ hợp lệ ĐVCNT
sẽ trừ tiền trên thẻ của khách hàng và cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc tiền
mặt cho khách hàng.
(2) DVCNT giao dịch với NHTTT: Gửi hóa đơn thanh toán thẻ cho ngân
hàng. Hóa đơn thanh toán thẻ được lưu tại ngân hàng thanh toán thẻ dùng làm
chứng từ gốc để kiểm tra, giải quyết khiếu nại (nếu có)
(3) NHTTT ghi có vào tài khoản của ĐVCNT.


16

(4) NHTTT thanh toán với tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên khác.
Cuối mỗi ngày, ngân hàng tổng hợp toàn bộ dữ liệu các giao dịch phát sinh từ
thẻ do ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho tổ chức thẻ quốc tế.
(5) Tổ chức thẻ quốc tế báo có cho NHTTT: Sau khi nhận được dữ liệu
từ NHTTT sẽ tiến hành ghi có cho ngân hàng. Dữ liệu mà tổ chức thẻ quốc tế
truyền về bao gồm những khoản mà NHTTT đã trả, những khoản phí phải trả
cho Tổ chức thẻ quốc tế và những giao dịch bị tra soát.
(6) Tổ chức thẻ quốc tế truyền dữ liệu cho NHPHT.
(7) Tổ chức thẻ quốc tế báo nợ cho NHPHT.
(8) Trên cơ sở đó NHPHT gửi sao kê cho chủ thẻ.
(9) Chủ thẻ thanh toán nợ cho NHPHT sau khi nhận được sao kê của
NHPHT.
Để hoạt động thanh toán thẻ của các NHTM vận hành tốt, cần có các
hoạt động sau:
- Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin ĐVCNT
- Quản lý hoạt động của mạng lưới ĐVCNT
- Tổ chức thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ cho các ĐVCNT
- Cung cấp dịch vụ khách hàng: trang thiết bị máy móc, tài liệu, hỗ trợ
kỹ thuật...
- Tổ chức tập huấn kiến thức thanh toán thẻ cho nhân viên các ĐVCNT
1.1.4.3. Hoạt động quản lý rủi ro
Bát kỳ hoạt động kinh doanh thuộc ngành nào cũng đều hàm chứa rủi ro.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của các NHTM cũng như vậy. Rủi ro và
nguy cơ rủi ro có thể xuất hịên bất cứ lúc nào, khâu nào trong toàn bộ quá trình
phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, gây tổn thất cho chủ thẻ, cơ sở chấp nhận
phân tích, học hỏi và phối hợp với nhau để có thể đương đầu với rủi ro và
phòng ngừa nguy cơ rủi ro bằng cách sử dụng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp


17

vụ thích hợp một cách hiệu quả. Một ngân hàng kinh doanh thẻ rất dễ phải chịu
tổn thất, thậm chí nguy cơ phá sản nếu không lưu tâm đến vấn đề này.
Hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động thẻ gồm các nội dung:
- Điều tra, ngăn ngừa các hành vi sử dụng thẻ giả mạo. Quản lý danh
mục các tài khoản liên quan tới những thẻ đã được thông báo là mất cắp, thất
lạc. Xây dựng các kế hoạch theo dõi việc bảo mật phôi thẻ, thẻ đã in và thẻ
hỏng, thẻ thu hồi.
- Cập nhật thông tin trên danh sách thẻ mất cắp, thất lạc. Giải quyết các
nhu cầu về giả mạo, tra soát, khiếu nại của khách hàng.
- Hợp tác với cơ quan có thẩm quyền liên quan trong việc điều tra, xử lý
các hành vi vi phạm hợp đồng, giả mạo.
- Tổ chức tập huấn cho nhân viên ĐVCNT và chủ thẻ về các biện pháp
phòng ngừa giả mạo.
1.2. Phát triển dịch vụ thẻ
1.2.1. Quan niệm về phát triển dịch vụ thẻ
Phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng là một phạm trù trừu tượng và chưa
được thống nhất về khái niệm, do đó có thể được tiếp cận và nghiên cứu trên
nhiều giác độ khác nhau.
Xét trên giác độ người sử dụng thẻ (chủ thẻ): Sự phát triển dịch vụ thẻ là
sự đa dạng, phong phú các sản phẩm thẻ, sự gia tăng các tiện ích và đảm bảo
tính an toàn, bảo mật. Sự phát triển dịch vụ thẻ chỉ thực sự được cảm nhận khi
khách hàng có thể sử dụng thẻ cho nhiều mục đích khác nhau như: Rút tiền
mặt, thanh toán hóa đơn hàng hóa, dịch vụ…, ngoài ra còn có thể sử dụng
rộng rãi trong phạm vi cả trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, khách hàng có
thể yên tâm về độ an toàn về tài sản và tính bảo mật về các thông tin cá nhân
khi sử dụng thẻ ngân hàng, hạn chế những rủi ro kỹ thuật và rủi ro đạo đức
làm tổn hại đến quyền lợi chính đáng của khách hàng.


18

Các ĐVCNT lại mong muốn sự phát triển dịch vụ thẻ mang lại cho họ
doanh số bán hàng cao nhờ việc sử dụng rộng rãi thẻ thanh toán trong thanh
toán hàng hóa dịch vụ.
Dưới giác độ của một NHTM, luận văn nghiên cứu sự phát triển của dịch
vụ thẻ với quan niệm chính là sự gia tăng về số lượng khách hàng, doanh số và
hiệu quả kinh doanh thẻ của NHTM.
Phát triển dịch vụ thẻ là một khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn
so với khái niệm tăng trưởng thẻ. Trong khi tăng trưởng thẻ chỉ là sự gia tăng
thuần túy về mặt lượng của dịch vụ thẻ thì phát triển dịch vụ thẻ ngoài sự gia
tăng về mặt số lượng thẻ phát hành, sự gia tăng doanh số thanh toán thẻ,
doanh số chấp nhận thẻ còn bao hàm các nội dung khác như: Sự gia tăng các
tiện ích khi sử dụng thẻ, sự gia tăng về lợi ích của ngân hàng khi cung cấp
dịch vụ thẻ, sự gia tăng về tiện ích của việc sử dụng thẻ… Việc phát triển dịch
vụ thẻ, để đạt được hiệu quả, cần phải được thực hiện dựa trên cơ sở đảm bảo
an toàn, giảm thiểu rủi ro, tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và tổ
chức quản lý hoạt động kinh doanh thẻ một cách hợp lý.
Có thể nói dịch vụ thẻ ngân hàng là một trong những sản phẩm hiện đại,
phổ biến trên thế giới và ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam. Dưới
góc độ của các ngân hàng thì dịch vụ thẻ trước hết mang lại nguồn vốn huy
động rẻ. Ngân hàng luôn có một nguồn tiền gửi rất lớn từ tài khoản giao dịch
của khách hàng mà phải trả lãi rất thấp, thường là lãi không kỳ hạn. Tài khoản
giao dịch phát triển cho phép mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và là
điều kiện để tạo ra tiền ghi sổ, chức năng tạo tiền của ngân hàng được thực
hiện. Cũng qua tài khoản này, ngân hàng có thể cấp tín dụng cho khách hàng
dưới hình thức thấu chi dựa trên cầm cố tài sản, thế chấp hoặc tín chấp.
Những khách hàng sử dụng thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho một
khoản tín dụng theo đó khách hàng được chi tiêu, thanh toán hàng hóa dịch


19

vụ trong hạn mức tín dụng được cấp. Hạn mức tín dụng là hạn mức tuần
hoàn do đó khi khách hàng đã thanh toán thì hạn mức sẽ tự động được phục
hồi, điều này đồng nghĩa với việc khách hàng được ngân hàng cấp một khoản
vay mới. Phương thức này vừa đơn giản vừa an toàn, giúp ngân hàng mở rộng
tín dụng, mở rộng thị trường.
Bằng việc gia tăng các tiện ích của thẻ nói riêng và nâng cao chất
lượng các dịch vụ thẻ ngân hàng nói chung, ngân hàng không chỉ duy trì
mối quan hệ với khách hàng cũ mà còn thu hút thêm khách hàng mới. Việc
đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tăng tính
cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Thu nhập có được từ việc cung cấp các dịch vụ
hiện tại chưa chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu nhập song trong tương lai đây
sẽ là nguồn thu nhập đáng kể của ngân hàng. Hơn nữa, phát triển loại hình
dịch vụ này còn tạo cơ hội để ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng,
tổ chức tài chính trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những tiến bộ
khoa học kĩ thuật, cải thiện vị thế của ngân hàng trên thị trường. Điều này đặc
biệt có ý nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa, khoa học công nghệ phát triển như
vũ bão và kinh tế chính trị xã hội thế giới còn nhiều bất ổn như hiện nay.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ thẻ
 Sự gia tăng về số lượng thẻ phát hành
Để đánh giá sự phát triển dịch vụ thẻ của một ngân hàng, trước tiên các
ngân hàng thường dùng các chỉ tiêu đánh giá sự gia tăng về số lượng thẻ phát
hành, số lượng máy ATM được lắp đặt và số lượng điểm bán hàng (POS),
những chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
Sự gia tăng số lượng thẻ phát hành phản ánh khả năng thu hút khách hàng,
khả năng mở rộng kinh doanh thẻ của ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ
thẻ không hoạt động, chỉ duy trì số dư tối thiểu là không nhỏ, điều này gây lãng
phí tài nguyên của ngân hàng, tốn kém chi phí quảng bá và tiếp thị sản phẩm, chi


20

phí phát hành thẻ, và chi phí hoạt động kinh doanh thẻ. Vì vậy, để sự gia tăng số
lượng thẻ phát hành thực sự mang lại hiệu quả cho hoạt động phát triển dịch vụ
thẻ của ngân hàng, thì cần phải có sự tìm hiểu nhu cầu khách hàng và tư vấn sản
phẩm phù hợp để giảm thiểu được số lượng thẻ không hoạt động.
Số lượng

Mức gia tăng

thẻ phát hành

số lượng

Số lượng
-

thẻ phát hành

năm n
năm (n-1)
x 100%
Số lượng thẻ phát hành năm (n-1)
Bên cạnh đó, sự gia tăng về số lượng máy ATM và POS lại phản ánh

thẻ phát hành

=

mức độ đáp ứng nhu cầu về việc rút tiền và thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng
thẻ một cách tiện lợi. Đây cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát
triển của dịch vụ thẻ về mặt lượng. Khi dịch vụ thẻ của một ngân hàng phát
triển, thì số lượng máy ATM được lắp đặt nhiều hơn, số lượng điểm thanh
toán thẻ (POS) cũng được mở rộng hơn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng trong việc sử dụng thẻ. Vì vậy, để phát triển dịch vụ thẻ, các ngân
hàng ngoài việc chú ý gia tăng số lượng thẻ phát hành, còn cần phải đảm bảo
hoạt động thường xuyên, ổn định của hệ thống máy ATM, POS nhằm đáp ứng
tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
 Sự gia tăng số dư tài khoản thẻ
Số dư tiền gửi trên tài khoản thẻ là số tiền trong tài khoản hoặc tài
khoản thẻ tại ngân hàng mà khách hàng có phát hành thẻ trên tài khoản đó,
và là số tiền mà khách hàng có thể rút hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
Với thẻ ghi nợ, là loại thẻ phát hành dựa trên cơ sở tài khoản tiền gửi mở tại
ngân hàng. Do đó số lượng thẻ phát hành càng nhiều thì số tài khoản tiền gửi
càng tăng, thông qua đó vốn của ngân hàng cũng tăng một khoản tương ứng.
Với thẻ tín dụng, nó cũng là một loại hình tín dụng, theo đó, khách hàng
được chi tiêu trước và hoàn lại ngân hàng sau nhưng lại có tác dụng làm tăng
vốn huy động của ngân hàng.
Trong quy chế phát hành, thanh toán thẻ tín dụng, các ĐVCNT đều phải


21

có tài khoản tại ngân hàng. Mỗi giao dịch phát sinh, ĐVCNT gửi hoá đơn
thanh toán đến ngân hàng và ngân hàng sẽ căn cứ vào đó để ghi có tài khoản
tiền gửi của ĐVCNT. Chính điều này làm tăng số dư tài khoản và tồn quỹ của
ngân hàng. Đến ngày thanh toán theo định kỳ, chủ thẻ sẽ thanh toán toàn bộ
khoản tín dụng làm cho tồn quỹ của ngân hàng sẽ tăng lên trên thực tế. Đây là
một hình thức huy động vốn của ngân hàng vừa là NHPH, vừa là NHTT.
Hiện nay, có bốn hình thức đảm bảo cho hạn mức thẻ tín dụng phổ biến là:
Ký quỹ, đảm bảo bằng sổ tiết kiệm, đảm bảo bằng bất động sản và tín chấp.
Đối với hình thức ký quỹ và đảm bảo bằng sổ tiết kiệm, để sở hữu thẻ,
khách hàng phải duy trì số tiền ký quỹ bằng số dư trên tài khoản tiền gửi
hoặc có sổ tiết kiệm mở tại chính NHPH. Trong thời gian sử dụng thẻ,
khách hàng không được sử dụng khoản ký quỹ hoặc sổ tiết kiệm này. Do
vậy ngân hàng có thể sử dụng khoản ký quỹ và sổ tiết kiệm này như một
nguồn vốn huy động khác. Nguồn vốn huy động này không những lớn mà
còn rất ổn định do khách hàng sẽ phải duy trì số vốn này trong suốt thời
hạn hiệu lực của thẻ tín dụng đã phát hành.
Vì vậy, thông qua doanh số huy động từ dịch vụ thẻ của ngân hàng có thể
đánh giá được sự phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng đó. Dịch vụ thẻ của ngân
hàng càng phát triển thì doanh số huy động từ thẻ càng cao và ngược lại.
Mức gia tăng

Số dư TK thẻ

-

Số dư TK thẻ

năm n
năm (n-1)
x100%
=
Số dư TK thẻ năm (n-1)
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển dịch vụ thẻ của

số dư TK thẻ

một ngân hàng vì thông qua nguồn tiền gửi này của khách hàng, với lãi suất
chi trả tương đối thấp, ngân hàng có thể sử dụng vào các hoạt động kinh
doanh khác một cách hiệu quả. Tuy nhiên các ngân hàng cũng cần phải quản
lý tốt nguồn vốn này do đây là nguồn tiền gửi thanh toán, do đó tính ổn định
không cao bằng nguồn tiền gửi tiết kiệm thông thường.


22

 Sự gia tăng của doanh số thanh toán qua thẻ
Doanh số thanh toán qua thẻ là tổng giá trị các giao dịch được thanh
toán bằng thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ và số lượng tiền mặt được ứng tại
các điểm rút tiền mặt. Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Mức gia tăng
doanh số thanh

Doanh số thanh

-

Doanh số thanh toán

toán qua thẻ năm n
qua thẻ năm (n-1)
x100%
Doanh số thanh toán qua thẻ năm (n-1)
toán qua thẻ
Doanh số này càng cao chứng tỏ số lượng khách hàng ưa chuộng sử dụng
=

thẻ và mức độ phổ biến của thẻ do ngân hàng đó phát hành càng cao. Thông qua
đó các ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ sẽ có thu nhập lớn hơn. Chính vì vậy, đây
là một tiêu chí phản ánh sự phát triển của dịch vụ thẻ ngân hàng.
 Sự gia tăng của dư nợ từ thẻ tín dụng
Với hình thức thẻ tín dụng, ngân hàng còn có thể thực hiện các khoản
cho vay theo hạn mức tín dụng nhất định, cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn
mức đó. Sau đó theo định kỳ, ngân hàng sẽ gửi hoá đơn thanh toán cho chủ
thẻ. Nếu chủ thẻ trả đầy đủ ngay thì sẽ không phải trả lãi. Tuy nhiên trên thực
tế chủ thẻ chỉ trả một khoản tối thiểu đủ để duy trì hạn mức (thông thường là
10% số tiền đã chi tiêu), phần còn lại ngân hàng sẽ cho khách hàng vay với
một mức lãi suất nhất định và khách hàng sẵn sàng chịu lãi nếu mức lãi suất
tương đối thấp. Như vậy, với hình thức phát hành thẻ tín dụng, ngân hàng đã
mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay tiêu dùng. Đây là hoạt động
tín dụng và đầu tư an toàn, nhanh chóng và hiệu quả do khoản vay này dựa
vào uy tín hoặc khả năng tài chính cao và ổn định của chủ thẻ .
Hơn nữa, khi hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết sẽ gắn ngân hàng và
chủ thẻ trong một mối quan hệ giao dịch lâu dài, đồng thời quan hệ giữa ngân
hàng và ĐVCNT cũng được gắn kết tương tự. Chừng nào thẻ tín dụng và các
giao dịch của nó còn tồn tại thì giữa ngân hàng và ĐVCNT luôn tồn tại các


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×