Tải bản đầy đủ

Phát triển hoạt động tư vấn cổ phần hoá tại công ty cổ phần chứng khoán Kim Long

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

ý nghĩa

CP

CỔ PHIẾU

CPH

CỔ PHẦN HOÁ

KLS

CHỨNG KHOÁN KIM LONG

DNN

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC


DN

DOANH NGHIỆP

STP

CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP VÀ
THƯƠNG MẠI SÔNG ĐÀ

CTCK:

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN


LỜI MỞ ĐẦU
Trong nhu cầu hội nhập các doanh nghiệp đang dần thay đổi chính mình
để đáp ứng nhu cầu đó . Nhận thức được ưu điểm của hình thức công ty cổ phần
đó là tính năng động , khả năng huy động vốn dễ dàng và sự minh bạch đem lại
hiệu quả trong hoạt động . Các doanh nghiệp đang chủ động tiến hành cổ phần
hoá đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước ,dưới sự chỉ đạo quyết liệt của chính
phủ nhằm đạt mực tiêu tiến tới năm 2010 sẽ cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi
các doanh nghiệp quốc doanh thành các công ty cổ phần làm ăn hiệu quả . Trong
những năm qua chúng ta đã đạt được kết qủa đáng khen ngợi trong nổ lực cổ
phần hoá đó là tính đến thời điểm cuối năm 2007 đã hoàn thành việc cổ phần hoá
cho hơn 3000 doanh nghiệp quốc doanh trong tổng số hơn 5000 doanh nghiệp
quốc doanh trên cả nước. Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhận một cách thực tế
rằng với yêu cầu hội nhập đang diễn ra rất mạnh mẽ thì tốc độ và chất lượng
trong hoạt động cổ phần hoá là vẫn còn nhiều hạn chế như : việc cổ phần hoá tại
các doanh nghiệp nhà nước diễn ra còn chập chạp , việc xác định giá trị của
doanh nghiệp còn thiếu chính xác ( bị xác định dưới gí trị thực ) , hiệu hoạt động
quản trị sau cổ phân hoá còn thấp …
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là do sự trì trệ trong tư duy của
chính các doanh nghiệp , cơ chế quản lý điều hành còn chưa tốt ,đặc biệt phải kể
đến là thiếu sự tư vấn chuyên nghiệp từ các tổ chức tài chính như các công ty
chứng khoán do hoạt động này cỉa các công ty chứng khoán ở việt nam còn chưa
phát tiển . Các công ty chứng choán đóng vai trò quan trọng trong qua trình cổ
phần hoá của doanh nghiệp .Các công ty tài chính-chứng khoán sẽ cung các dịch
vụ tư vấn từ việc xác định giá trị doanh nghiệp , phân phối cổ phần đến việc tư
vấn tái cấu trúc doanh nghiệp sau cổ phần hoá , các phương án sử dụng tiền thu


được cho kế hoạch phát triển cũng như việc tổ chức đại hội đồng cổ đông …
nhằm nâng cao hiệu quả trong và sau cổ phần hoá của doanh nghiệp . Nâng cao
hoạt động tư vấn cổ phân hoá của các công ty tài chính-chứng khoán sẽ đáp ứng


được nhu cầu cấp bách hiện nay đặt ra đó là vừa phải nhanh chóng cổ phần hoá
các doanh nhiệp nhưng cũng phải đảm bảo tính hiệu quả trong và sau cổ phần
hoá .
N hận thức được vấn đề này nên trong quá trình thực tập tại công ty cổ
phần chứng khoán Kim Long em mạnh dạn nghiên cưu đề tài : “ phát triển hoạt
động tư vấn cổ phần hoá tại công ty cổ phần chứng khoán Kim Long”.
Em xin chân thành cảm ơn Ths. Lê Trung Thành đã giúp em hoàn thiện
chuyên dề thực tập này !


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
TƯ VẤN CỔ PHẦN HOÁ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ( CTCK)
1.1.1. Khái niệm về công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trường chứng khóan .
Ở Việt Nam , theo quy định 04/1998/QĐ- UBCK3 ngày 13/10/1998 của
UBCKNN, CTCK là công ty cổ phần , cty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt
Nam , được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số lôại hình kinh
doanh chứng khoán .
Do đặc điểm của CTCK có thể kinh doanh trên một lĩnh vực , loại hình
kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay có quan điểm phân chia
CTCK thành các loại sau :
-

Công ty môi giới chứng khóan là CTCK chỉ thực hiện viẹc trung

gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng .
-

Công ty bảo lãnh phát hành chứng khóan là CTCK có lĩnh vực hoạt

động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành để hưởng phí hoặc
chênh lệch giá .
-

Công ty kinh doanh chứng khoán là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp

vụ tự doanh , có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh
doanh .
-

Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu .

-

Công ty chứng khoán không tập trung là CTCK hoạt động chỉ trên

thị trường OTC và họ đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường .

1.1.2. Các loại hình tổ chức của CTCK
1. Công ty hợp danh


Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên
Thành viên của CTCK hợp danh bao gồm : thành viên góp vốn và thành
viên hợp danh . các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bàn toàn
bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty . các thành viên góp vốn không
tham gia điều hành công ty , họ chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần
vốn góp của mình đối với các khoản nợ của công ty .
Công ty hợp danh thương không được phép phát hành bất cứ một loại
chứng khoán nào.
2. Công ty cổ phần (CTCP)
CTCP là pháp nhân độc lập với chủ sở hữu công ty là các cổ đông
cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp tong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
CTCP có quyền phát hành chứng khoán ( cổ phiếu và trái phiếu) ra công
chúng theo quy định của pháp luậtvè chứng khoán hiện hành .
3. Công ty TNHH
Thành viên của cty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
Cty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu .
1.1.3. Điều kiện và thủ tục thành lập CTCK
Để được thành lập, các tổ chức phải đáp ứng các điều kiện sau :
 Điều kiện về vốn : CTCK phải có vốn điều lệ tối thiểu phải bầng vốn
pháp định . vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình
nghiệp vụ.
Ví dụ : theo nghị định 14/ 2007/NĐ-CP quy định cho từng loại hình kinh
doanh như sau :
-

Môi giới 25 tỷ đồng

-

Tự doanh 100 tỷ đồng

-

Bảo lãnh phát hành 165 tỷ đồng

-

Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng.


Trường hợp xin cấp phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì vốn pháp
định là tổng số vốn pháp định của từng loại hi nhf riêng lẻ.
 Điều kiện nhân sự : những người quản lý hay nhân viên giao dịch của
công ty phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức , trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm , cũng như mức độ tín nhiệm , tính trung thực , Hầu hết các nước điều
yêu cầu nhân viên CTCK phải có giấy phép hành nghề . Những
 người dữ các chức danh quản lý còn phải có giays phép đại diện .
 Điều kiện về cơ sở vật chất: các tổ chức và cá nhân sáng lập CTCK
phải đảm bảo yêu cầu cơ sở vật chất tối thiểu cho CTCK .
Ở Việt Nam quy định cơ sở vật chất đối với CTCK được cấp phép hoạt
động phải đáp ứng các điều kiện sau :
Có phương án kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội và phát triển ngành chứng khoán.
Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán.
Giám đốc (TGĐ), các nhân viên kinh doanh (không kể nhân viên kế toán,
văn thư hành chính, thủ quỹ) của CTCK phải có giấy phép hành nghề do UBCK
Nhà nước cấp.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của CTCK
CTCK hạot động theo hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc
mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính hành chính .
 Nhóm nguyên tắc đạo đức :
CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của
khách hàng
Kinh doanh có kỹ năng , tận tuỵ , có tính thần trách nhiệm
Ưu tiên thực hiện lệch của khách hàng trứơc khi thực hiện lệch của công
ty .
Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng , không được tiết lộ thông tin vè tài
khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồn ý bằng văn bản trừ khi có yêu
cầu của cơ quan quản lý nhà nước .


CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho
khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh
chịu , đồng thời không được khẳng định về lời nhuận các khoản đầu tư mà họ tư
vấn .
CTCK không đựôc phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản
thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình .
Ở nhiều quốc gia , các CTCK phải đóng góp vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư
chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp CTCK mất khả năng
thanh toán .
Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián , các CTCK không được
phép sử dụng các thông tị nội bộ đẻ mua bán chứng khóan cho chính mình gây
thiệt hại đến lợi ích của khách hàng .
Các CTCK không được tiến hánh các hoạt động có thể làm cho khách
hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả , giá trị và bản chát của chứng khóan hoặc
các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng .
 Nhóm nguyên tắc tài chính :
Đảm bảo các yêu cầu về vốn , cơ cấu và nguyên tắc hoạch toán , báo cáo
theo quy định của UBCKNN đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh
chứng khoán với khách hàng .
CTCK khoong được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để
kinh doanh , ngoài trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của
khách hàng .
Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng
với tài sản của mình . CTCK không được dùng chứng khóan của khách hàng làm
vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp đươck khách hàng đồng ý bằng văn bản .
1.1.5. Cở cấu tổ chức của CTCK
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứng
khoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng
khoán của nó . tuy nhiên chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phong


ban chức năng được chia thành hai khối khác nhau là khối nghiệp vụ và khối
phụ trợ .
 Khối nghiệp vụ ( font office) là khối thực hiện các giao dịch kinh
doanh . khối này đem lịa thu nhạp cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của
khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợpvới nhu cầu đó . tương ướng với klhối
nghiệp vụ do khối này phụ trách sẽ có những bộ phận phòng , ban nhất định :
-

Phòng môi giới

-

Phong tự doanh

-

Phòng bảo lãnh phát hành

-

Phòng tư vấn

-

Phòng ký quỹ

Tuy nhiên căn cứ vào quy mô thị trường và sự chú trọng vàp các nghiệp
vụ mà công ty chứng khoán có thể chuyên sâu từng bộ phận hoặc tông hợp các
nghiệp vụ vào trong một bộ phận .
 Khối phụ trợ ( back office) là khối không trực tiếp thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh , nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của
CTCK vì hoạt động của nó mang tính trợ giúp cho khối nghiệp vụ khối này bao
gồm các bộ phận sau :
-

Phòng nghiên cứu và phát triển

-

Phong phân tích và thông tin thị trường

-

Phong kế hoạch cty

-

Phòng phát triển sản phẩm mới

-

Phong công nghệ thông tin

-

Phong pháp chế

-

Phòng kế toán thanh toán và kiểm soát nội bộ

-

Phòng ngân quỹ, ký quỹ

-

phong tổng hợp hành chính nhân sự

Có thể tham khảo sơ đồ khối sau :
Sơ đồ 1.1 : Mô hình tổ chức khối I (font office) của


công ty chứng khoán

Phó giám đốc điều hành
khối một (font office)

Phong
môi
giới

Phòng tự
doanh

Phòng
bảo lãnh
phát hành

Phòng tư
vấn đầu tư

Phòng ký
quỹ

Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức khối II (back office) của công ty chứng
khoán

Phó giám đốc điều
hành khối hai ( back
office)

Phòng
nghiên
cứu phát
triển

Phòn kế
toán
thanh
toán và
kiểm
toán nội
bộ

Phong
phân tích
và thông
tin thị
trường

Phòng
ngân quỹ
ký quỹ

Phòng kế
hoạch
công ty

Phòng
tổng hợp
hành
chính
nhân sự

1.1.6. Vai trò chức năng của CTCK

Phòng
phát triển
sản phẩm
mới

Phòng
công nghệ
thông tin

Phòng pháp
chế


Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền
kinh tế nói chung và thị trườn chứng khoán nói riêng . nhờ các CTCK mà chứng
khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản
qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi đẻ phân bổ vào những nơi sử dụng có
hiệu quả .
1.1.6.1. Chức năng cơ ban của công ty chứng khoán


Tạo cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến

người sử dụng vốn


Cung cấp cơ chế giá cho giáo dịch

 tạo tính thanh khoản cho chứng khoán
 góp phần điều tiết và bình ổn thị trường
1.1.6.2. Vai của công ty chứng khoán
 Đối với tổ chức phát hành : CTCK tạo cơ chế huy động vốn phục vụ
nhà phát hành , là trung gian cho người đầu tư và nhà phát hành
 Đối với nhà đầu tư : CTCK làm giảm chi phí giao dịch , nâng cao hiệu
quả đầu tư
 Đối với thị trường chứng khoán :
a) Góp phần tạo lập giá
b) Góp phần làm tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính.
 Đối với cơ quan quản lý thị trường : CTCK có vai trò cung cấp thông
tin về thị trường chứng khóan cho cơ quan quản lý
1.1.7. Các hoạt động nghiệp vụ chính của CTCK
1.1.7.1.

Nhiệp vụ môi giới chứng khoán

a) Khái niệm : là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công
ty chứng khoán điện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng
phải chịu trách nhiệm đối với hạu quả kinh tế của việc giao dịch đó .
b) chức năng của hoạt động môi giới


-

cung cáp dịch vụ môi giới với tư cách là nối liền khách hàng với bôn

phận nghiên cứu đầu tư và nối liền những người bán và những người múa
-

đáp ứng nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết

-

khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức – tham lam , sợ hãi

-

đề xuất thời điểm bán hàng

1.1.7.2.
a)

Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

Khái niệm : tự doanh là việc CTCK tự tiến hành mua bánchứng

khoán cho chính mình
b) mục đích của hoạt động tự doanh : thu lợi nhuận cho chính mình
c) yêu cầu đối với hoạt động tự doanh :
-

tách biệt quản lý : giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới

-

Ưu tiên khách hàng

-

Bình ổn thị trường

d) Quy trình của nghiệp vụ tự doanh :
Giai đoạn một: xây dựng chiến lược đầu tư
Giai đạon hai : khái thác tìm kiếm các cơ hội đầu tư
Giai đoạn ba: phân tích đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư
Giai đoạn bốn : thực hiện đầu tư
Giai đoạn năm : quản lý đầu tư và thu hồi vốn
1.1.7.3.

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi
hỏi tổ chức phát hành phải cần đến công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phát
hành và thực hiện bảo lãnh , phân phối chứng khóan ra công chúng . Đây là
nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán và là nghiệp cụ chiếm tỷ
trọng doanh thu cao trong tổng doanh thu của công ty chứng khoán .
Vậy nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức
năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi trào bán
chứng khoán , tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng
khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành .


Các bước thực hiện như sau :
a. Tài liệu cho đợt bảo lãnh
-

Hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh

-

hợp đồng bảo lãnh phát hành

-

hợp đồng đại lý được lựa chọn

b. Hoa hồng
-

Phí quản lý

-

Phí nhượng bán

-

20% của hoa hồng bảo lãnh

c. Tành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành
-

Lựa chọn thành viện tổ hợp

-

Tham gia tổ hợp

d. Phân phối chứng khoán
-

Trước khi nộp hồ sơ dăng ký phát hành

-

Mời chào chứng khoán

-

Việc lập sổ

-

Cam kết bảo lãnh và phân chia chứng khoán

-

Định giá đợt chào bán

-

Ổnđịnh thị trường

-

Phân bổ vượt mức

-

Khoá sổ

1.1.7.4.

Nghiệp vụ vấn

a) Tư vấn đầu tư : bao gồm các loại theo tiêu chí
-

Theo hình thức của hoạt đong tư vấn : tư vấn trực tiếp và tư vấn gián

-

Theo mưc độ uỷ quỳên : tư vấn gợi ý và tư vấn uỷ quyền

tiếp
b) Tư vấn tài chính doanh nghiệp
-

Tư vấn cổ phâng hóa

-

Tư vấn niêm yết


-

khảo sát và đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

-

Tư vấn mua bán và sat nhập công ty


1.1.8. Các hoạt động nghiệp vụ phụ trợ


Lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của

khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt
buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường
tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký
chứng khoán tại các công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình
thức ghi sổ) hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng
chỉ vật chất). Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK
sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí
chuyển nhượng chứng khoán.


Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): xuất phát từ

việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ
tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng.


Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển,

bên cạnh hoạt động môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng,
CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao
dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ
mua ký quỹ.
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng của
mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp
cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ do CTCK
ứng trước tiền thanh toán. Đến kỳ hạn thoả thuận khách hàng phải hoàn trả đủ số
gốc vay cùng với lãi cho CTCK. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì
công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.


Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật về thị
trường chứng khoán còn cho phép CTCK được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ
đầu tư. Theo đó, CTCK cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và
tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. CTCK được thu phí dịch vụ
quản lý quỹ đầu tư
1.2. HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CỔ PHẦN HOÁ CỦA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN.
1.2.1. Khái niệm hoạt động tư vấn cổ phần hoá
Cổ phần hoá về cơ bản là việc chuyển công ty (với các loại hình sở hữu
khác nhau) thành công ty cổ phần (do các cổ đông sở hữu), chẳng hạn như
chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần, chuyển từ DN có vốn đầu tư nước ngoài
sang công ty cổ phần, chuyển công ty TNHH sang công ty cổ phần… Tuy
nhiên việc cổ phần hoá DNNN là công việc khó khăn nhất đòi hỏi nhiều thời
gian công sức nhất. và nó cũng là vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay ,
chúng ta cần đồng thời làm việc này với cả các doanh nghiệp khác song số
lượng các cty nhà nước là rất lớn trong nền kinh tế và quan điểm về “doanh
nghiệp gia đình” đang còn tồn tại rõ nét trong các doanh nghiệp t ư nhân khác
vì vậy chỉ có làm tốt việc cổ phần hoá các DNNN mới làm tiền đề cho hoạt
động cổ phần hoá nói chung cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay
. vậy trong bài nay tôi chủ yếu đề cập tới hoạt động cổ phần hoá tại các
DNNN
1.2.1.1.Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Nhìn vào thực tế các doanh nghiệp nhà nước hiện nay và yêu cầu cho mục
tiêu phát triển đất nước cùng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới , ta thấy
ngay được rằng điều cần làm ngay đó là tái cấu trúc lại bộ máy ,gỡ bỏ bộ khung
cũ kỹ lạc hậu , xây dựng một chiến lựơc phát triển bền vững .từ kinhnghiệm của
một số quốc giá trên thế giới và áp dụng một cách có chon lọc vào việt nam tì
điều ccàn làm ở đây chính là nhanh chóng cỏ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước làm ăn không hiệu quả để thi hút nguồn đầu tư trong dân cư và đầu tư nước


ngoài xây dựng môi trường cạnh tranh hiệu quả cho các doanhnghiệp cũng như
nền kinh tế , hoàn thiện thi trường tài chính quốc giá .
Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển DNNN thành công
ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của luật
doanh nghiệp. Với lịch sử phát triển khoảng 200 năm, công ty cổ phần đã khẳng
định vị thế của mình trong nền kinh tế hiện đại.
Về cơ bản công ty cổ phần có những đặc điểm sau:
- Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
giấy phép kinh doanh.
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người
sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông của công ty. Các cổ đông chỉ chịu trách
nhiệm tương ứng với số cổ phần mà mình đã mua. Cổ đông có quyền chuyển
nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi
biểu quyết.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành các chứng khoán ra công chúng
theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Vốn là một điều không thể thiếu cho hoạt động của một DN. So với các
loại hình DN khác như DN tư nhân, DN Nhà nước… thì công ty cổ phần có ưu
thế trong việc huy động vốn nhờ khả năng tích tụ và tập trung cao, phạm vi huy
động rộng không giới hạn về địa lý, dân tộc… có thể chuyển kỳ hạn của vốn từ
vốn đầu tư ngắn hạn sang trung và dài hạn. Công ty cổ phần là công ty duy nhất
được phát hành cổ phiếu nên có khả năng đa dạng hoá được nguồn vốn.
- Do nguồn vốn được chia thành nhiều phần nhỏ do nhiều cổ đông nắm
giữ nên có khả năng phân tán rủi ro cao, đa dạng hoá đầu tư do quy mô của DN
lớn, tính thanh khoản cao.
- Do việc tách biệt giữa quyền quản lý và quyền sở hữu nên công ty cổ phần có
cơ chế quản lý năng động. Công ty cổ phần được tổ chức như sau:


Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty thể hiện
trong quyền được quy định điều lệ và thay đổi chiến lược phát triển, bầu hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát. Quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông được quy định
tại Điều 70 chương IV Luật doanh nghiệp 2003.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty,
trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Quyền và nghĩa
vụ của Hội đồng quản trị được quy định tại Điều 80, chương IV Luật Doanh
nghiệp 2003.
Ban kiểm soát: Công ty cổ phần có từ mười một cổ đông trở lên phải có
Ban kiểm soát. Ban kiểm soát từ ba đến năm thành viên, trong đó ít nhất một thành
viên phải có trình độ chuyên môn kế toán. Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát
được quy định tại Điều 88 chương IV Luật Doanh nghiệp 2003.
Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) công ty: là người điều hành hoạt động hàng
ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các
quyền và nhiệm vụ được giao. Quyền và nghĩa vụ của Giám đốc (Tổng giám đốc) được
quy định tại Điều 85 chương IV Luật Doanh nghiệp 2003.
Do những đặc điểm trên đã chứng tỏ rằng mặc dù mô hình công ty cổ
phần mới ra đời được khoảng 200 năm trong lịch sử thế giới nhưng nó thể hiện
được ưu điểm rõ nét của mình đối với các loại hình doanh nghiệp khác như tính
minh bạch trong hoạt động , giải quyết tốt mâu thuẫt về lợi ích giữa chủ sở hữu
nhà quản lý và người lao động , nâng cao hiệu quả trong hoạt động do đó loại
hình công ty này có tốc độ phát triển khá nhanh. Công ty cổ phần và thị trường
chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là hai tổ chức tài chính đặc
trưng của nền kinh tế thị trường.
Ở Việt Nam, đa số các doanh nghiệp ra đời trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, hiệu quả kinh doanh còn thấp. Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì những
DN này bộc lộ không ít những hạn chế. Chính vì vậy, từ những năm 1992 đến


nay, Nhà nước ta có xu hướng CPH các DNNN. Nghị định 187/2004/NĐ – CP
ngày 16/11/2004 do chính phủ ban hành đã nêu rõ mục tiêu về chuyển DNNN
thành công ty cổ phần:
Thứ nhất, chuyển đổi những công ty Nhà nước mà Nhà nước không cần
giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn
của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng
năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ hai, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư
và người lao động trong doanh nghiệp.
Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc
phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát
triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
Các hình thức cổ phần hoá: theo điều 3 nghị định 187/NĐ – CP quy định
có các hình thức cổ phần hoá sau:
- Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu
thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá có nhu cầu
tăng thêm vốn điều lệ. Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhu cầu
vốn của công ty cổ phần. Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần được phản ánh
trong phương án cổ phần hoá.
- Bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa
bán bớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
- Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán
toàn bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
1.2.1.2.Vai trò hoạt Tư vấn cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước của công
ty chứng khoán
Tư vấn cổ phần hoá là việc tổ chức tư vấn giúp Doanh nghiệp Nhà nước
chuyển thành công ty cổ phần theo quy định của pháp luật.


Việc hướng dẫn có thể thực hiện theo hai cách trực tiếp và gián tiếp. Theo
cách trực tiếp thì công ty chứng khoán sẽ gặp trực tiếp doanh nghiệp Nhà nước
để hướng dẫn, còn theo cách gián tiếp tức là hướng dẫn thông qua sách báo văn
bản pháp luật. Thường thì công ty chứng khoán chỉ tiến hành tư vấn cổ phần hoá
theo cách trực tiếp.
Việc tư vấn cổ phần hoá bao gồm các công việc: xác định giá trị doanh
nghiệp (đây là công việc khó khăn nhất), lập phương án sắp xếp lại lao động và
danh sách lao động được mua cổ phần ưu đãi, xây dựng dự thảo điều lệ tổ chức
và hoạt động của công ty cổ phần.
1.2.2.Nội dung tư vấn cổ phần hoá
1.2.2.1. Tư vấn xây dựng lộ trình cổ phần hoá
Trong giai đoạn này, tổ chức tư vấn giúp DN xử lý các vấn đề tài chính
trước cổ phần hoá. Về việc xử lý các vấn đề tài chính trước CPH được quy định
rõ trong Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng
chính phủ và hướng dẫn cụ thể trong thông tư126/2004/TT-BTC của Bộ tài
chính. Trong đó quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp CPH trong việc xử lý
các vấn đề tồn tại về tài chính của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp CPH có
trách nhiệm phối hợp các cơ quan có liên quan chủ động xử lý theo thẩm quyền
và theo quy định của pháp luật những tồn tại về vấn đề tài chính của DN CPH
và trong quá trình CPH. Trường hợp có vướng mắc hoặc vượt quá thẩm quyền
thì doanh nghiệp CPH phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét giải
quyết.(Điều 9, chương II Nghị định 187).
Doanh nghiệp phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt động: Xử lý các vấn đề
tài chính, định giá tài sản của DN, lập hồ sơ xác định giá trị DN, lập phương án
sắp xếp lại lao động sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần, xây dựng phương
án kinh doanh sau CPH, xây dựng điều lệ công ty cổ phần, tổ chức đại hội công
nhân viên chức.
* Kiểm kê, xử lý các vấn đề tài chính của doanh nghiệp


CTCK tư vấn kiểm kê, phân loại tài sản của doanh nghiệp để xác định đúng
số lượng, chất lượng và giá trị tài sản thực tế của DN tại thời điểm kiểm kê.
 Kiểm kê quỹ tiền mặt, đối chiếu số lượng, chất lượng và giá trị tài sản
thực tế của DN tại thời điểm xác định giá trị DN, xác định giá trị tài sản, tiền mặt
thừa so với sổ kế toán, phân tích rõ nguyên nhân thừa thiếu.
 Phân loại quỹ tài sản đã kiểm kê theo các nhóm sau:
-

Tài sản DN có nhu cầu sử dụng.

-

Tài sản DN không có nhu cầu sử dụng.

-

Tài sản chờ thanh lý.

-

Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có).

-

Nợ thực tế phải trả.

-

Số dư quỹ khen thưởng, phúc lợi.

Tổ chức đánh giá và xác định giá trị tài sản của DN có nhu cầu sử dụng
theo quy định tại phần A mục III thông tư 126/2004/TT – BTC ngày 24 tháng 12
năm 2004 của Bộ Tài chính và Nghị định 187/2004/NĐ – CP do Chính phủ ban
hành.
* Tổ chức tư vấn DN CPH xử lý các vấn đề tài chính trước khi CPH bao
gồm:
Xử lý tài sản: Căn cứ vào quá trình kiểm kê, phân loại tài sản, DN sẽ được
CTCK tư vấn xử lý tài sản theo quy định tại Điều 10 chương II của Nghị định
187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
Xử lý các khoản nợ phải thu: Xử lý các khoản nợ phải thu theo quy định tại
Điều 11 chương II của Nghị định 187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
Xử lý các khoản nợ phải trả: Xử lý các khoản nợ phải trả theo quy định tại
Điều 12 Nghị định 187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
Xử lý các khoản dự phòng lỗ lãi: được quy định tại Điều 13 chương II
Nghị định 187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
Xử lý vốn đầu tư dài hạn vào các DN khác như vốn liên doanh, liên kết,
góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và các hình


thức đầu tư dài hạn khác được quy định tại Điều 14 chương II Nghị định
187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
Quỹ khen thưởng, phúc lợi: được quy định tại Điều 15 chương II Nghị
định 187/2004/NĐ – CP của Chính phủ.
1.2.2.2. Xác định giá trị doanh nghiệp
* Thành phần tham gia định giá: Đại diện Ban chỉ đạo cổ phần hoá, Tổ
chức tư vấn và Đại diện DN cổ phần hoá.
* Phương pháp định giá: Nguyên tắc lựa chọn phương thức định giá xác
định giá trị DN thực hiện theo quy định tại Điều 23 Nghị định 187/2004/NĐ –
CP của Chính phủ. Theo quy định, có ba phương pháp định giá là phương pháp
tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và phương pháp khác. Thông thường
các DN sản xuất sẽ lựa chọn phương pháp định giá theo phương pháp tài sản còn
các DN hoạt động trong ngành thương mại và dịch vụ thì định giá theo phương
pháp dòng tiền chiết khấu.
* Hồ sơ xác định giá trị DN:
- Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán thuế tại thời điểm định giá.
- Báo cáo kết quả kiểm kê và xác định giá trị tài sản DN.
- Biên bản xác định giá trị DN.
- Bản sao hồ sơ chi tiết những vấn đề vướng mắc đề nghị được xử lý khi
xác định giá trị DN.
- Các tài liệu cần thiết khác (tuỳ theo việc áp dụng các phương pháp khác
nhau khi xác định giá trị doanh nghiệp)
Sau khi có kết quả xác định giá trị DN, Ban chỉ đạo CPH có trách nhiệm
thẩm tra kết quả định giá, báo cáo cơ quan quyết định giá trị DN và Bộ Tài chính.
Sau đó, tiến hành công bố giá trị DN ra công chúng.
1.2.2.3. Xây dựng phương án cổ phần hoá.
Phương án CPH được lập bởi DN CPH và tổ chức tư vấn CPH và trình lên
Ban chỉ đạo CPH. Phương án CPH chỉ ra những nội dung cụ thể của quá trình
CPH. Nội dung của phương án CPH phải đảm bảo những chi tiết sau:


 Hình thức cổ phần hoá: Có ba hình thức CPH (như phần 1.2.1.1 đã nói)
 Vốn điều lệ công ty cổ phần
 Cơ cấu vốn điều lệ. Trong đó nêu rõ: Cơ cấu cổ đông sở hữu và số lượng
cổ phần mà mỗi cổ đông sở hữu: Cổ đông sở hữu, cổ phần bán ưu đãi cho người
lao động, cổ phần bán công khai, giá khởi điểm dự kiến cổ phần bán đấu giá
công khai.
 Tên gọi, trụ sở công ty cổ phần.
Ngành nghề kinh doanh.
1.2.2.4. Xây dựng phương án sắp xếp lao động
Do cơ cấu lại DN nên phương an sắp xếp lao động của DN CPH đóng vai
trò quan trọng. Xây dựng phương án lao động phải đảm bảo hài hoà quyền lợi
của DN với quyền lợi của người lao động. Chi phí tiền lương cho người lao động
trong DN cũng là một khoản chi phí khá lớn cho DN, sau khi CPH công ty cổ
phần phải có sự điều chỉnh trong nhân sự nhằm cải tạo lại số lao động trong DN,
cân đối chi phí DN và đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh đồng thời phải đảm
bảo quyền lợi của người lao động, khiến họ cảm thấy chính sách lao động của
DN hợp lý và đảm bảo quyền lợi của họ. Nội dung phương án lao động chỉ rõ:
- Phân loại lao động của DN trước khi sắp xếp lại.
- Phân loại lao động của DN sau cổ phần hoá, trong đó nêu rõ số lao động
sử dụng sản xuất kinh doanh, số lao động nghỉ hưu, số lao động kết thúc hợp
đồng và số lao động dôi dư; kế hoạch đào tạo lại lao động.
1.2.2.5. Tổ chức bán cổ phần lần đầu:
Phương án bán cổ phần lần đầu phải được xây dựng cụ thể, trong đó phải
đảm bảo nội dung gồm cơ quan bán cổ phần và thời gian bán cổ phần.
- Về tổ chức bán cổ phần
Với DN có khối lượng cổ phần bán ra từ dưới 1 tỷ đồng thì DN tự tổ chức
bán cổ phần.
Với DN có khối lượng cổ phần bán ra trên 1 tỷ đồng thì tổ chức bán tại
công ty chứng khoán.


Với DN có khối lượng cổ phần bán ra trên 10 tỷ đồng thì tổ chức bán tại
Trung tâm giao dịch TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.
- Nội dung thực hiện bán cổ phần lần đầu:
Cổ phần phát hành lần đầu:…..cổ phần. Mệnh giá mỗi cổ phần là
10.000đ/cổ phần. Trong đó:
Cổ phần Nhà nước:…..cổ phần, chiếm …..% vốn điều lệ.
Cổ phần chào bán cho người lao động trong DN:…..cổ phần và chiếm…..
% vốn điều lệ.
Cổ phần ưu đãi cho nhà đầu tư chiến lược:…..cổ phần và chiếm…..% vốn
điều lệ.
Cổ phần bán đấu giá công khai:….. cổ phần và chiếm…..% vốn điều lệ.
(“...” là do tuỳ từng công ty cổ phần quy định một con số hoặc % cụ thể)
- Thời gian bán cổ phần:
Trong phương án phải nêu rõ thời gian hoàn thành bán cổ phần ra bên ngoài
và thời gian hoàn thành bán cổ phần cho công nhân viên của công ty.
1.2.2.6. Tổ chức Đại hội đồng cổ đông
Sau khi bán cổ phần lần đầu ra công chúng thì phải tổ chức Đại hội đồng
cổ đông


Chuẩn bị cho Đại hội đồng cổ đông

-

Chuẩn bị tài liệu cho đại hội cổ đông

-

Lập kế hoạch chi tiết cho đại hội cổ đông

-

Lập danh sách cổ đông có quyền dự họp



Tiến hành Đại hội cổ đông: là đại hội thành lập DN. Trong đại hội

thông qua những vấn đề quan trọng sau:
-

Thông qua điều lệ của công ty cổ phần, cơ cấu cổ phần và cổ đông

sáng lập của công ty.
-

Quyết định hướng phát triển của công ty sau cổ phần hoá: thông

qua phương hướng sản xuất kinh doanh trong ba năm, các chỉ tiêu cụ thể về:
doanh thu, lợi nhuận dự tính, sản lượng,…


-

Bầu hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

1.2.2.7. Tư vấn hậu cổ phần hoá:
Đây là công việc quan trọng có tính chất quyết định tới hiệu quả của việc
cổ phần hoá. Thông thường khi chuyển đổi từ hình thức DNNN chịu sự điều
chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước sang hình thức công ty cổ phần chịu sự
điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, nhiều DN sau khi cổ phần hoá xong không
tránh khỏi những bỡ ngỡ, CTCK với tính chuyên nghiệp và đội ngũ chuyên viên
có trình độ và kinh nghiệm trên thị trường tài chính sẽ giúp doanh nghiệp có
những kế hoạch để đảm bảo thành công sau cổ phần hoá.
CTCK tư vấn DN tái cấu trúc DN, thẩm định đánh giá chiến lược phát
triển, phân tích tính cạnh tranh và khả năng tồn tại, duy trì phát triển công ty,
nâng cao giá trị cổ phiếu, đảm bảo DN hoạt động hiệu quả trên thị trường
vốn.
1.2.3. Chỉ tiêuphản ánh sự phát triển hoạt động cổ phần hoa tại công ty
chứng khoán
1.2.3.1. Phát triển hoạt động tư vân cổ phần hoá
Phát triển hoạt động tư vấn cổ phần hoá của công ty chứng khoán là việc
phát triển ngày càng hoàn thiện hơn quy trình tư vấn cổ phần hoá của CTCK, giúp
cho CTCK mở rộng quy mô, chất lượng của hoạt động này theo chiều hướng tốt.
Tại sao chúng ta cần phải cổ phần hoá ? điều này là do sự trì trệ , thiếu quyền
tự quyết ( cơ chế điều hành ) và động lực phát triển của các DNNN . Thiếu tính
chuyên nghiệp trong hoạt động điều hành và năng lực về nguồn vốn đối với các
doanh nghiệp tư nhân . Từ đó sẽ dẫn tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là rất yếu, đây là một điều đáng
báo động . để năng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam chính phủ đã
xác định cổ phân hoá DN là bước đi cần thiết hiện nay minh chứng cho điều này là
việc thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời , tạo một kênh huy động vốn tốt cho các
DN và hoạt động đầu tư . đến lượt mình các CTCK chính là những chủ thể quan


trọng làm tăng tốc độ cỏ phần hóa và hiẹu quả trong hoạt động cổ phần hoá của cá
doanh nghiệp hay cần phát triển hoạt động tư vấn cổ phần hoá tại các CTCK.
1.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động tư vấn cổ phần hoá
của Công ty chứng khoán
Thứ nhất, số lượng DN đã cổ phần hoá( thị phần ) : Đây là một chỉ tiêu
đánh giá sự phát triển của hoạt động tư vấn cổ phần hoá của một công ty. Nếu
hoạt động tư vấn CPH hoạt động tốt tức là có sự phát triển thì số
Thứ hai , tiến độ thực hiện cổ phần hoá trung bình càng ngắn chừng tỏ
trình độ phát triển hoạt động tư vấn CPH của công ty chứng khoán đã được nâng
cao . tức là khả năng giải quyết các vấn đề trong quá trình CPH là nhanh chóng
và khả thi . đáp ứng đòi hỏi sự chính xác và kịp thời.
Thứ ba, Doanh thu so với các công ty khác về CPH: Đây là là một chỉ tiêu
cũng đánh giá sự phát triển của hoạt động tư vấn CPH. Nếu một CTCK hoạt
động tốt trong lĩnh vực này ắt sẽ đem lại doanh thu lớn do thu về các khoán phí
tư vấn.
Thứ tư,Sau khi cổ phần hoá DN các doanh nghiệp có thực sự tốt hơn trứơc
không tức là nó có khả năng thu hút nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
không ? việc tái cấu trúc DN só đem lại khả năng hoạt động ổn định tăng doanh
thu , lợi nhuận của DN không ? tính minh bạch vê thông tin cua doanh nghiệp đã
tốt chưa , đáp ứng nhu cầu về thông tin cho cổ đông không ? … đó là một số chỉ
tiêu quan trọng yêu cầu một doanh nghiệp được coi là thành công sau cổ phần
hoá cần làm được mà cũng chính là thành công của công ty chứng khóan thực
hiện tư vấn cho DN .
Thứ năm, ( nếu có mong muốn lên sàn giao dịch ) Khi lên sàn các cổ
phiếu của DN cổ phần hoá có tốt không, có thu hút được các nhà đầu tư hay
không: đây là chỉ tiêu đánh giá hoạt động tư vấn hậu cổ phần hoá.


1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CỔ
PHẦN HOÁ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.3.1. Nhân tố chủ quan
1.3.1.1. chất lượng nhân sự và chính sách đãi ngộ đối với người lao động .
Con người luôn là động lực của sự phát triển , ở Việt Nam hiện nay nguồn
nhan lực chất lượng cao ngày càng khan hiếm đặc biệt là trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng, chứng khoán , kế toán kiểm toán . do vậy có một chính sách thu
hút nhân tài và đãi ngộ hợp lý sẽ tạo cho DN một nguồn lực mạnh mẽ giúp cho
DN hoạt động tốt .
Giống như các hoạt động tư vấn nói chung, chất lượng dịch vụ tư vấn cổ
phần hoá nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ nhân viên. Công việc của tư
vấn viên là hướng dẫn cho DN các thủ tục cần phải làm khi cổ phần hoá để DN
tránh được những khó khăn vướng mắc trong quá trình cổ phần hoá đồng thời rút
ngắn được thời gian thực hiện. Vì thế, đội ngũ nhân viên phải phù hợp về số
lượng, phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm tư vấn và trước hết phải nắm
vững kiến thức về pháp luật, về nội dung quy trình cổ phần hoá cũng như các
lĩnh vực có liên quan chẳng hạn như thẩm định tài chính doanh nghiệp, định giá
tài sản…
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố được quan tâm hàng đầu
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ tư vấn.
Hơn nữa, chính sách cán bộ cũng ảnh hưởng không kém đến hoạt động tư
vấn CPH. Cụ thể nếu CTCK có một chính sách cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ giúp
cho hoạt động tư vấn CPH diễn ra một cách thuận lợi và có hiệu quả hơn.
Thường thì trong một phòng tư vấn mỗi nhân viên sẽ chuyên làm về một lĩnh vực
nhất định, đó là lĩnh vực mà nhân viên đó có khả năng nhất. Chẳng hạn như tiến
hành CPH một DNNN thì sẽ có người chuyên về định giá tài sản, có người
chuyên về định giá công nợ… Bằng việc chuyên môn hoá như vậy thì hiệu quả
của công việc tăng lên rất nhiều. Vấn đề là tỷ lệ nhân viên đảm đương các công


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×