Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THANH NHÂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÚ SỐC GIÁ DẦU
VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THANH NHÂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÚ SỐC GIÁ DẦU
VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ


Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và các
yếu tố kinh tế vĩ mô” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả

Huỳnh Thanh Nhân


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ......................................................................................1
1.1.

Lý do chọn đề tài ..........................................................................................1

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................3

1.3.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................3



1.4.

Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................4

1.5.

Bố cục của đề tài ..........................................................................................4

CHƢƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ ........................................6
2.1.

Các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế .............6

2.2.

Các nghiên cứu về độ mạnh của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ



.......................................................................................................................9

2.3.

Các nghiên cứu về tác động bất đối xứng của cú sốc giá dầu ................12

2.4.

Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô ....16

2.4.1

Cú sốc lên nguồn cung ..........................................................................16

2.4.2

Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu.........................................17

2.4.3

Hiệu ứng số dư tiền thực .......................................................................18

2.4.4

Áp lực lạm phát.....................................................................................18


2.4.5
2.5.

Vai trò của chính sách tiền tệ ................................................................18

Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam .............................................20

CHƢƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........................23
3.1.

Dữ liệu .........................................................................................................23

3.2.

Phƣơng pháp nghiên cứu ..........................................................................26

CHƢƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................30
4.1.

Thống kê mô tả ..........................................................................................30

4.2.

Kiểm định tính dừng .................................................................................32

4.3.

Kiểm định độ trễ tối ƣu của mô hình .......................................................34

4.4.

Kiểm định tính ổn định của mô hình .......................................................35

4.5.

Kiểm định nhân quả Granger ..................................................................36

4.6.

Hàm phản ứng đẩy ....................................................................................37

4.7.

Phân rã phƣơng sai....................................................................................42

4.8.

Tác động bất đối xứng của giá dầu ..........................................................46

CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

ADF

Phương pháp Augmented Dickey – Fuller

CPI

Chỉ số giá tiêu dùng

EIA

Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ

FAVAR

Mô hình tự hồi quy tăng cường yếu tố

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GNP

Tổng sản phẩm quốc gia

GSO

Tổng cục Thống kê

IIP

Chỉ số sản lượng công nghiệp

IMF

Quỹ tiền tệ quốc tế

IRF

Hàm phản ứng đẩy

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

SVAR

Mô hình cấu trúc tự hồi quy vec tơ

VAR

Mô hình tự hồi quy vec tơ


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tổng hợp nguồn dữ liệu đối với các biến sử dụng ...................................23
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình ...................................................30
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu .......................................32
Bảng 4.3. Kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình........................................................34
Bảng 4.4. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger ......................................................36
Bảng 4.5. Phản ứng tích lũy của cú sốc giá dầu........................................................41
Bảng 4.6. Kết quả phân rã phương sai ......................................................................42
Bảng 4.7. Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi giá dầu chuyển đổi ....................47
Bảng 4.8. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger đối với biến O+ ............................48
Bảng 4.9. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger đối với biến O- .............................48
Bảng 4.10. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger đối với biến NOPI .....................49
Bảng 4.11. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger đối với biến NOPD ....................49


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Giá dầu thế giới giai đoạn 1995 – 2015 (USD/thùng) ................................1
Hình 2.1. Sơ đồ tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế ...................................19
Hình 4.1. Tính ổn định của mô hình với độ trễ là 4 ..................................................35
Hình 4.2. Phản ứng của các biến kinh tế vĩ mô đối với cú sốc giá dầu ....................37
Hình 4.3. Phản ứng của các biến kinh tế vĩ mô đối với biến O+ ...............................50
Hình 4.4. Phản ứng của các biến kinh tế vĩ mô đối với biến O- ...............................51


TÓM TẮT
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung xem xét mối quan hệ giữa cú sốc
giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô Việt Nam, bao gồm các biến chỉ số sản lượng
công nghiệp, lạm phát, lãi suất và cung tiền, trong giai đoạn 2002 – 2015, theo dữ
liệu tháng. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) để thực hiện
kiểm định mối quan hệ giữa giá dầu và các biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam. Đồng
thời, bài nghiên cứu cũng xem xét khả năng tác động của giá dầu thế giới đến nền
kinh tế là bất đối xứng, thông qua việc kiểm định mô hình VAR sử dụng chuỗi giá
dầu chuyển đổi theo phương pháp của Mork (1989) và Hamilton (1996) với các
biến kinh tế vĩ mô Việt Nam. Kết quả kiểm định cho thấy rằng giá dầu thế giới có
tác động đến lạm phát, cung tiền và lãi suất, trong khi tương quan với biến chỉ số
sản lượng công nghiệp là không rõ ràng và phản ứng của lạm phát trước cú sốc giá
dầu là bất đối xứng. Ngược lại, các biến kinh tế vĩ mô Việt Nam không ảnh hưởng
đến giá dầu thế giới.


1

CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Giống như các tư liệu sản xuất khác, dầu là một trong những nguồn năng lượng
đầu vào quan trọng nhất trong hầu hết các hoạt động kinh tế. Do vậy, sự biến động
của giá dầu sẽ có tác động đáng kể đến nền kinh tế toàn cầu, bởi hầu như mọi ngành
công nghiệp đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào nguồn năng lượng này.
Giá dầu biến động mạnh trong lịch sử đã gây ra tình trạng lạm phát tăng cao và
suy thoái kéo dài tại một số quốc gia trên thế giới. Kể từ khi giá dầu tăng kỷ lục lần
đầu tiên vào những năm 1970 và có những biến động khó lường vào các giai đoạn
sau đó, dầu đã trở thành mối quan ngại lớn đối với các nhà hoạch định chính sách,
nhằm cố gắng tăng cường hiệu quả việc sử dụng dầu và đa dạng hóa nguồn năng
lượng đầu vào thay thế cho dầu. Bên cạnh đó, giá dầu cũng đã trở thành một trong
những chỉ báo chính trong các phân tích kinh tế.

Hình 1.1. Giá dầu thế giới giai đoạn 1995 – 2015 (USD/thùng)
Nguồn: Cơ quan thông tin Năng lượng Mỹ (EIA)


2

Trong giai đoạn 1995 – 2005, mặc dù giá dầu tăng hơn gấp đôi nhưng mức tăng
khá ổn định và không có nhiều đột biến. Tuy nhiên từ năm 2006 đến nay, giá dầu
luôn là một tiêu điểm trên các mặt báo vì tính trồi sụt thất thường. Giá dầu trong
năm 2006 có nhiều biến động, giá dao động trong một biên độ nhỏ từ 57,81
USD/thùng đến 73,67 USD/thùng. Tiếp theo đó, giá dầu tăng liên tục từ giữa năm
2007 và đạt ngưỡng 103,64 USD/thùng vào tháng 03/2008. Sau đó, giá dầu thô tiếp
tục tăng nhanh và đạt mức giá 133,88 USD/thùng vào tháng 6/2008. Tuy nhiên,
mức giá này không được duy trì lâu, trong 6 tháng liên tiếp sau đó, giá dầu thô đã
liên tục giảm đến 69,81% xuống còn 39,95 USD/thùng. Sang năm 2009, giá dầu
tăng trở lại và dao động trong khoảng từ 70 USD/thùng đến 120 USD/thùng trong
hai năm tiếp theo. Từ tháng 06/2014, giá dầu liên tiếp giảm mạnh và chạm mức đáy
38,01 USD/thùng vào cuối năm 2015.
Có thể thấy rằng, sự biến động khó lường của giá dầu đã đặt ra nhiều thách thức
cho nền kinh tế toàn cầu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Nhìn ở góc độ
vĩ mô, giá dầu ảnh hưởng trực tiếp đến cả nguồn thu và chi phí của một quốc gia.
Một mặt, Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu dầu thô, mặt khác, do
sản lượng nội địa và trữ lượng dầu giới hạn, hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu
một lượng lớn các sản phẩm từ dầu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Vì vậy, nền
kinh tế Việt Nam dường như khá nhạy cảm trước biến động giá dầu so với các quốc
gia đang phát triển khác vốn có nguồn cung dầu lớn hơn. Bên cạnh đó, giá dầu Việt
Nam chịu ảnh hưởng từ các chính sách quản lý giá cả và can thiệp của Chính phủ.
Do vậy, việc xác định bằng thực nghiệm phản ứng của nền kinh tế trước cú sốc giá
dầu thế giới là một chủ đề thu hút sự quan tâm của cả giới nghiên cứu lẫn các nhà
hoạch định chính sách.
Đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu mối quan hệ giữa giá
dầu và các biến số kinh tế vĩ mô. Bắt đầu từ nghiên cứu của Hamilton (1983) về tác
động của giá dầu thô đến nền kinh tế Mỹ, đến nay giá dầu vẫn luôn là chủ đề đồng
hành với các nhà nghiên cứu trong việc khám phá nền kinh tế toàn cầu đang ngày
càng hội nhập với những bất ổn ngày càng cao. Phạm vi nghiên cứu không chỉ thu


3

hẹp ở các quốc gia phát triển như Mỹ (có thể kể đến Gisser and Goodwin
1986, Mork 1989, Lee và Ni 2002), hay Anh (Guidi, Francesco 2009), các nước
OECD (Burbidge và Harrison 1984), mà còn mở rộng sang các nước đang phát triển
như Trung Quốc (Jin 2008, Du và cộng sự 2010), các nước ASEAN (Cunado và
Gracia 2005) và cả Việt Nam (Narayan 2010).
Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu nghiên cứu trước đây về tác động của cú sốc
giá dầu đến các hoạt động kinh tế thường tập trung vào các quốc gia phát triển, còn
các nghiên cứu liên quan đến sự tác động này đến nền kinh tế ở các quốc gia đang
phát triển thì rất ít. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của cú sốc giá dầu thế
giới đến các biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam có ý nghĩa quan trọng. Và đây cũng
chính là ý tưởng cho tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cú sốc
giá dầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và nền kinh tế
Việt Nam. Mục tiêu này được cụ thể hóa thành các câu hỏi nghiên cứu như sau:
 Cú sốc giá dầu có tác động đến nền kinh tế Việt Nam hay không?
 Tác động này được thể hiện thông qua các biến kinh tế vĩ mô như thế nào?
 Mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và nền kinh tế Việt Nam là mối quan hệ
tuyến tính hay phi tuyến?
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và các biến số kinh tế vĩ mô
Việt Nam, tác giả tập trung nghiên cứu vào các biến vĩ mô: chỉ số sản lượng công
nghiệp, lạm phát, cung tiền và lãi suất.
Dữ liệu của các biến số trong bài nghiên cứu là dữ liệu theo tháng, bao gồm 168
quan sát, từ tháng 01 năm 2002 đến tháng 12 năm 2015.


4

1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu dựa trên các lý thuyết nghiên
cứu trước đây để xem xét tác động của giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế.
Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này,
cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu đó. Trên cơ sở đó,
nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượng các biến phù hợp
trong khả năng thu thập số liệu thực tế của Việt Nam. Sau khi đã thu thập dữ liệu
cho các biến, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu, rút ra cái
nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu và sử dụng phân tích hồi quy để xử lý và phân
tích số liệu nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra.
Để xem xét mối quan hệ giữa các biến, tác giả sử dụng mô hình tự hồi quy véc
tơ (VAR), sử dụng hàm phản ứng đẩy nhằm xem xét xu hướng tác động qua lại của
các biến và phân tích phân rã phương sai để xem xét cụ thể mức độ tác động của các
biến lên sự biến động của các biến còn lại. Thông qua kết quả, tác giả tiến hành so
sánh với các nghiên cứu thực nghiệm để rút ra kết luận và đưa ra gợi mở về hướng
nghiên cứu tiếp theo.
1.5. Bố cục của đề tài
Bố cục đề tài bao gồm năm chương.
Chương 1: giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu trong đó nêu rõ lý do thực hiện
nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
được sử dụng.
Chương 2: trình bày tổng quan lý thuyết, xem xét những nghiên cứu và tranh
luận xung quanh tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế.
Chương 3: mô tả dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
phân tích thực nghiệm.
Chương 4: trình bày các kết quả nghiên cứu chính.
Chương 5: nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu.


5

TÓM TẮT CHƢƠNG 1
Khi nền kinh tế toàn cầu ngày càng phụ thuộc vào năng lượng như hiện nay thì
dầu thô giữ vai trò quan trọng hàng đầu với tư cách là nguồn cung cấp năng lượng
trọng yếu cho thế giới. Giá dầu tác động và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của
nền kinh tế toàn cầu bởi, hầu như mọi ngành công nghiệp đều trực tiếp hay gián tiếp
phụ thuộc vào nguồn tài nguyên quý giá này.
Sự biến động khó lường của giá dầu đã đặt ra nhiều thách thức cho nền kinh tế
toàn cầu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Nó cũng là mối quan ngại lớn
đối với các nhà hoạch định chính sách, nhằm cố gắng tăng cường việc sử dụng dầu
hiệu quả và đa dạng hóa nguồn năng lượng đầu vào thay thế cho dầu. Có khá nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước đã tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu và các biến số
kinh tế vĩ mô, tuy nhiên, phần lớn các tài liệu nghiên cứu trước đây thường tập
trung vào các quốc gia phát triển, còn các nghiên cứu liên quan ở các quốc gia đang
phát triển thì rất ít. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, nghiên cứu được thực
hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu thế giới và nền kinh tế Việt Nam.
Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Mục tiêu của bài nghiên
cứu nhằm trả lời câu hỏi liệu cú sốc giá dầu có tác động đến nền kinh tế vĩ mô Việt
Nam hay không, tác động đó thể hiện như thế nào và đây là tác động tuyến tính hay
phi tuyến. Nghiên cứu lựa chọn sử dụng mẫu là dữ liệu theo tháng của các biến giá
dầu thế giới, chỉ số sản lượng công nghiệp, lạm phát, lãi suất và cung tiền của Việt
Nam, trong giai đoạn 2002 - 2015. Để xem xét mối quan hệ giữa các biến, tác giả sử
dụng mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR), hàm phản ứng đẩy tổng quát nhằm xem xét
xu hướng tác động qua lại của các biến và phân tích phân rã phương sai để xem xét
mức độ tác động của các biến số lên sự biến động của các biến số còn lại.


6

CHƢƠNG 2
CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ
2.1. Các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế
Tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô đã trở thành một trong
những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong kinh tế học năng lượng từ giữa thập
niên 70, sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng dầu thô năm 1973. Các nghiên cứu thời
kỳ đầu, bao gồm Rasche và Tatom (1977), Darby (1982) và Bruno và Sachs (1982),
đã tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá dầu và tăng trưởng kinh tế. Nhưng nổi
bật trong chủ đề nghiên cứu này phải kể đến Hamilton (1983). Sử dụng phương
pháp VAR của Sims (1980) với số liệu của Mỹ thời kỳ 1948 – 1973, Hamilton
(1983) kết luận rằng giá dầu và tăng trưởng GNP của Mỹ có mối quan hệ nghịch
biến – có đến bảy trong tám cuộc suy thoái sau chiến tranh ở Mỹ xảy ra sau khi có
sự gia tăng đáng kể giá dầu thô. Theo sau Hamilton, có rất nhiều bài nghiên cứu của
các tác giả về tác động của giá dầu lên các biến số vĩ mô của Mỹ. Sử dụng dữ liệu
của Hamilton, Gisser và Goodwin (1986) tìm ra mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và
việc làm, đồng thời kiểm định liệu có sự khác nhau trong tác động của giá dầu trước
và sau năm 1973 hay không. Tuy nhiên, họ không tìm được cơ sở củng cố cho giả
thiết này và kết quả của họ cũng tương tự với Hamilton (1983). Khi phân tích dữ
liệu về tăng trưởng của Mỹ giai đoạn 1949 – 1980, Hooker (1996) cho thấy nếu giá
dầu tăng 10% thì tăng trưởng GDP giảm khoảng 0.6%.
Cùng nghiên cứu dữ liệu trong thời kỳ này, Rotemberg và Woodford (1996) tìm
hiểu tác động của việc tăng giá dầu đến sản lượng của nền kinh tế và lương thực tế
và nhận thấy 1% giá dầu tăng sẽ làm giảm 0.25% sản lượng và 0.09% lương thực tế.
Kết quả của hai ông được đưa ra dựa trên giả thiết thị trường cạnh tranh không hoàn
hảo. Trong khi đó, Finn (2000) lại hướng nghiên cứu trong điều kiện thị trường
cạnh tranh hoàn hảo và kết quả của ông cũng tương tự với Rotemberg và Woodford


7

(1996). Từ đó, ông cho rằng sự biến động ngược chiều của giá dầu và hoạt động
kinh tế vĩ mô không phụ thuộc vào cấu trúc thị trường.
Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 12 bảng khảo sát trong National Longitudinal
Survey of Young Men giai đoạn 1996 – 1981, Keane và Prasad (1996) nhận thấy
giá dầu tăng 19% sẽ làm sản lượng thực tế giảm khoảng 3-4% trong dài hạn. Ông
phân nhóm lực lượng lao động theo trình độ kỹ năng và tìm tác động của giá dầu
lên từng nhóm. Theo đó, giá dầu tăng sẽ làm giảm tiền lương tuyệt đối của tất cả lao
động, tuy nhiên lại dẫn đến sự gia tăng đáng kể tiền lương tương đối của những
nhân công trình độ cao. Điều này hàm ý chất lượng nhân sự có thể bù đắp cho cú
sốc về năng lượng trong nhiều ngành công nghiệp.
Lee và Ni (2002), ứng dụng mô hình VAR với số liệu của ngành công nghiệp
Mỹ giai đoạn 1959 – 1997 để đánh giá tác động của cú sốc giá dầu lên các ngành
công nghiệp khác nhau. Nghiên cứu cho thấy những cú sốc như vậy sẽ tác động lên
cả hai mặt cung và cầu của các ngành công nghiệp, giá dầu tăng sẽ làm giảm sản
lượng cung ở những ngành công nghiệp mà dầu chiếm tỷ trọng lớn trong nguyên
liệu đầu vào, ví dụ như ngành lọc dầu hoặc hóa chất, và đồng thời làm giảm sản
lượng cầu ở những ngành công nghiệp khác, ví dụ như công nghiệp sản xuất ô tô.
Rogoff (2006) lập luận rằng, so với thập kỷ trước, việc sử dụng năng lượng hiệu
quả hơn, mức độ tiêu thụ dầu nhiều hơn, vận dụng chính sách tiền tệ tốt hơn, thâm
nhập thị trường tài chính sâu hơn và thị trường lao động linh hoạt hơn đã làm suy
yếu sức ảnh hưởng của cú sốc giá dầu.
Trong các nghiên cứu gần đây, Lippi và Nobili (2010) nghiên cứu những cú sốc
cấu trúc (giá dầu, chỉ số sản lượng công nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô khác) trên
số liệu của Mỹ. Sử dụng mô hình SVAR cho dữ liệu giai đoạn 1973 – 2007 ở Mỹ,
hai ông cho thấy cú sốc về mặt cung của dầu làm giảm sản lượng của các ngành
công nghiệp trong khi cú sốc về mặt cầu có tác động đồng biến lên GDP.
Một vài nghiên cứu cũng được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu
và hoạt động kinh tế vĩ mô cho các nước ASEAN. Sử dụng dữ liệu giai đoạn quý 1


8

năm 1975 – quý 2 năm 2002, Cunado và Gracia (2005) nghiên cứu mối quan hệ
giữa giá dầu và hoạt động kinh tế cũng như chỉ số giá ở một số nước ASEAN (Nhật,
Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan và Philippines). Nhóm tác giả không tìm
thấy mối liên hệ đồng liên kết trong dài hạn. Trong ngắn hạn, giá dầu có mối quan
hệ nhân quả Granger với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan.
Kết quả thực nghiệm cũng dường như cho thấy tác động của cú sốc giá dầu là khác
biệt giữa những nước nhập khẩu dầu mỏ và các nước xuất khẩu dầu mỏ. Jin (2008)
báo cáo việc tăng giá dầu có tác động nghịch biến đến phát triển kinh tế tại Nhật
Bản, Trung Quốc và có tác động đồng biến lên tăng trưởng tại Nga. Du và cộng sự
(2010) tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và hoạt động kinh tế vĩ mô Trung
Quốc dựa trên số liệu từ giai đoạn tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2008, sử
dụng mô hình tự hồi quy vectơ (VAR). Kết quả của nghiên cứu cho thấy giá dầu thế
giới tác động đáng kể lên hoạt động kinh tế của Trung Quốc.


9

2.2. Các nghiên cứu về độ mạnh của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô
Một trong những công trình đầu tiên là Burbidge và Harrison (1984). Bằng cách
sử dụng phương pháp VAR, họ đã chứng minh được rằng tác động của giá dầu có
ảnh hưởng ngược chiều lên các biến kinh tế vĩ mô ở các nước OECD. Tuy nhiên, họ
cho thấy cú sốc giá dầu 1973 – 1974 thì khác với giai đoạn 1979 – 1980. Trong giai
đoạn 1973 – 1974 ảnh hưởng của giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô thực sự lớn.
Những nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Blanchard và Gali (2007).
Trong bài viết của mình, hai tác giả tranh luận rằng cú sốc giá dầu của thập niên 70
và thập niên 2000 thì khác nhau bởi vì so với những năm 70 thì trong giai đoạn
2000:
 Thiếu những cú sốc lớn khác xảy ra đồng thời với cú sốc giá dầu;
 Tỷ trọng của dầu trong sản xuất và tiêu dùng giảm;
 Mức độ cứng nhắc của tiền lương thực tế giảm;
 Chính sách tiền tệ được cải thiện hơn.
Theo bài nghiên cứu thì bởi vì bốn lý do trên mà tác động của những cú sốc giá
dầu mỏ trong thập niên 2000 có phần nhỏ hơn so với thập niên 70.
Bohi (1991) trình bày một báo cáo về vai trò của cú sốc giá dầu tới sự suy thoái
trong thập niên 1970. Theo đó, ông cho rằng không có mối quan hệ giữa mức biến
động năng lượng và các hoạt động sản xuất công nghiệp của bốn nước công nghiệp.
Ông đề nghị rằng chính sách tiền tệ thắt chặt mới có thể là cách giải thích hợp lý.
Theo cùng hướng nghiên cứu, Hooker (1996) sử dụng kiểm định nhân quả
Granger và cho kết quả rằng không có mối quan hệ tuyến tính hay quan hệ không
đối xứng giữa giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô. Ông xem giá dầu như một biến
ngoại sinh, từ đó ông cho kết quả không có mối quan hệ nhân quả giữa giá dầu và
nhiều chỉ số vĩ mô của Mỹ sau năm 1973 mặc dù trước năm 1973 có những kết quả
khác.
Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác mà Hooker là một đồng tác giả (Carruth
và cộng sự 1998) chỉ ra giá dầu thực có mối quan hệ nhân quả với thất nghiệp ở


10

Mỹ. Cùng phương pháp nghiên cứu với Hooker (1996), Segal (2007) cho rằng
nguyên nhân quan trọng nhất khiến giá dầu ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là
thông qua chính sách tiền tệ, khi giá dầu truyền dẫn vào lạm phát cơ bản, những nhà
làm chính sách sẽ tăng lãi suất, làm giảm đi tăng trưởng kinh tế.
Sử dụng phương pháp Markov swiching, Raymond và Rich (1997) chứng minh
rằng sự tăng ròng trong giá dầu mỏ góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP của
Mỹ trong giai đoạn 1973 – 1975 và 1980, tuy nhiên đây không phải là yếu tố quyết
định.
Sử dụng phương pháp VAR với dữ liệu về việc làm ở Mỹ giai đoạn 1972 –
1988, Davis và Haltiwanger (2001) nhận thấy cú sốc giá dầu tăng có tác động mạnh
gấp đôi đến tăng trưởng việc làm so với cú sốc chính sách tiền tệ. Cụ thể, cú sốc giá
dầu năm 1973 đã làm giảm 8% tăng trưởng việc làm khu vực sản xuất trong hai
năm. Hai ông còn nhận thấy tác động bất cân xứng của cú sốc giá dầu đến việc làm:
mức độ giảm tăng trưởng việc làm khi giá dầu tăng lớn gấp 10 lần mức độ tăng việc
làm khi giá dầu giảm. Kết quả này cùng với những nghiên cứu của Mork (1989),
Mory (1993), Lee và cộng sự (1995), Hamilton (1996) và Hooker (1996) đã cho
thấy những bằng chứng vững chắc về tác động bất cân xứng của giá dầu (khi giá
dầu tăng và khi giá dầu giảm) đến nền kinh tế Mỹ.
Hầu hết các bài nghiên cứu dựa trên số liệu của Mỹ, nhưng cũng có khá nhiều
các bài nghiên cứu sử dụng số liệu của các quốc gia khác.
Bjornland (2000) nghiên cứu ảnh hưởng động của tổng cầu, tổng cung và giá
dầu cho chuỗi số liệu lấy từ Mỹ, Anh, Đức, Thụy Điển và cung cấp một kết quả
thực nghiệm rằng giá dầu có tác động nghịch biến trong mối quan hệ với GDP
ngoại trừ Thụy Điển.
Cunado và Gracia (2003) nghiên cứu hành vi của giá dầu và thay đổi của GDP
ở một vài nước châu Âu bằng cách sử dụng phương pháp VAR. Mặc dù ở những
nước khác nhau thì kết quả thể hiện khác nhau, nhưng bài nghiên cứu cũng cho thấy


11

một kết quả thực nghiệm rằng giá dầu có tác động nghịch biến đến hoạt động kinh
tế vĩ mô nói chung.
Cologoni và Manera (2009) sử dụng những mô hình “regime switching” khác
nhau cho các nước G7, họ tìm ra kết quả vai trò của những cú sốc dầu trong những
kịch bản suy thoái khác nhau qua thời gian.
Lescaroux và Mignon (2009) sử dụng phương pháp vectơ tự hồi quy Factor –
Augmented, từ những nghiên cứu của mình họ đã kết luận rằng giữa giá dầu, CPI,
PPI và lãi suất có mối quan hệ đồng biến và giữa giá dầu và sản lượng, tiêu dùng và
đầu tư có mối quan hệ nghịch biến ở Trung Quốc.
Tang và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động ngắn hạn và dài hạn của giá dầu ở
Trung Quốc, sử dụng mô hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR), họ cho thấy giá
dầu tăng có tác động nghịch biến lên sản lượng và đầu tư nhưng có tác động đồng
biến lên lạm phát và lãi suất.


12

2.3. Các nghiên cứu về tác động bất đối xứng của cú sốc giá dầu
Giá dầu tăng thường đi kèm với sản lượng thấp hơn, nhưng giá dầu giảm lại
không dẫn đến tăng trưởng sản lượng cao hơn. Nguyên nhân của sự bất đối xứng
này là do hiệu ứng tái phân bổ và chi phí điều chỉnh (Hamilton, 1996). Thứ nhất, giá
dầu tăng dẫn đến sự thu hẹp tổng cung khi các công ty cắt giảm sản lượng để đối
phó với chi phí đầu vào cao hơn và điều này cũng có thể dẫn đến tổng cầu thấp hơn
do tâm lý bất an của khách hàng khi ra quyết định đầu tư hay mua sắm hàng hóa lâu
bền. Đồng thời giá dầu cao cũng dẫn đến việc tái phân bổ của nền kinh tế về nguồn
năng lượng, từ lĩnh vực năng lượng nhạy cảm sang lĩnh vực năng lượng hiệu quả.
Tất cả các nhân tố này tạo nên hiệu ứng kết hợp làm chậm đà tăng trưởng kinh tế.
Trong khi đó, giá dầu giảm kích thích sản xuất ở các công ty và chi tiêu ở hộ gia
đình, nhưng việc tái phân bổ khu vực theo hướng ngược lại sẽ làm giảm tăng trưởng
kinh tế. Thêm vào đó, do tính cứng nhắc của tiền lương danh nghĩa (vốn đã được
điều chỉnh tăng sau khi giá dầu cao) gây ra chi phí điều chỉnh trên thị trường lao
động, nghĩa là tiền lương danh nghĩa sẽ không giảm và chi phí sản xuất vẫn cao.
Hiệu ứng kết hợp của tất cả những nhân tố này cho thấy giá dầu giảm sẽ không làm
gia tăng sản lượng.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho thấy những tác động bất đối xứng của giá
dầu đến nền kinh tế - những ảnh hưởng khác nhau khi giá dầu tăng hoặc giảm.
Hamilton (1988) cho rằng chi phí điều chỉnh đối với sự thay đổi giá dầu là nguyên
nhân của sự bất đối xứng. Các chi phí điều chỉnh đối với sự thay đổi giá dầu làm
chậm trễ hoạt động kinh tế. Đồng thời, giá dầu giảm có tác động kích thích nền kinh
tế, trong khi giá dầu tăng gây cản trở nền kinh tế. Chính vì vậy, giá dầu tăng sẽ gây
ra trở ngại cho tăng trưởng kinh tế, trong khi giá dầu giảm tạo ra hiệu ứng bù trù
giữa tác động tích cực và tiêu cực. Tác giả còn nhận định rằng giá dầu tăng có ảnh
hưởng quan trọng hơn so với giá dầu giảm và sự thay đổi của giá dầu trong một thị
trường biến động sẽ làm cho việc dự báo tăng trưởng GDP trở nên khó khăn hơn.
Cunado và Gracia (2003) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến sản
lượng công nghiệp và các chỉ số tiêu dùng ở 14 nước Châu Âu và phát hiện ra rằng


13

giá dầu có ảnh hưởng lâu dài đến lạm phát và ảnh hưởng ngắn hạn nhưng bất đối
xứng đến tỷ lệ tăng trưởng sản xuất. Jimenez-Rodriguez và Sanchez (2005) đã sử
dụng mô hình VAR để khám phá mối quan hệ giữa giá dầu và tăng trưởng GDP.
Nghiên cứu đưa ra bằng chứng về ảnh hưởng phi tuyến của giá dầu lên các hoạt
động kinh tế thực, bởi giá dầu tăng có các tác động khác đến sản lượng thực so với
khi giá dầu giảm. Huang, Hwang và Hsiao-Ping Peng (2005) lại ứng dụng mô hình
ngưỡng đa biến để tìm hiểu ảnh hưởng của sự thay đổi và biến động giá dầu đến các
hoạt động kinh tế (sản lượng công nghiệp và tỷ suất sinh lợi thực của cổ phiếu) ở
Mỹ, Nhật, Canada từ năm 1970 đến 2002. Các tác giả chỉ ra rằng mức ngưỡng thay
đổi tùy theo mức độ lệ thuộc của một quốc gia vào dầu nhập khẩu và trình độ công
nghệ hướng đến tiết kiệm năng lượng, một sự thay đổi hay biến động giá dầu có ảnh
hưởng hạn chế đến những nền kinh tế này nếu sự thay đổi nằm dưới các mức
ngưỡng.
Cũng sử dụng dữ liệu của Mỹ, Lian An và cộng sự (2014) ứng dụng mô hình
FAVAR phi tuyến và hàm phản ứng đẩy IRF để phân biệt cú sốc dương và cú sốc
âm, nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu đến hoạt động
kinh tế thực của Mỹ. Kết quả cho thấy tác động tiêu cực của giá dầu tăng là lớn hơn
tác động tích cực của giá dầu giảm và ảnh hưởng bất đối xứng rõ rệt hơn khi có cú
sốc giá dầu lớn.
Nhiều nghiên cứu khác cũng có cùng kết luận rằng giá dầu tăng gây ảnh hưởng
bất lợi đến mức độ phát triển kinh tế nhiều hơn so với hiệu ứng có lợi của giá dầu
giảm, như: Hamilton (2003), Jones và Leiby (1996), Davis và Haltiwanger (2001),
Hooker (2002). Một số nghiên cứu đã đưa ra nguyên nhân lý giải cho ảnh hưởng bất
đối xứng này.
Bohi (1989, 1991), Bernanke và cộng sự (1997) cho rằng chính sách tiền tệ là
một nguyên nhân gây ra ảnh hưởng bất đối xứng. Khi giá dầu tăng ảnh hưởng đến
lạm phát, ngân hàng trung ương có khả năng sẽ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt
để phản ứng lại điều này và do đó chính sách tiền tệ đã góp phần làm gia tăng ảnh
hưởng tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế cùng với tác động bất lợi của giá dầu


14

cao. Balke và cộng sự (2002) cũng khẳng định rằng chính sách tiền tệ và chi phí
điều chỉnh là nguyên nhân dẫn đến ảnh hưởng bất đối xứng.
Các nghiên cứu khác về ảnh hưởng bất đối xứng của giá dầu (Davis, 1987,
Hooker, 1996, Mork, 1989, 1994, Mork và cộng sự, 1994, Lee và cộng sự, 1995,
Ferderer, 1996, Davis và Haltiwanger, 2001, Cunado và Gracia, 2005) cũng cho
thấy sản lượng phản ứng bất đối xứng với cú sốc giá dầu. Nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến sự bất đối xứng là khi có một cú sốc giá dầu tăng cao, công nghệ mới tiết kiệm
dầu hay việc sử dụng các nguồn nguyên liệu thay thế sẽ được phát triển và ứng
dụng. Nhưng khi giá dầu giảm, các công ty sẽ không từ bỏ ngay lập tức các khoản
đầu tư này nhằm giảm thiểu chi phí chìm và do đó giá dầu giảm sẽ ít gây ảnh hưởng
đến nền kinh tế so với khi giá dầu tăng.
Về các nước xuất khẩu dầu, Berument và Ceylan (2005) cũng cho thấy ảnh
hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu đến sản lượng của các quốc gia Trung Đông
và Bắc Phi, bao gồm Iran. Iwayemi và Fowowe (2011) nghiên cứu trường hợp
Nigeria, cho thấy các cú sốc dương và tuyến tính của giá dầu không có ảnh hưởng
đáng kể đến các biến kinh tế vĩ mô như chi tiêu Chính phủ, lạm phát và tỷ giá thực.
Kết quả kiểm định ủng hộ cho ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu bởi các
tác giả phát hiện rằng cú sốc giá dầu âm ảnh hưởng có ý nghĩa đến sản lượng và tỷ
giá thực. Trong khi đó, kiểm định ảnh hưởng bất đối xứng của các cú sốc giá dầu
đến nền kinh tế Iran, các tác giả Farzanegan và Markwardt (2009) lại tìm thấy tương
quan dương mạnh giữa giá dầu tăng và tăng trưởng sản lượng công nghiệp. Eltony
và Al-Awadi (2001) cho thấy ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu có ý nghĩa
quan trọng trong việc giải thích sự biến động của kinh tế vĩ mô ở Kuwait thông qua
chi tiêu Chính phủ.
Rất ít nghiên cứu lựa chọn mẫu quan sát là các quốc gia Châu Á. Raguindin và
Reyes (2005) phân tích ảnh hưởng bất đối xứng của giá dầu ở Philippines trong giai
đoạn 1981 đến 2003 bằng mô hình VAR bất đối xứng, cho thấy cú sốc giá dầu tăng
làm sụt giảm GDP thực ở Philippines về lâu dài. Ngược lại, giá dầu giảm có vai trò
đối với sự dao động của mỗi biến số lớn hơn là khi giá dầu tăng. Du và cộng sự


15

(2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và kinh tế vĩ mô Trung Quốc,
cho thấy giá dầu thế giới có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát, mối
quan hệ là phi tuyến. Ngược lại, các hoạt động kinh tế Trung Quốc không ảnh
hưởng đến giá dầu thế giới, nghĩa là giá dầu thế giới vẫn là ngoại sinh và Trung
Quốc không có sức mạnh định giá trên thị trường dầu thế giới.
Gần đây, nghiên cứu của Elder và Serletis (2010), Naifar và Dohaiman (2013),
Jo (2014) đã tìm ra mối quan hệ phi tuyến giữa giá dầu, lãi suất và lạm phát ở một
số quốc gia. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào trường hợp của
Mỹ và các nước Châu Âu mà chưa chú trọng đến vai trò ngày càng gia tăng của các
quốc gia Châu Á trên thị trường dầu thế giới.
Những nghiên cứu trên nhìn chung cho thấy được ảnh hưởng quan trọng của
các cú sốc giá dầu đến tổng thể nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như GDP,
lạm phát, việc làm, đầu tư và thâm hụt ngân sách. Đặc biệt, tác động của biến động
giá dầu đến nền kinh tế dường như là bất đối xứng, trong đó tác động tiêu cực của
giá dầu tăng là lớn hơn so với tác động tích cực khi giá dầu giảm. Tuy nhiên, hầu
hết các nghiên cứu được thực hiện với mẫu quan sát là các quốc gia phát triển, đặc
biệt là Mỹ.


16

2.4. Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô
Theo Brown và Yucel (2002) thì tác động của sự thay đổi giá dầu lên các biến
kinh tế vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn chính như sau:
2.4.1 Cú sốc lên nguồn cung
Sự gia tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo cho một cú sốc nguồn cung
làm giảm sản lượng tiềm năng, như trong nghiên cứu của Rasche và Tatom (1977
và 1981), Barro (1984) và Brown và Yucel (1999). Sự gia tăng này báo hiệu sự
khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của
sản xuất. Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất sẽ sụt giảm, điều này
dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu
bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân
bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối
với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm
phát sẽ tăng. Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất
thực và nguy cơ lạm phát.
Nếu tiền lương danh nghĩa khó thay đổi theo hướng giảm đi, sự suy giảm trong
tăng trưởng GDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm tăng trưởng GDP giảm hơn
nữa – nếu lạm phát tương lai không bằng đúng mức sụt giảm trong tăng trưởng. Sự
suy giảm ban đầu trong tăng trưởng GDP đi cùng với sự sụt giảm trong năng suất
lao động. Nếu mức giảm tiền lương thực không bằng mức giảm trong năng suất lao
động, doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân công, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm GDP.
Điều này gây áp lực làm tăng lạm phát.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×