Tải bản đầy đủ

Cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình thuộc dự án tái định cư triều cường tại huyện phù mỹ, tỉnh bình định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

---------

NGUYỄN NGỌC HUY

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ
ÁN TÁI ĐỊNH CƯ TRIỀU CƯỜNG TẠI HUYỆN PHÙ MỸ,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

---------


NGUYỄN NGỌC HUY

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ
ÁN TÁI ĐỊNH CƯ TRIỀU CƯỜNG TẠI HUYỆN PHÙ MỸ,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Trần Tiến Khai
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Cải thiện sinh kế những hộ dân tái định cư thuộc
dự án di dân, tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định”. Là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu khảo sát và kết quả nêu
trong luận văn là trung thực, do chính tác giả thu thập, phân tích và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác./.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Học viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Huy


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện theo chương trình đào tạo thạc sĩ tại
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã tiếp thu được rất nhiều
kiến thức bổ ích phục vụ cho thực tế công việc, các nghiên cứu hiện tại và tương lai.
Lời đầu tiên xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy TS. Trần Tiến Khai, người
đã dành nhiều thời gian quý báu để tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực
hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và những tình huống thực tế quý
báu, đặc biệt là những kinh nghiệm quản lý công của các nước trên thế giới với mong
muốn là sẽ được áp dụng tại Việt Nam.
Xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thành viên của lớp Cao học Quản lý công


2015 tại TP. Quy Nhơn, các bạn đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, kiến thức và
tài liệu học tập trong suốt quá trình học.
Xin chân thành cảm ơn các ông trưởng thôn Tân Phụng 1, Tân Phụng 2 (xã
Mỹ Thọ), Xuân Thạnh 1, Xuân Thạnh 2, Xuân Bình (xã Mỹ An), Phú Thứ, Phú
Hoà (xã Mỹ Đức) và 180 hộ dân đã tạo điều kiện, tâm huyết và hỗ trợ tôi trong
suốt quá trình thu thập dữ liệu cho đề tài nghiên cứu này.
Xin cảm ơn đến những người thân yêu đã giúp đỡ rất nhiều trong suốt quá trình
học tập.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong Hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sĩ đã đóng góp thêm ý kiến cho tôi hoàn thành tốt luận văn cuối khóa
để có kết quả áp dụng vào thực tế tại địa bàn nghiên cứu./.
Học viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Huy


MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................................1
TÓM TẮT ...................................................................................................................2
Chương 1. ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ...........................................................................................3
2.1. Mục đích chung ............................................................................................3
2.2. Mục đích cụ thể ............................................................................................3
2.3 Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ......................................................4
3.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................4
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài. .....................................................................4
4. Đóng góp dự kiến của đề tài ...............................................................................4
5. Kết cấu của đề tài ................................................................................................4
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ...............................................6
2.1. Cơ sở lý luận về sinh kế và tái định cư ............................................................6
2.1.1. Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững ...............................................6
2.1.2. Lý thuyết về khung phân tích sinh kế .......................................................9
2.1.3. Di dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường .............................13
2.2. Cơ sở thực tiễn về tái định cư ........................................................................17
2.2.1. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................17
2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan ..................................................20
2.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ..................................................................27
2.3.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................27


2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội ...........................................................................27
2.3.3. Những tồn tại, yếu kém ...........................................................................29
2.3.4 Phương hướng phát triển huyện Phù Mỹ trong thời gian tới ...................30
2.3.5. Đặc điểm dự án tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện
Phù Mỹ, tỉnh Bình Định ....................................................................................31
Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................................................34
3.1. Phương pháp nghiên cứu................................................................................34
3.1.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu ........................................34
3.1.2. Phương pháp chuyên gia .........................................................................36
3.1.3. Phương pháp phân tích tổng hợp ............................................................36
3.2. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu ...................................................................36
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................38
4.1. Khái quát tình hình sinh kế của hộ dân tái định cư triều cường tại huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định ...............................................................................................38
4.1.1. Khái quát đặc điểm vùng triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
...........................................................................................................................38
4.1.2. Sinh kế của dân di cư tại nơi ở mới ........................................................39
4.1.3. Tác động của chương trình TĐC đến thu nhập .......................................47
4.1.4. Khái quát chung về thay đổi sinh kế của người dân sau khi TĐC ..........48
4.2. Những kết quả và những hạn chế trong công tác đảm bảo sinh kế bền vững
cho người dân tái định cư ......................................................................................52
4.2.1. Những kết quả đạt được ..........................................................................52
4.2.2. Những hạn chế cần giải quyết .................................................................53
4.3. Quan điểm phát triển sinh kế bền vững của các hộ dân ở khu TĐC huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định ...............................................................................................56


Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................59
5.1. Kết luận ..........................................................................................................59
5.2. Đề nghị một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ dân tái định cư
tại huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định .......................................................................60
5.2.1. Giải pháp về nguồn lực tự nhiên .............................................................60
5.2.2. Giải pháp về nguồn lực con người ..........................................................61
5.2.3. Giải pháp về nguồn lực tài chính ............................................................63
5.2.4. Giải pháp về nguồn lực vật chất ..............................................................64
5.2.5. Giải pháp về nguồn lực xã hội ................................................................65
5.2.6. Giải pháp chính sách ...............................................................................65
5.2.7. Đối với hộ nông dân ................................................................................66
5.2.8. Đối với chính quyền các cấp ...................................................................67
5.3. Hạn chế của đề tài ..........................................................................................67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................1
PHỤ LỤC 1 .................................................................................................................4
PHỤ LỤC 2 ...............................................................................................................12


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TĐC:

Tái định cư

SKBV :

Sinh kế bền vững

TTTC:

Thiên tai triều cương

HND:

Hộ nông dân

CTSK:

Cải thiện sinh kế

GPMB:

Giải phóng mặt bằng

CSHT:

Cơ sở hạ tầng

THCS:

Trung học cơ sở

THPT:

Trung học phổ thông

KTĐC:

Khu tái định cư

KCN:

Khu công nghiệp

NN&PTNT:

Nông nghiệp và phát triển nông thôn


TÓM TẮT
Qua tìm hiểu thực trạng sinh kế các hộ dân tái định cư thuộc dự án di dân, tái
định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tôi
nhận thấy: Sau khi tái định cư các hoạt động sinh kế của hộ tương đối đa dạng,
phong phú; Quá trình dịch chuyển các nguồn lực sinh kế dẫn tới sự thay đổi về thu
nhập của hộ.
Qua kết quả đánh giá, người dân đã nhận thức rõ hơn về công tác giáo dục để
có một sinh kế tốt hơn trong tương lai. Tài sản vật chất của người dân được cải
thiện rõ rệt, hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng ở địa phương ngày càng khang trang
sạch đẹp. Tài sản vật chất của hộ cũng được cải thiện do nhận tiền đền bù đã tiến
hành mua sắm vật chất để phục vụ nhu cầu cuộc sống ngày một tốt hơn hỗ trợ cho
nguồn lực con người. Sau khi TĐC hộ nông dân đã có rất nhiều mô hình sinh kế đa
dạng, trước đây hộ chỉ có sinh kế nông nghiệp là chủ yếu thì nay hộ đã có thêm
những sinh kế mới như: Mở cửa hàng tạp hoá, buôn bán v.v. và nhiều dịch vụ khác.
Từ đó mức thu nhập của hộ nâng lên rõ rệt, chất lượng cuộc sống được cải thiện.
Ngược lại với những mặt thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Nguồn lực
đất đai ngày càng thu hẹp trong khi các hộ sử dụng lãng phí. Hệ thống kênh mương
bị phá vỡ, nhiều chỗ bị hư hỏng xuống cấp. Chất lượng lao động của hộ hạn chế,
trình độ học vấn của lao động thấp, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở cấp THCS và THPT.
Một số lao động lớn tuổi hiện nay đang trong tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm. Với các nguồn lực hiện nay còn hạn chế nhất là yếu tố con người nên sinh kế
của hộ chưa ổn định thực sự. Việc sử dụng tiền đền bù chưa hiệu quả, khá nhiều hộ
chỉ biết đem gửi ngân hàng, ngoài ra còn có một số hộ đầu tư quá nhiều cho việc
mua sắm, thậm chí còn chơi cờ bạc, lô đề v.v.
Chính vì thế luận văn đã đề xuất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững
cho hộ dân tái định cư tại huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định như: (1) Giải pháp về
nguồn lực tự nhiên; (2) Giải pháp về nguồn lực con người; (3) Giải pháp về nguồn
lực tài chính; (4) Giải pháp về nguồn lực vật chất; (5) Giải pháp về nguồn lực xã
hội; (6) Giải pháp chính sách.


1

Chương 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều hướng
ngày càng phức tạp, gia tăng nhiều hơn so với những thập kỷ trước về cả quy mô
cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường. Việt Nam nằm trong
vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt. Trong
hơn 65 năm qua, thiên tai đã xảy ra ở hầu hết các khu vực trên cả nước, gây nhiều
tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội và tác động xấu đến
môi trường, gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác
động mạnh hơn đến sinh kế của những nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu
vực nông thôn.
Sinh kế là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp
với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm
sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ
gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng
đồng đó. Sinh kế được cấu thành từ 5 nguồn lực: nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội,
nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Kinh nghiệm trên thế
giới và bản thân của Việt Nam đã cho thấy công tác tái định cư là quá trình rất phức
tạp, mất nhiều thời gian, đòi hỏi phải tiến hành các nghiên cứu rất tỉ mỉ về người
dân tái định cư, về dân tộc, văn hoá, bản sắc, đặc tính dân tộc và tập quán của họ
trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, đặc biệt đối với các chương trình tái định
cư có quy mô lớn. Việc đảm bảo sinh kế đóng vai trò rất quan trọng nhằm giảm
thiểu nguy cơ rủi ro cho người dân phải tái định cư bắt buộc, giảm thiểu tối đa
những tác động không mong muốn đối với người dân phải tái định cư thông qua
việc tạo lập một sinh kế bền vững, ổn định phát triển sản xuất, đảm bảo phát triển
kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững.


2

Bình Định và các tỉnh miền Trung thường gặp các thiên tai như mưa lũ, bão
biển với khả năng gây thiệt hại về nhiều mặt đối với sản xuất và đời sống. Để phòng
ngừa và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai có thể gây ra, một trong những biện pháp
hiệu quả nhất là chủ động di dời dân cư sinh sống ở các vùng thấp hay bị ngập lụt,
vùng ven sông suối bị xói lở, vùng ven biển bị triều cường v.v. Tiềm ẩn nguy cơ
cao đến nơi an toàn để có thể “an cư lạc nghiệp” lâu dài. Chính vì vậy, việc quy
hoạch các khu tái định cư (TĐC). Là giải pháp mang tính triệt để trong việc ứng phó
với thiên tai cho dân cư các vùng nguy cơ cao.
Tại Bình Định, tính đến hết năm 2015 trên địa bàn tỉnh đã có 15 khu TĐC
cho vùng thiên tai đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh để di dời dân đến sinh
sống. Tuy nhiên, việc di dời dân đến các khu TĐC đã xây dựng xong lại diễn ra rất ì
ạch; Dự kiến bố trí TĐC cho 2.639 hộ dân đến ở nhưng tháng 9.2015, các địa
phương mới chỉ di dời được 913 hộ, còn đến 1.726 hộ vẫn ở nơi ở cũ dù đã được bố
trí đất tại khu TĐC. Hàng ngàn hộ chưa di dời đến các khu TĐC cũng đồng nghĩa
với việc hàng ngàn hộ vùng thiên tai tiếp tục đối mặt với nguy hiểm trong mùa mưa
lũ sắp tới. Và không chỉ có thế. Hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất nhiều khu
vực dân cư nằm trong tình trạng nguy hiểm. Số liệu thống kê cho thấy hiện có
20.400 hộ dân với 86.000 người ở 110 xã, phường thuộc 11 huyện, thị xã, thành phố
nằm trong vùng thiên tai nguy hiểm cần có nhà ở kiên cố hoặc TĐC. Tại nhiều nơi
nhu cầu di dời là rất cấp bách nhưng chưa thể thực hiện vì chưa quy hoạch được địa
điểm, hoặc chưa có kinh phí thực hiện.
Huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định là một trong những địa điểm chịu ảnh hưởng
nặng nền bởi thiên tai ở nước ta. Bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu đã tác động
không nhỏ đến khu vực này. Huyện Phù Mỹ có 40 km chiều dài bờ biển, có những
nơi bị xâm thực vào đất liền từ 1 đến 3 m mỗi năm; Nhất là tại các thôn Tân Phụng
1, Tân Phụng 2 (xã Mỹ Thọ), Xuân Thạnh 1, Xuân Thạnh 2, Xuân Bình (xã Mỹ
An), Phú Thứ, Phú Hòa (xã Mỹ Đức) v.v. Với nhiều hộ dân đang sống trong vùng
nguy hiểm cần được di dời. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người
dân trong khu vực. Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng


3

phức tạp, chúng ta cần đánh giá tác động của thiên tai triều cường đến sinh kế của
người dân trong khu vực. Từ đó đề xuất giải phải cải thiện sinh kế cho người dân
khi tái định cư khỏi vùng triều cường.
Với những lý do như trên, đề tài này được chọn với tên “Cải thiện sinh kế
cho các hộ gia đình thuộc dự án tái định cư triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định”. Nhằm đánh giá những tác động của hiện tượng thiên tai Triều cường
đến các hoạt động sản xuất của người dân vùng nghiên cứu. Từ đó tạo cơ sở để đề
xuất những giải pháp để cải thiện sinh kế của người dân khi thực hiện di dân tái
định cư.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Mục đích chung
Đề tài nghiên cứu các thực trạng sinh kế của những hộ dân di dân, tái định cư
ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Tìm ra sự biến
động tài sản sinh kế của người tái định cư trước và sau tái định cư, khả năng tiếp
cận những nguồn lực để hình thành nên sinh kế và chiến lược sinh kế của các hộ tái
định cư nông nghiệp. Từ kết quả nghiên cứu thực tế, sẽ đề ra những giải pháp nhằm
cải thiện sinh kế của họ.
2.2. Mục đích cụ thể
- Khảo sát, phân tích đánh giá tình hình di dân tái định cư của huyện Phù Mỹ
- Đánh giá sinh kế của hộ gia đình sau khi thực hiện di dân tái định cư bao
gồm các chỉ tiêu: Tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, tài sản vật
chất, việc làm - thu nhập, tiền đền bù và cách thức sử dụng, điều kiện cơ sở hạ tầng
nơi tái định cư, hỗ trợ của chính quyền và mong muốn của gia đình.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân ở vùng
nghiên cứu.
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
1. Hiện trạng sinh kế của những hộ dân tái định cư trên địa bàn huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định như thế nào?


4

2. Đâu là những tồn tại, bất cập trong chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định
cư tại các xã?
3. Giải pháp nào để cải thiện sinh kế những hộ tái định cư này?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề sinh kế của những hộ dân
thực hiện chính sách di dời, tái định cư ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đặc biệt
là 4 khu tái định cư vùng triều cường (Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức và Mỹ Thắng).
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu các dự án di dân tái định cư thuộc
huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bao gồm: Các xã Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức và Mỹ
Thắng
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu từ năm
2012 - 2015
4. Đóng góp dự kiến của đề tài
Đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều bài báo đại chúng viết về đời sống người
dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại Huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình
Định. Xong tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu khoa học nào được công
bố, sử dụng Khung sinh kế bền vững (SLF) và phỏng vấn sâu các hộ gia đình tái
định cư huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để có số liệu phản ánh chính xác sinh kế của
họ. Đề tài này sẽ làm điều đó để đưa ra những kiến nghị chính sách dựa trên những
con số thực tế và phương pháp phân tích khoa học.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia thành 5 chương:


5

Chương 1: Giới thiệu, trình bày lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu nội
dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp, và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn. Chương này sẽ trình bày cơ sở
lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích.
Trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện cho các khái
niệm được nêu lên ở khung phân tích.
Chương 3: Trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Từ những số liệu thu thập được, tác giả
phân tích, diễn giải liên quan đến công trình nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và Đề nghị. Tóm lượt ngắn gọn kết quả nghiên cứu.
Qua đó đề xuất những kiến nghị liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm mục đích có
thể đưa đề tài áp dụng vào thực tiễn một cách tốt nhất.


6

Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận về sinh kế và tái định cư
2.1.1. Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững
2.1.1.1. Khái niệm về sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những
năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào
đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh
kế và cố gắng đưa vào thực hiện.
Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài
nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế
được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những
áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của
nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên
nhiên (Chambers, R. And G. Conway, 1992).
Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao
gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ
các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996).
Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các
nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt
động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa
dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn
được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác
nhau. Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết
định về các vấn đề cấp hộ. Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn
bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ.
Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:


7

- Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức
khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến
lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở
mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có
sẵn.
- Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con
người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của
hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.
- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của
cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn
nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v.
Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những
biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di
chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm
thay đổi sinh kế của họ.
- Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà
ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v.
- Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có
được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như
lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng.
Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài
sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì
vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng
như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng.
Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng
mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng;
Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ


8

cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp
năng lượng, thông tin, v.v.
2.1.1.2. Khái niệm sinh kế bền vững
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước
tác động của những áp lực và những biến động, và duy trì hoặc tăng cường những
năng lực cũng như nguồn lực của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không
làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Mục tiêu sinh kế bền vững hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào
con người và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc trong quá trình xác
định cách mà các nguồn lực, tài sản được tạo ra và sử dụng.
Như vậy, để có sinh kế bền vững, trước hết cần phải sử dụng các nguồn lực,
tài sản vốn có một các bền vững lâu dài. Cả hộ gia đình và cộng đồng phải ý thức
được việc không chỉ sử dụng nguồn lực sẵn có mà phải liên tục bổ sung, tăng cường
và phát triển nguồn lực đó để phát triển bền vững sinh kế của mình.
- Để duy trì và tăng cường nguồn lực con người có thể thực hiện cả trực tiếp
lẫn gián tiếp. Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi chính
bản thân con người sẵn sàng đầu tư cho vốn con người của mình bằng cách tham
gia vào các khoá đào tạo, tiếp cận với các dịch vụ v.v.
Vì vậy, cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông
tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát
triển nguồn nhân lực.
- Duy trì và tăng cường nguồn lực xã hội là tăng cường xây dựng vốn xã hội,
tập trung vào các thể chế địa phương như thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn
luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực hoặc thông qua việc tạo ra một môi
trường dân chủ thông thoáng.
Thông thường, những nguồn lực xã hội cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực
khác, cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể, xã hội vào nguồn vốn xã
hội.


9

- Duy trì và tăng cường nguồn lực tự nhiên cần được thực hiện bằng cách
điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối với nguồn lực tự nhiên, cải thiện việc quản
lý các nguồn lực. Việc hỗ trợ nguồn lực tự nhiên có thể thông qua sự chuyển đổi các
tiến trình và cấu trúc tự nhiên đồng thời có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong
tương lai.
Một trong những nội dung chính của mục tiêu sinh kế bền vững là theo đuổi
mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau sao cho không ảnh hưởng đến sự
ổn định của môi trường tự nhiên.
- Tăng cường nguồn lực vật chất nhằm giúp người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng
thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của họ.
Nguồn lực vật chất không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn
cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn lực con người đáp ứng
những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ.
- Tạo nguồn lực tài chính cho người dân không nên hỗ trợ trực tiếp vốn tài
chính mà nên thông qua các trung gian gián tiếp như:
+ Tăng cường hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính.
+ Tăng cường tiếp cận dịch vụ tài chính.
+ Cải thiện môi trường dịch vụ tài chính.
2.1.2. Lý thuyết về khung phân tích sinh kế
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn
diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người,
đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người. Đây là cách
tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược, đặt con người làm
trung tâm trong quá trình phân tích. Mặc dầu có rất nhiều tổ chức khác nhau sử
dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức thì có mức độ vận dụng khác nhau
nhất định, khung phân tích sinh kế có những thành phần cơ bản giống nhau sau:


10

Biểu đồ 2.1. Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: DFID (2001)
Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản).
Tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết
quả của chiến lược sinh kế đó.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất
mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Nguồn vốn
hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn có chính: Vốn nhân lực, vốn tài chính,
vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên (Biểu đồ 2.1.).
- Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến
thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế
khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ. Với mỗi hộ
gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao
động ở trong gia đình đó. Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát
huy hiệu quả bốn loại vốn khác.
- Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà
người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế. Các nguồn đó bao gồm
nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín
dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau.
- Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên
nhiên như đất, nước, và các nguồn lực tự nhiên khác mà con người có được hay có


11

thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ.
Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để
tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ. Đây có thể là khả năng ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng
đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài
nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí.
Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt
động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự
đa dạng sinh học.
- Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản
và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế. Nguồn vốn
vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình. Trên góc độ cộng
đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân
gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường,
hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ. Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động
sinh kế phát huy hiệu quả. Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản
xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu
cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình.
- Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế. Nó nằm
trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội). Chính thể và phi chính
thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình
thực thi sinh kế. Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn
thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai. Chính vì thế khi xem xét vốn, con người
không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng
hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai.
Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes). Đây là yếu tố thể chế, tổ
chức, chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các


12

nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh
kế khác nhau. Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến
lược sinh kế. Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được
những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc.
Thành phần quan trọng thứ ba của khung sinh kế là kết quả của sinh kế
(livelihood outcome). Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế. Kết
quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng
về trọng tâm và sự ưu tiên. Đó có thể cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con
người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên. Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành
phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa
các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau.
Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn
khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ. Chiến lược
sinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực
hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu
quả nhất nguồn vốn hiện có. Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm
quyết định có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh
kế. Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một
hoạt động mới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi qui mô hoạt động.
Cuối cùng là ngữ cảnh dễ bị tổn thương. Đó chính là những thay đổi, những
xu hướng, tính mùa vụ. Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển
được trong ngắn hạn. Vì vậy trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập
trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà
phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chóng chọi
đối với những thay đổi trên hay phục hồi dưới những tác động trên.


13

2.1.3. Di dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường
2.1.3.1. Khái niệm di dân
Biến động dân số bao gồm hai cấu thành cơ bản là tăng tự nhiên và tăng cơ
học. Tăng trưởng tự nhiên của dân số gắn liền với quá trình sinh học sinh ra, tồn tại
và mất đi của con người theo thời gian. Quá trình này thông qua hiện tượng sinh và
chết. Di biến động dân cư còn do tác động cơ học của quá trình di dân. Trong mọi
quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự phân bố lại dân cư, đồng thời làm tăng giảm
mật độ dân cư giữa các vùng miền địa lý. Di dân về bản chất không phải là hiện
tượng sinh học như sinh, chết. Di dân có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong
cuộc đời của một cá nhân, trong khi sinh đẻ và tử vong chỉ diễn ra một lần (Đặng
Nguyên Anh, 2006).
Di dân là quá trình phân bố lại lực lượng lao động và dân cư, và là nhân tố
quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Di dân và quá trình tập trung dân số ở
địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường
của các vùng miền đất nước.
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một
không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh
viễn. Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư. Theo nghĩa hẹp,
di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ
khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất (Đặng
Nguyên Anh, 2006). Tóm lại, khái niệm di dân có thể được tóm tắt theo các điểm
chung như sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa điểm nào đó đến nơi khác sinh
sống.
- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó
và định cư tại đó trong một thời gian để thực hiện mục đích đó.


14

- Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề
nghiệp, sở thích, lối sống v.v.
Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau (Đặng Nguyên
Anh, 2006). Như:
- Theo khoảng cách di chuyển, gồm có: di dân nông thôn - thành thị, di dân
nông thôn - nông thôn.
- Theo độ dài thời gian cư trú, gồm có: di chuyển ổn định, di chuyển tạm
thời, di dân mùa vụ.
- Theo tính chất di dân:
+ Di dân tự nguyện: Là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng
mong muốn hay nguyện vọng của mình.
+ Di dân ép buộc: Diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân. Loại hình
di chuyển này thường đem lại những hậu quả không mong muốn cho xã hội và cần
được hạn chế tối đa.
- Theo đặc trưng di dân:
+ Di dân có tổ chức: Là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và
theo chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và
tổ chức, thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội. Về nguyên tắc,
người dân di chuyển có tổ chức được nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập
cư giúp đỡ. Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người nhập cư,
tăng nguồn lực lao động địa phương, có thể tránh được việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.
+ Di dân tự phát (tự do): Là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di
chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế
hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền. Di dân tự phát phản ánh
tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết
đời sống, tìm công ăn việc làm.


15

2.1.3.2. Tái định cư
Theo Peter R.Bubridge (1995), TĐC chỉ là “Việc lập cư của các cá nhân, các
nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã”.
Việc TĐC, không phải chỉ di chuyển dân mà bao hàm cả “đền bù” cho các
thiệt hại do các dự án phát triển gây ra, mà Phan Mộng Hoa và Lâm Mai Lan (2008)
đề cập ở “TĐC trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn”; Được hiểu theo
nghĩa rộng thì hai tác giả cho rằng: TĐC là cả quá trình đền bù cho các tài sản bị
thiệt hại đến các biện pháp hỗ trợ hộ tái tạo các tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển
trong trường hợp hộ bị di chuyển và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện
pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu
nhập của hộ”. Với quan điểm trên, hai tác giả đứng trên góc độ chính sách, khi dự
án phát triển ảnh hưởng, tác động đến tài sản và tới cuộc sống của những người bị
mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ phải di chuyển
hay không.
Việc giải toả, di dời, TĐC nó không chỉ dừng lại ở việc đưa một bộ phận
cư dân từ nơi này sang nơi khác, mà TĐC liên quan tới rất nhiều vấn đề như việc
làm, học hành, sự tiếp cận các dịch vụ, quan hệ xã hội v.v. Nên TĐC được nhìn
nhận là một quá trình thay đổi về kinh tế, văn hoá và xã hội của một bộ phận dân cư
chứ không chỉ xem xét thay đổi chỗ ở. Như vậy, TĐC theo chúng ta được hiểu là
các cá nhân, hộ, hay toàn bộ một làng (bản), một xã họ đã sản xuất và sống ổn định,
lâu dài rồi nay phải di chuyển đến ở một nơi ở mới để lập nghiệp, xây dựng cuộc
sống mới.
Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là
thuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất
nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác.
Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1995, tái định cư được
phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư:
- Thiệt hại về tài sản, sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống.


16

- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ
kèm theo.
- Thiệt hại về các tài sản khác.
- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinh
sống, văn hóa, và hàng hóa.
2.1.3.3. Tái định cư tự nguyện và không tự nguyện
Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau
khi rời khỏi nơi cư trú cũ của họ. Thực tế có nhiều lý do mà người dân phải tái định
cư và có thể chia ra thành hai loại: Tái định cư bắt buộc (do những điều kiện khách
quan như chiến tranh, thiên tai, xây dựng công trình, thu hồi đất). Và Tái định cư tự
nguyện (do nhu cầu người dân muốn cải thiện cuộc sống).
Thực tế tại Việt Nam có nhiều hình thức tái định cư và được tổng hợp thành
hai hình thức tái định cư phổ biến như sau (Phạm Văn Hùng, 2008):
(1) Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức (còn
gọi là tái định cư bắt buộc):
- Di dân từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Tây Nguyên xây dựng các
vùng kinh tế mới. Hình thức này chủ yếu diễn ra trước năm 1990.
- Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp và các khu giãn dân.
- Xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (các công trình thủy điện
tại Tây Nguyên, Sơn La, v.v.).
- Di dân ra khỏi vùng thiên tai riều cường.
Tái định cư bắt buộc là việc tái định cư do người dân bị trưng dụng đất để
xây dựng dự án vì lợi ích chung của cộng đồng. Việc tái định cư bắt buộc liên quan
tới tất cả lứa tuổi và giới, những mong muốn của một số người bị ảnh hưởng có thể
không được đáp ứng. Rất nhiều người có thể gặp rủi ro và thiếu động lực, sáng tạo
để di chuyển và tái lập nơi ở mới và thực hiện những định hướng mới. Phụ nữ và
những hộ gia đình do họ đứng đầu thường chịu nhiều thiệt thòi vì đền bù lại thường
chỉ giành cho nam giới, những hộ do phụ nữ đứng đầu lại thường trong tình trạng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×