Tải bản đầy đủ

những biến đổi hóa sinh của thịt sau khi giết mổ

Trường ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM
Khoa Công Nghệ Hóa Học
Bộ Môn Công Nghệ Thực Phẩm

Tiểu luận :

NHỮNG BIẾN ĐỔI HÓA
SINH
CỦA THỊT GIA SÚC SAU
GIẾT MỔ
Giáo viên hướng dẫn : Trần
Bích Lam
Sinh viên :Lâm Kỳ Phương
60801614
Diệp Thế Viễn
60802594
Trần Thanh Nga
60801334
Phạm Thanh Tâm 60801882
Lê Thanh Nghị
60801375

Nguyễn Quốc Bình

I-Giới thiệu chung về thịt
1.Sơ lược về thòt, thành phần hóa học, giá trò
dinh dưỡng:
♠ Thòt gia súc và thòt cá là những cơ trong đó
có chứa từ 15-22% protein, nghóa là protein
chiếm từ 50-95% chất hữu cơ của thòt.
Có 3 loại cơ: cơ vân (còn gọi là cơ xương), cơ
trơn và cơ tim. Cơ vân thì bám vào xương và
chiếm tỉ lệ nhiều nhất. Thòt tương ứng với cơ
vân.


♠ Thòt có đặc điểm chung là chứa nhiều
nước (60-75%).
Protein chiếm 15-22% trọng lượng tươi.
Lipid trong thòt dao động nhiều. Điều đó liên
quan với loại súc vật, mức độ béo và vò trí
miếng thòt.
Glucid trong thòt có rất ít.
Glycogen, glucose và acid lactic có một lượng
nhỏ (1% trọng lượng thòt).
♠ Giá trò dinh dưỡng của thòt chủ yếu là
nguồn protein. Protein của thòt là loại protein
hoàn thiện, chứa tất cả các acid amin cần
thiết cho cơ thể. Giá trò sinh học của protein
các loại thòt gần giống nhau. Thành phần lipid
trong thòt có giá trò năng lượng cao và góp
phần làm tăng hương vò thơm ngon của thòt.
Thòt chứa nhiều loại muối khoáng cần thiết
cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể và
là nguồn vitamin nhóm B rất tốt.
Bảng 1: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI
THỊT THÔNG DỤNG
Tên thực
phẩm
Thòt bê nạc
Thòt bò loại
1


Thòt bò loại
2
Thòt trâu
thăn
Thòt trâu
bắp
Thòt chó
sấn
Thòt dê nạc
Thòt lợn nạc

Năng
lượng
(kcal)
85
118

Thành phần hóa học
(mg%)
Nướ Prote Lipi
Glucid
c
in
d
72
20,0
0,5
0
74,1
21,0
3,8
0

167

70,5

18,0

10,5

0

121

73,0

22,8

3,3

0

115

74,2

21,9

3,0

0

338

53,0

16

30,0

0

122
139

74,4
73

20,7
19

4,3
7

0
0


Thòt lợn 3
260
60,9
16,5 21,5
0
chỉ sấn
Thòt gà ta
199
65,6
20,3 13,1
0
Thòt vòt
267
59,5
17,8 21,8
0
2. Sau khi giết mổ
Trong thòt động vật sẵn có các enzym, sau khi
giết mổ thòt lại tiếp xúc với không khí, với
các phương tiện chứa đựng nên các vi sinh vật
từ môi trường xung quanh sẽ xâm nhập vào
thòt . Dưới tác động của các enzym sẵn có và
của không khí, nhất là do sự hoạt động của vi
sinh vật nên trong thòt động vật sẽ xảy ra
những biến đổi quan trọng về hóa học, hóa
sinh, về cấu trúc, dẫn đến sự thay đổi trạng
thái, tính chất lý hóa và từ đó có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng của thòt . Những biến
đổi trên diễn ra liên tục, theo những bước nối
tiếp nhau, tốc độ biến đổi nhanh hay chậm là
tùy thuộc vào trạng thái ban đầu của thòt, vào
điều kiện môi trường mà nhân tố có ảnh
hưởng lớn nhất là nhiệt độ môi trường .

II-Sự biến đổi của mơ cơ
Khi vừa giết mổ xong : thòt ở giai đoạn tươi
nóng, thòt lúc này có khả năng hút nước,
trương phồng nên vẫn còn mềm mại . Trạng thái
này sẽ kết thúc nhanh chóng để chuyển sang
giai đoạn tê cứng
1. Giai đoạn tê cứng (Rigor mortis) :
Nhiều công trình nghiên cứu đều cho rằng
nguyên nhân dẫn đến trạng thái tê cứng của
thòt là do các biến đổi về hóa sinh .
Quá trình tê cứng xảy ra do sự co cơ .
Mỗi bắp cơ được phác họa như sau : thân cơ
được tạo thành từ hàng ngàn sợi cơ hình trụ, hai
đầu gắn vào gân cơ . Trong các sợi cơ có cả
ngàn sợi cơ nhỏ ( tơ cơ ) . Trong tơ cơ lại có nhiều
sợi nhỏ hơn được cấu tạo bởi các phân tử
protein hình cầu được gọi là actin và myosin, đây
là những yếu tố gây co cơ .


Cơ chế của sự co cơ :
- Khi các sợi cơ ở trạng thái nghỉ, hai đầu của
sợi actin chui vào khoảng giữa của các sợi
myosin .
- Khi cơ co các sợi myosin và actin không co
ngắn lại mà chúng bắt đầu trượt lên nhau .
Các sợi actin chui vào giữa các sợi myosin .
Giãn :

Đang co :

- Lực tạo ra sự co cơ phụ thuộc vào việc hình
thành cầu nối ngang giữa các phân tử actin và
myosin . Mỗi phân tử actin có chỗ nối đặc hiệu
với myosin . ATP kết hợp với từng đầu myosin sau
đó bò thủy phân . Phản ứng thủy phân làm
thay đổi hình dạng của đầu, do đó nó có thể
gắn với actin và giải phóng ADP và phosphat
vô cơ . Biến đổi này tạo lực co cho toàn bộ hệ
thống


- Các cầu nối giữa các sợi chỉ hình thành khi
có mặt ATP và ion Ca2+
+ Ca2+ rất cần thiết, nếu thiếu Ca2+ quá trình
co cơ sẽ ngừng lại . Sở dó như vậy là do ở các
tơ mảnh ( bao gồm chủ yếu các protein actin )
còn có các protein khác như troponin và
tropomyosin . Trong giai đoạn không hoạt động,
phân tử của các protein này nằm dọc theo sợi
actin và che phủ lên các vò trí kết hợp với
myosin, làm cho việc tạo thành cầu nối ngang
là không thể thực hiện được . Ion Ca 2+ kết hợp
với các protein phụ này, xoắn chúng lại, do đó
làm lộ các vò trí kết hợp .
+ ATP được lấy từ glycogen dự trữ trong cơ .
Glycogen trong cơ được phân giải theo kiểu lân
phân (phosphoroliza), tương tự như quá trình thủy
phân nhưng ở đây vai trò của nước được thay
thế bởi vai trò của axit phosphoric . Dưới tác
dụng của enzym glucoliza, glucose bò tách ra và
gắn vào đầu phosphoric tạo glucose-1-phosphat .
 Đặc trưng nhất của giai đoạn này là thòt
trở nên rắn chắc hơn và kém đàn hồi . Nếu
dùng thòt này để chế biến thì sản phẩm
không mềm mại, kém mùi vò đặc trưng, nếu
đem luộc thì nước luộc không trong, vò nhạt .
Do việc xuất hiện axit lactic và axit phosphoric ở
trạng thái tự do làm cho trò số pH của thòt giảm
xuống . Khi trò số pH giảm đến điểm đẳng điện
của protein thì độ hydrat hóa của các protein là
thấp nhất, làm cho khả năng liên kết với
nước bò giảm sút . Mặt khác, các sợi cơ chỉ
giữ được đặc tính co giãn khi có mặt ATP. Hàm
lượng ATP giảm sẽ dẫn đến việc liên kết giữa
hai protein là actin và miosin thành phức hợp
actomiosin, khả năng liên kết với nước của
phức hợp này kém, do vậy thòt trở nên rắn
chắc hơn . Những biến đổi hóa sinh thường kèm
theo sự co giãn thể tích sợi cơ xếp chặt vào nhau
hơn .


 Quá trình tê cứng ở thòt động vậtt
thường bắt đầu từ những bộ phận có nhiều
sợi gân, dây chằng, rồi tới các bắp cơ ở cổ,
ngực, chi trước, sau cùng đến các bắp cơ ở
vùng lưng và chân sau . Vận tốc và thời gian
của quá trình tê cóng phụ thuộc vào mức độ
béo, khối lượng súc thòt, trạng thái con vật
trước khi giết mổ và nhất là vào nhiệt độ
của môi trường . Ở những con vật gầy yếu
hoặc không được nghỉ ngơi trước khi giết mổ thì
hàm lượng glycogen thấp, lượng axit lactic cao nên
quá trình tê cứng xảy ra sớm và các biến đổi
tiếp theo diễn ra nhanh hơn so với các con vật
khác . Ở nhiệt độ cao, các enzym hoạt động
mạnh nên các quá trình tê cứùng cũng diễn ra
sớm và kết thúc nhanh hơn trong điều kiện
nhiệt độ thấp . Ở giai đoạn tê cứng, thòt kém
mềm mại, chưa có hương vò thơm ngon nên trong
chế biến và nấu nướng người ta chưa sử dụng
thòt ở giai đoạn này .
2. Giai đoạn sau tê cứng (giai đoạn chín tới,
ageing ) :
Do việc xuất hiện axit lactic và axit phosphoric ở
trạng thái tự do làm cho trò số pH của thòt giảm
xuống, làm tăng khả năng hydrat hóa . Ở thời
điểm này, thòt trở nên mềm . Đây là giai đoạn
chế biến thòt tốt nhất và được ứng dụng nhiều
trong công nghệ thực phẩm
- Thòt dần dần trở lại mềm mại, trong thòt tích
tụ một số hợp chất là sản phẩm của các
quá trình phân giải, có tác dụng cải thiện mùi
vò của thòt . Thòt chín tới đem luộc sẽ thấy
mềm mại, màu sáng, nước luộc trong, cả thòt
lẫn nước canh đều có mùi vò thơm đặc trưng
và đậm đà . Những biểu hiện trên là kết quả
của nhiều quá trình biến đổi diễn ra trong thòt .
Sang giai đoạn chín tới, trò số pH của thòt có
tăng lên một ít . Actomiosin phân ly thành actin
và miosin, do đó độ hòa tan của miosin tăng
lên . Theo mức độ chín tới, khả năng hút nước


và liên kết với nước của protein từng bước
tăng lên, độ trương phồng của protein trong
nước và trong dung dòch muối ăn cũng tăng,
nên thòt trở nên mềm mại .
- Ở giai đoạn chín tới, đi đôi với việc thay đổi
trạng thái thì mùi vò của thòt cũng được cải
thiện hơn . Về nguyên nhân dẫn đến việc cải
thiện mùi vò này, đến nay chưa được nghiên
cứu tường tận, song nhiều người cho rằng mùi
thơm vò đậm đà của thòt có liên quan đến sự
tích tụ của một số hợp chất như axit inozinic,
inozinin và hipoxantin, những hợp chất này là
sản phẩm phân giải ATP . Ngoài nguyên nhân
trên, mùi và vò của thòt và nước luộc có liên
quan đến hàm lượng axit glutamic và một số
chất thơm dễ bay hơi . Những hợp chất này,
trong giai đoạn trước ít tồn tại ở trạng thái tự do
mà tham gia vào cấu thành của những hợp
chất phức tạp hơn . Do tác động của các
enzym, những hợp chất này được giải phóng,
tích tụ lại, và đã có tác dụng cải thiện rõ rệt
mùi và vò của thòt .
- Hiện tượng chín kéo dài, thay đổi phụ thuộc
vào nhiệt độ môi trường xung quanh.
Nhiệt độ càng cao thì thời gian kết thúc quá
trình chín càng ngắn, vì vậy trong sản xuất đồ
hộp cần có phương tiện bảo quản lạnh để kéo
dài thời gian chín của thòt .
Thời gian chín phụ thuộc nhiệt độ môi trường
xung quanh
Nhiệt độ môi
trường xung quanh, 0C
2-3
12
20
29

Thời gian chín
12-15 ngày
5 ngày
24 giờ
4-5 giờ


- Thòt gia súc giàu dinh dưỡng là môi trường
thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển . Các vi
sinh vật tìm thấy ở thòt bao gồm vi khuẩn gây
thối rữa, các bào tử nấm mốc và các tế
bào nấm men
Vi sinh vật thường nhiễm nhiều ở trên bề
mặt thòt và phát triển làm cho số lượng dần
tăng lên, đặc biệt là những miếng thòt giữ
trong điều kiện nóng làm cho số lượng vi sinh
vật tăng nhanh, làm cho thòt chóng hư hỏng .
Ở môi trường có độ ẩm cao, khi pH giảm sẽ
tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển
- Thời điểm bắt đầu và kết thúc của quá
trình chín tới ở thòt các động vật khác nhau thì
không hoàn toàn giống nhau, ngoài ra còn tùy
thuộc vào giống, tuổi, mức độ béo và nhiệt
độ của môi trường . Thòt của những con vật
béo, con đực, những con vật già thì quá trình
chín tới đến muộn hơn thòt của những con vật
gầy, con cái, con rất non . Ở nhiệt độ thấp,
thời điểm bắt đầu quá trình xuất hiện muộn
và thời gian của quá trình chín tới sẽ kéo dài .
- Do đặc điểm thòt qua giai đoạn chín tới được
cải thiện rõ rệt về trạng thái, tính chất và cả
hương vò nên trong quá trình chế biến, ta cần
căn cứ vào đặc điểm của từng loại sản phẩm
để lựa chọn nguyên liệu thòt ban đầu ở những
mức độ phù hợp . Ở những sản phẩm mà
việc chế biến không làm giảm hiệu lực của
các quá trình enzym tự phân giải tiếp theo như
trường hợp ướp muối thòt, sản xuất lạp xưởng,
thòt dùng để bảo quản lạnh thì ta có thể sử
dụng thòt ngay sau lúc giết mổ, không cần để
qua giai đoạn chín tới . Đối với những sản phẩm
mà qua chế biến sẽ làm ngừng hẳn các quá
trình enzym tự phân giải tiếp theo như trong sản
xuất đồ hộp, thòt đun nấu, hấp, rán, thì ta nên
sử dụng thòt đã qua giai đoạn chín tới .


 Giai đoạn thối rữa : Ở giai đoạn tê cứng
và giai đoạn chín tới, những biến đổi về thành
phần, cấu trúc, trạng thái và tính chất của thòt
chủ yếu là do các enzym có sẵn trong thòt gây
ra . Trong cơ thể sống, các enzym đóng vai trò
xúc tác sinh học cho các quá trình trao đổi
chất . Sau khi giết mổ, việc tổng hợp các chất
cho cơ thể chấm dứt, lúc này các enzym đóng
vai trò chủ yếu là chất xúc tác, thực hiện
quá trình phân giải các hợp chất của thòt
thành những hợp chất đơn giản hơn . Bên cạnh
hoạt động phân giải của các enzym, các vi sinh
vật bên ngoài môi trường thâm nhập vào
trong thòt, chúng sử dụng những hợp chất sẵn
có của thòt làm nguồn thức ăn, cung cấp
năng lượng, phục vụ cho nhu cầu sinh trưởng và
phát triển của chúng . Do các hoạt động trên,
thòt bò phân giải và dẫn đến thối hỏng . Dấu
diệu đầu tiên của thối rữa là nước nhầy
xuất hiện trên bề mặt thòt . Nước nhầy xuất
hiện sớm hay muộn có liên quan đến trạng
thái ban đầu của thòt, đến nhiệt độ và độ ẩm
của môi trường . Nhiệt độ và độ ẩm của môi
trường thấp thì nước nhầy chậm xuất hiện và
ngược lại .
Ở 160C thì thòt mổ sau 2 ngày đã xuất hiện
nước nhầy . Kèm theo việc xuất hiện nước
nhầy là màu sắc và mùi vò của thòt cũng thay
đổi ; lúc đầu thòt có mùi hôi, chua, sau đó
chuyển sang mùi gây và cuối cùng có mùi
thối . Màu sắc chuyển dần từ hung nâu sang
màu xám chì và cuối cùng thành màu hơi xanh
đen . Màu sắc của thòt biến đổi là do sự biến
đổi của protein myoglobin và hemoglobin . Cũng
có trường hợp sự thối rữa lại bắt đầu từ
những lớp sâu bên trong, nơi tiếp giáp giữa thòt
và xương, đó là do sự hoạt động của các vi sinh
vật yếm khí . Nhiều loại vi sinh vật không phân
giải được protein ở dạng nguyên mà chỉ có
thể sử dụng các sản phẩm phân giải của


protein để sinh trưởng, phát triển, vì thế ở các
giai đoạn trước nhiều loại vi khuẩn chưa thể phát
triển mạnh trên thòt .
Quá trình tự phân giải dưới tác động của các
enzym có sẵn trong thòt đã tạo tiền đề cho các
vi sinh vật dễ dàng xâm nhập và hoạt động .
Tuy nhiên, nhiều loại nấm mốc có thể phát
triển từ đầu, chúng phân giải protein của thòt
ngay cả trong môi trường axit . Do hoạt động của
nấm mốc, protein bò phân giải thành các bazơ
hữu cơ, amoniac… Việc xuất hiện các hợp chất
này, dần dần làm cho thòt chuyển sang môi
trường kiềm, đó là điều kiện thuận lợi để vi
khuẩn gây thối rữa phát triển . Thòt của
những con vật ốm yếu, những con vật phải
làm việc nhiều, mệt mỏi, chưa được nghỉ ngơi
trước lúc giết mổ thì trò số pH thường nhanh
chóng tăng lên, vì thế các loại thòt này cũng
chóng bò hư hỏng hơn . Trong quá trình bò thối
rữa, protein của thòt bò phân giải từng bước,
trước hết bò phân giải thành anbumo và
polypeptide sau đó thành axit amin và cuối cùng
thành những sản phẩm có phân tử lượng
thấp, dễ bay hơi và có mùi khó chòu có tính
độc như indol, skatol, H2S, NH3… Anbumo và
polipeptide tác dụng với nứơc tạo thành nước
nhầy, chúng lại có khả năng hòa tan trong
nước . Vì vậy, thòt đã ôi thì khi nấu, nước canh
sẽ đục và hơi đònh .
- Trong quá trình chín, không xảy ra các hiện
tượng ban đầu do vi sinh vật gây ra vì lúc đó
trong thòt không có vi sinh vật . Các bộ phận
chứa nhiều vi sinh vật như ruột, nội tạng… cũng
được lấy ra ngay sau khi giết mổ .
Thòt đã chín, nếu có vi sinh vật ở ngoài xâm
nhập vào thì các vi sinh vật đó lại có môi
trường thuận lợi để phát triển làm cho thòt bò
ôi thối . Khi thòt bò ôi thối thì protit bò thủy


phân thành chất độc nên không dùng chế
biến đồ hộp . Các dấu hiệu thòt bò hỏng là
thòt ướt, trên mặt bò nhầy, mềm nhũn, màu
thẫm dần thành màu xám hay xanh, có phản
ứng kiềm vì có amoniac thoát ra, mùi trở nên
khó chòu. Thòt ở giai đoạn này không được dùng
để chế biến thực phẩm.

III-Sự biến đổi màu sắc của thịt:
SỰ THAY ĐỔI MÀU SẮC CỦA THỊT
a) Theo loài :
Loài
Thòt heo
Thòt cừu

Lượng
Màu
Myoglobin(mg
/g)
2
Hồng
6
Đỏ nhạt

Thòt bò

8

Đỏ anh
đào

b) Theo tuổi:
Loài(theo tuổi)
Thòt bê (non)
Thòt bò(non)
Thòt bò(già)

Lượng
myoglobin(mg/g)
4
8
18

c) Theo loại cơ:
Loại cơ
Cơ vận
động

Lượng myoglobin
12 mg/g

Cơ trụ đỡ

6 mg/g


Ngun nhân: Thành phần hữu cơ chủ yếu của thịt là ptotein. Do đó,
màu sắc của thòt là do protein qui đònh.
Có hai loại Protein quyết đònh đến màu sắc của
thòt là:
•♦ Myoglobin (Mb): có trong các mô cơ.
•♦ Hemoglobin (Hb): có trong máu.
Hầu hết hemoglobin đã bò mất đi khi con vật bò
giết mổ và chảy máu, do đó trong các miếng thòt
sau khi giết mổ, thành phần myoglobin chiếm hơn
90% các chất màu.
- Lượng myoglobin thay đổi tương ứng với các loại
mô và phụ thuộc vào giống loài, tuổi, giới tính
và mức độ hoạt động của con vật . Thòt bê nhạt
màu hơn thòt bò vì hàm lượng myoglobin thấp hơn .
Tương tự như thế có sự khác nhau về màu của
những mô thòt khác nhau trong cùng một con vật .
►nh hưởng của nhiệt độ: phần lớn các
protein của chất cơ đều bò biến tính và tạo ra các
tập hợp khi nhiệt độ từ 45-60 0C. Mb bò biến tính
khiến cho màu sắc của thòt bò biến từ đỏ sang
nâu xám do tạo ra sẵc tố ferrihemochrom. Tới 50 0C
thòt vẫn giữ được màu sắc, giữa 50-70 0C thòt
trắng ra và cho dòch màu đỏ, trên 70 0C thòt có
màu nâu và dòch mất màu do Mb bò biến tính.
Các protein của tơ cơ sẽ giảm độ hoà tan khi
nhiệt độ giữa 40-600C vì lúc này mạch polypeptid
bò giãn và keo tụ. Khi nhiệt độ trên 750C thì xảy ra
phản ứng khử sunfua để tạo ra H2S. Chính H2S này
sẽ làm đen các hộp thòt (H2S và hợp chất chứa S
tạo ra làm cho thòt có mùi. Phản ứng Maillard xuất
hiện khi nhiệt độ khoảng 900C cũng làm cho thòt
bò sẫm màu.
►nh hửơng của lạnh đông: hậu quả của sự
biến tính protein là khả năng giữ nước bò giảm
và sự chảy dòch xuất hiện ngay khi làm tan giá.
Dòch chảy ra thường chứa các vitamin, muối
khoáng, các axitamin gây nên những tổn thất


trọng lượng có thể rất lớn. Thòt trở nên khô và
sơ.
☼ Màu của thòt hư hỏng là hỗn hợp của nhiều
màu: xanh, nâu, trắng xám, đen,…
 Vi sinh vật phát triển trên bề mặt thòt sinh
ra hydrogen peroxyt và hydrogen sulfide.
oHydrogen peroxyt có thể phản ứng với
cả Fe2+ và Fe3+ tạo ra cholemyoglobin, một
sắc tố có màu xanh.
oSự xuất hiện của hydrogen sulfide và
oxy tạo ra sulfomyoglobin có màu xanh.
 Sự phát triển trên bề mặt thòt những vi
khuẩn hiếu khí tạo thành sắc tố như:
oBact.Prodigosum làm thòt có màu đỏ
( không giống màu đỏ đặc trưng của thòt).
oBact.Synyaneum tạo thành những vết
xanh.
oSarcina Flava và Sacnalutea tạo thành
các vết vàng.
 Môi trường có độ ẩm cao và thoáng gió
là điều kiện thuận lợi cho một số loại nấm mốc
phát triển trên bề mặt thòt như Penicilinum, Mucor,
Aspergillus…
o Mucorealae tạo thành những
vết trắng xám.
o Clasosborium Herbarium tạo
thành những vết đen.
o Nấm Penicilinum tạo thành vết
xanh.
Nhiều nấm mốc phát triển ngay cả nhiệt độ –
o
8 C, một số loại khác tạo thành các khuẩn lạc màu
trắng, xanh sẫm, xanh xám hay đen trên bề mặt thòt.
Các khuẩn lạc phần lớn phát triển ở 20-25 oC, một
số phát triển cả khi bảo quản trong tủ lạnh (-7 đến
–9oC).
 Để cải thiện độ bền màu ta có thể thêm
vào các chất chống oxy hóa: Vit C, Vit E, PHA
(butylated hydroxy anisol),…


Hix hình ảnh mấy pà tự lên google tìm nhe. Đuối wa ùi.
Tự tóm tắt làm pp nhe
Có mún thêm j thì thêm ih



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×