Tải bản đầy đủ

Đề cương luận văn thạc sĩ td gừng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CAO HỌC

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ GEL NHŨ TƯƠNG
CHỨA TINH DẦU GỪNG CÓ HOẠT TÍNH
KHÁNG KHUẨN

Chuyên ngành

:

Công nghệ dược phẩm & Bào chế

Mã số

:


8720202

Thầy hướng dẫn

:

Học viên thực hiện

:

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CAO HỌC

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ GEL NHŨ TƯƠNG
CHỨA TINH DẦU GỪNG CÓ HOẠT TÍNH
KHÁNG KHUẨN

Chuyên ngành

:

Công nghệ dược phẩm & Bào chế

Mã số

:

8720202

Thầy hướng dẫn


:

Học viên thực hiện

:

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Mục lục


1. ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU....................................................................2
2.1.

Mục tiêu tổng quát............................................................................2

2.2.

Mục tiêu cụ thể..................................................................................2

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................2
3.1.

Nhiễm khuẩn da ...............................................................................2

3.2.

Vi khuẩn gây bệnh ở da....................................................................3

3.4.

Tổng quan về dạng bào chế gel nhũ tương.....................................9

3.5.

Chế phẩm đối chiếu........................................................................13

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........................14
4.1.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU........................................................14

4.2.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................14

4.2.1.

Đánh giá nguyên liệu................................................................14

4.2.2.

Khảo sát tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng.............14

4.2.3.

Khảo sát và xây dựng quy trình định lượng tinh dầu Gừng.15

4.2.4.

Xây dựng công thức gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng......15

4.2.5. Đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của gel nhũ tương chứa tinh
dầu Gừng so với chế phẩm đối chiếu...................................................16
5. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN...................................................................17
6. DỰ TRÙ KINH PHÍ..............................................................................17
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................18


1

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gừng (Zingiber officinale) là loại cây thảo được trồng từ rất lâu đời và phổ
biến ở các nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các thành phần trong
tinh dầu Gừng có những tác dụng đáng lưu ý như: kháng viêm, kháng khuẩn,
chống nôn, chống oxi hóa, hỗ trợ trong việc điều trị ung thư vú [2], [3], [22].
Hiện nay, các chế phẩm liên quan trên thị trường hầu hết là tập trung tận dụng
đặc tính kháng viêm và chống say tàu của Gừng. Về tính kháng khuẩn của
Gừng, trên thế giới cũng như trong nước đã có rất nhiều các nghiên cứu về
đặc tính của Gừng tuy nhiên các nghiên cứu bào chế thành phẩm chưa có
nhiều. Với tình trạng đề kháng kháng sinh ở mức độ cao như hiện nay ở Việt
Nam, việc nghiên cứu sử dụng các tinh dầu từ thảo dược như Gừng với vai trò
kháng sinh thực vật đang ngày càng chứng minh được tầm quan trọng của
mình trong nền công nghiệp dược phẩm như là một giải pháp an toàn sinh học
thay thế cho các thuốc hoá học tổng hợp [20].
Bệnh da do vi khuẩn hiện nay chiếm tỷ lệ khá cao ở những nước có khí hậu
nóng ẩm và điều kiện vệ sinh chưa được cải thiện nhiều. Bệnh không gây tử
vong nhưng rất ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Theo một
khảo sát của bệnh viện trường đại học Y - Dược Thái Nguyên trên đối tượng
là các bệnh nhân bị bệnh ngoài da đến khám tại BV trường đại học Y - Dược
Thái Nguyên có đến 8,4% bệnh nhân bị bệnh da do vi khuẩn [12]. Các bệnh
da do vi khuẩn cần thời gian điều trị lâu dài và trong quá trình điều trị bệnh
nhân phải sử dụng các kháng sinh, nếu bệnh nhân không tuân thủ đúng thời
lượng điều trị thì bệnh sẽ dễ tái phát. Do đó nhằm mục đích hỗ trợ cho quá
trình điều trị các bệnh da do vi khuẩn và tăng hiệu quả điều trị, đề tài “Nghiên
cứu bào chế gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng có hoạt tính kháng khuẩn”
được thực hiện với mục tiêu chính là bào chế được chế phẩm dạng gel nhũ


2

tương chứa tinh dầu Gừng đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm và có hoạt tính kháng
khuẩn tương đương với một thuốc đối chiếu trên thị trường.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
Bào chế được gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng dùng trên da cho các bệnh
nhiễm khuẩn ngoài.
2.2.

Mục tiêu cụ thể

Xây dựng và khảo sát quy trình định lượng tinh dầu Gừng.
Xây dựng công thức bào chế gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng có hoạt tính
kháng khuẩn.
3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3.1. Nhiễm khuẩn da [6]
Nhọt
Nhọt là tình trạng viêm cấp tính gây hoại tử nang lông và tổ chức xung quanh.
Bệnh thường gặp về mùa hè, nam nhiều hơn nữ. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc
bệnh, tuy nhiên, bệnh thường gặp hơn ở trẻ em. Nguyên nhân gây bệnh là tụ
cầu vàng (Staphylococcus aereus). Bình thường, vi khuẩn này sống ký sinh
trên da, nhất là các nang lông ở các nếp gấp như rãnh mũi má, rãnh liên
mông…hoặc các hốc tự nhiên như lỗ mũi. Khi nang lông bị tổn thường kết
hợp với những điều kiện thuận lợi như tình trạng miễn dịch kém, suy dinh
dưỡng, mắc bệnh tiểu đường…vi khuẩn sẽ phát triển và gây bệnh.
Viêm nang lông


3

Viêm nang lông là tình trạng viêm nông một hoặc nhiều nang lông. Bệnh gặp
ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhất là thanh thiếu niên và người trẻ. Nguyên nhân chủ
yếu là tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa).
Bệnh chốc
Chốc là một bệnh nhiễm khuẩn da rất phổ biến, đặc trưng bởi các thương tổn
cơ bản là bọng nước nông, rải rác, nhanh chóng hoá mủ, dập vỡ đóng vảy tiết.
Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, người lớn cũng có thể bị. Bệnh có thể gây
các biến chứng tại chỗ và toàn thân nếu không được phát hiện và điều trị kịp
thời. Nguyên nhân do tụ cầu vàng, liên cầu hoặc phối hợp cả hai. Yếu tố
thuận lợi: tuổi nhỏ, thời tiết nóng ẩm, mùa hè, điều kiện vệ sinh kém hoặc có
bệnh da phối hợp như chấy rận, ghẻ, côn trùng cắn, viêm da cơ địa.
3.2.

Vi khuẩn gây bệnh ở da [6]

Staphylococcus aureus là những vi khuẩn hình cầu, không di động, gram
dương, đường kính 0.5-1.5 µm, tế bào xếp thành hình chùm nho, không di
động. Thành tế bào kháng với lysozyme và nhạy với lysotaphin, một chất có
thể phá hủy cầu nối pentaglycin của tụ cầu. S. aureus có sự phân bố rộng, chủ
yếu được phân lập từ da, màng nhày, tóc và mũi của người và động vật máu
nóng. S. aureus được cho là vi khuẩn khá mạnh có thể sống tốt bên ngoài kí
chủ. Vi khuẩn này còn có mặt trong không khí, bụi và trong nước dù chúng
thiếu tính di động và rất nhạy với thuốc kháng sinh và chất diệt khuẩn. Tuy
nhiên, S. aureus cũng khá nhạy với nhiệt độ, bị diệt ở 60 oC từ 2-50 phút tùy
từng loại thực phẩm và là vi sinh vật cạnh tranh yếu, dễ bị các vi sinh vật
khác ức chế. Có 10-50% dân số vẫn sống khỏe mạnh dù mang S. aureus.
Tụ cầu vàng thường ký sinh ở da và mũi họng. Vi khuẩn này gây bệnh cho
những người bị suy giảm đề kháng do chúng có nhiều yếu tố độc lực. Tụ cầu


4

vàng là vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất và có khả năng gây nhiều bệnh
khác nhau.
Nhiễm khuẩn da: do tụ cầu ký sinh trên da và niêm mạc mũi, nên nó có thể
xâm nhập qua lỗ chân lông, chân tóc hoặc các tuyến dưới da. Sau đó gây nên
các nhiễm khuẩn sinh mủ: mụn nhọt, các ổ áp xe, eczema, hậu bối. Mức độ
các nhiễm khuẩn này phụ thuộc vào 17 sự đề kháng của cơ thể và độc lực của
vi khuẩn. Nhiễm tụ cầu ngoài da thường gặp ở trẻ em và người suy giảm miễn
dịch.
Hội chứng da phồng rộp: một số chủng tụ cầu vàng tiết ra độc tố exfoliatin,
gây viêm da hoại tử và phồng rộp. Bệnh này thường gặp ở trẻ em mới sinh và
tiên lượng xấu.
Nhiễm khuẩn bệnh viện do tụ cầu: thường rất hay gặp, nhất là đối với nhiễm
trùng vết mổ, vết bỏng từ đó đẫn tới nhiễm khuẩn đường huyết. Các chủng tụ
cầu này có khả năng kháng kháng sinh rất mạnh và phải dùng đến
vancomycin. Tỷ lệ tử vong ở bệnh này rất cao.
3.3.

Tổng quan về Gừng

Giới thiệu chung về Gừng
Gừng (tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe thuộc giới Plantae, ngành
Magnoliophyta, lớp Liliopsida, bộ Zingiberales, họ Zingiberaceae, chi
Zingiber, loài Zingiber officinale) là loại cây thảo được trồng từ rất lâu đời và
phổ biến ở các nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1], [2], [3]. Ở Việt
Nam, hiện nay Gừng được trồng khắp các địa phương. Riêng ở Đồng bằng
Sông Cửu Long, Gừng thường được trồng xen canh trong các vườn cây ăn
trái và cho giá trị kinh tế tương đối cao [2].


5

Hình 3.1. Đặc điểm cây gừng và thân rễ [29]
Ngoài chức năng là gia vị phổ biến trong các món ăn, Gừng còn là cây thảo
dược lâu đời trong y học dân gian. Xã hội phát triển, các chế phẩm từ Gừng
ngày càng phong phú hơn, từ bài thuốc dân gian cổ điển cho đến thực phẩm
chức năng, dược phẩm và mỹ phẩm. Ở Việt Nam, Gừng được xem là một
dược liệu quý, thân rễ được sử dụng như một gia vị và tinh dầu được dùng
rộng rãi trong điều trị các bệnh bao gồm viêm khớp, thấp khớp, bong gân, đau
cơ bắp, đau nhức, viêm họng, đau bụng, khó tiêu, nôn mửa, tăng huyết áp,
mất trí nhớ, sốt, bệnh truyền nhiễm,… [2], [3].
Mô tả
Cây thảo sống lâu năm, cao khoảng 1m. Thân rễ mọc phình lên thành củ, khi
già thì có xơ. Lá không cuống, mọc cách nhau, hình mũi mác, dài tới 20cm,
rộng 2cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng. Cánh hoa dài khoảng 20cm, mọc
từ gốc, có nhiều vẩy lợp lên. Cụm hoa dạng trứng, dài 5cm, rộng 2 - 3cm, lá
bắc hình trái xoan, màu lục nhạt, có mép vàng. Đài có 3 răng ngắn. Tràng có
ống dài gấp đôi đài, có 3 thùy hẹp nhọn, 1 nhị. Nhị lép không có hoặc tạo
thành thùy bên của cánh môi. Cánh môi màu vàng, viền thêm màu tía, dài


6

2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùy tròn, các thùy bên ngắn hơn. Bầu nhẵn,
nhụy lép dạng sợi. Có hoa vào mùa hè và mùa thu [2], [3], [8].
Bộ phận dùng
Thân rễ (Rhizoma Zingiberis), thu hái vào mùa đông, dùng tươi là sinh
khương, phơi hoặc sấy khô là can khương. Có thể cất tinh dầu từ gừng với
hiệu suất 1 - 2,7% hoặc điều chế nhựa dầu Gừng từ bột Gừng khô với các
dung môi hữu cơ, hiệu suất 4,2 - 6,5% [2].
Thành phần hóa học của tinh dầu Gừng
Theo Đỗ Huy Bích và các cộng sự, Gừng chứa 2-3% tinh dầu với thành phần
chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: zingiberen (35%), arcurcumenen (17%), β-farnesen (10%) và một lượng nhỏ hơn các hợp chất
monoterpenic như geranial, neral, linalol, borneol [2].
Theo công trình nghiên cứu của Võ Thị Bạch Huệ và cộng sự (2010), kết quả
so sánh các thành phần chính trong tinh dầu của Gừng dại (Zingiber sp.)và
Gừng trâu (Zingiber officinale Roscoe) bằng phương pháp GC – MS đã cho
thấy các hợp chất chính trong Gừng trâu là: cineol (15,94%), α-citral
(14,12%), β-citral (8.77%), camphen (8,04%), zingiberen (7,75%), α-farnesen
(6,09%), β-sesquiphellandren (3,81%) [14].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huệ và cộng sự (2012) khi khảo sát các
thành phần hóa học trong tinh dầu Gừng đã thu được kết quả: thành phần
chính của tinh dầu Gừng thu được bằng hai phương pháp chưng cất là
zingiberen (17%), α-farnesen (12%), citral (12%) β-sesquiphellandren (6%),
1,8-cineol (6%) [9].


7

Theo Van Bee Teris và cộng sự (1987), thành phần chính trong tinh dầu Gừng
được lấy mẫu ở Việt Nam chứa: geranial (15.9%), α-zingiberen (9.2%) neral
(8.1%), β-sesquiphellandren (4.3%) [28].
Theo Albena Stoyanova và cộng sự (2013), thành phần chính trong tinh dầu
Gừng điều chế bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước với nguyên liệu ở Việt
Nam gồm có: ar-curcumen (12.6%), α-zingiberen (10.3%), β-bisabolen
(8.1%), β-sesquiphellandren (7.4%) và citral (3.3%) [15].
Thành phần tinh dầu Gừng ở các địa phương khác nhau có thể khác nhau do
điều kiện thổ nhưỡng không giống nhau [4].
Có thể thấy zingiberen và citral là hai cấu tử đặc trưng cho tinh dầu Gừng do
chiếm tỉ lệ cao trong các thành phần của tinh dầu. Đặc biệt, trong nhiều
nghiên cứu cho thấy citral có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều chủng vi khuẩn
khác nhau kể cả Staphylococcus aureus [27]. Do đó, có thể sử dụng các chất
này làm chuẩn đối chiếu khi khảo sát quy trình định lượng tinh dầu Gừng.
Tác dụng dược lý chung [2]
Trong dân gian Gừng tươi chữa cảm mạo, phong hàn, nhức đầu, ngạt mũi, ho
có đờm, nôn mửa, bụng đầy trướng. Gừng dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa,
tăng bài tiết, sát trùng, giải độc ngứa dị ứng do cua, cá,...Ngày dùng 4-8g,
dạng thuốc sắc uống. Ngoài ra còn dùng làm thuốc xoa bóp và đắp ngoài chữa
sưng phù và vết thương. Gừng khô chữa đau bụng lạnh, đầy trướng hơi không
tiêu, chân tay giá lạnh, đàm ẩm, ho suyễn và thấp khớp. Ngày dùng 4-20g
dạng thuốc sắc hoặc tán. Gừng còn thường dùng phối hợp với các vị thuốc
khác.
Trên thực nghiệm, Gừng có những tác dụng dược lý như sau:


8

- Ức chế thần kinh trung ương, làm giảm đau vận động tự nhiên và tăng thời
gian gây ngủ của thuốc ngủ barbituric. Cao chiết Gừng khô, gingerol và
shogaol đều ức chế sự vận động tự nhiên của chuột nhắt.
- Hạ nhiệt: shogaol và gingerol làm giảm sốt trên chuột đã được gây sốt bằng
cách tiêm men bia.
- Chống nôn: dịch chiết Gừng khô có tác dụng trên chó gây nôn bằng đồng
sulfat.
- Chống loét đường tiêu hóa: dịch chiết nước Gừng tươi tiêm phúc mạc cho
chuột có tác dụng ức chế loét dạ dày thực nghiệm do gò bó.
- Tác dụng chống viêm: dịch chiết Gừng khô tiêm dưới da cho chuột nhắt ức
chế sự tăng tính thẩm thấu của các mao quản trong phản ứng viêm thực
nghiệm.
Tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng
Theo nghiên cứu của Trần Mộng Tố Tâm (2016), tinh dầu Gừng có tác dụng
ức chế tốt các vi khuẩn thử nghiệm.
Bảng 3.1. Kết quả MIC của tinh dầu Gừng [13]
Chủng vi khuẩn

Nồng độ tinh dầu tối thiểu ức
chế (µl/ml)

E. coli ATCC 25922
Proteus mirabilis
Pseudomonas aeruginosa ATCC 27853
Staphylococus aureus ATCC 25923
Streptococcus faecalis ATCC 29212

10
10
10
10
10


9

Theo nghiên cứu của Pradeep Kumar Sharma và cộng sự (2015), khi xem xét
tính chất kháng khuẩn của tinh dầu Gừng cũng cho thấy tác dụng kháng
khuẩn tốt trên các chủng thử nghiệm.
Bảng 3.3. Kết quả MIC của tinh dầu Gừng [23]
Chủng vi sinh vật

Đường kính diện tích vùng thạch có MIC
vi sinh vật bị ức chế (mm)
Tinh

dầu DMSO

(µl/ml)

Tetracyclin Tinh

dầu

Bacillus subtilis

Gừng
12.5 ± 0.7

0

15.0 ± 0.5

gừng
10 ± 0.8

Staphylococcus

12.0 ± 0.2

0

11.5 ± 0.2

8 ± 0.7

Escherichia coli

10.6 ± 0.3

0

10.5 ± 0.2

6 ± 0.1

Pseudomonas

10.4 ± 0.8

0

10.0 ± 0.1

5 ± 0.2

aureus

aeruginosa

3.4.

Tổng quan về dạng bào chế gel nhũ tương

Khái niệm và ưu nhược điểm
Nhũ tương là hệ phân tán dị thể gồm hai pha lỏng không đồng tan vào nhau
trong đó một pha lỏng gọi là pha phân tán được phân tán đồng nhất dưới dạng
giọt mịn trong một pha lỏng khác gọi là môi trường phân tán [7].
Nhũ tương được phân loại theo kiểu nhũ tương hoặc theo kích thước pha phân
tán. Với cách phân loại theo kiểu nhũ tương thì có hai loại nhũ tương thông
dụng là nhũ tương Dầu trong nước (D/N) và Nước trong Dầu (N/D). Ngoài ra


10

còn có kiểu đa nhũ tương hay nhũ tương hỗn hợp, ví dụ như nhũ tương N/D/N
hoặc nhũ tương D/N/D. Với cách phân loại theo kích thước pha phân tán thì
nhũ tương được chia thành hai loại là nhũ tương thô và vi nhũ tương. Nhũ
tương thô có kích thước tiểu phân phân tán từ 0,1-50 µm, màu trắng đục và có
thể quan sát dưới kính hiển vi. Vi nhũ tương có kích thước hạt trong khoảng
10-100 nm, trong suốt và rất bền. Vi nhũ tương với kích thước tiểu phân pha
phân tán khoảng nano được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như nhũ
tương nano, nhũ tương phân tán tốt, ...Nhờ vào kích thước tiểu phân siêu nhỏ,
nhũ tương nano thường có độ bền cao hơn nhũ tương truyền thống [7], [25].
Gel được định nghĩa là những chế phẩm bán rắn thể chất mềm, dùng để bôi
lên da hoặc niêm mạc nhằm tác dụng bảo vệ hoặc đưa thuốc thấm qua da. Tác
nhân tạo gel bao gồm các nhóm như: protein, polysaccharid, polymer bán
tổng hợp, polymer tổng hợp, các chất vô cơ và một số chất diện hoạt. Gel
được phân loại dựa vào cấu trúc và môi trường tạo gel. Dựa vào cấu trúc, gel
gồm có gel một pha và gel hai pha. Gel hai pha khi gel là một hệ chứa các tiểu
phân tạo gel phân tán, ví dụ như gel nhôm hydroxid. Gel một pha khi gel là
một thể thống nhất, không có giới hạn rõ ràng giữa môi trường và đại phân tử
phân tán, vi dụ như gel carbomer, gel alginat. Dựa vào môi trường, gel gồm
gel thân dầu và gel thân nước. Đối với gel thân dầu, thành phần bao gồm dầu
parafin phối hợp với tá dược thân dầu khác, có thêm keo silic, xà phòng nhôm
hoặc xà phòng kẽm. Đối với gel thân nước, thành phần bao gồm nước,
glycerin, propylen glycol, có thêm các tá dược tạo gel như polysaccharid (tinh
bột, tinh bột biến tính, acid alginic và natri alginat), dẫn xuất celulose,
polymer của acid arcylic (carbomer, carbomer copolymer, methyl acrylat ...)
và các chất vô cơ (magnesi – nhôm silicat) [5], [25].


11

Gel nhũ tương có cấu trúc nhũ tương có thể là loại D/N hoặc N/D được gel
hóa bằng cách phối hơp với một chất tạo gel thích hợp. Đây là một dạng bào
chế rất được quan tâm hiện nay đối với đường dùng trên da do nó có ưu điểm
của cả hai dang bào chế là nhũ tương và gel. Hệ gel nhũ tương cũng rất thích
hợp với các dược chất thân dầu, kỵ nước do đó việc sử dụng hệ gel nhũ tương
sẽ giúp hoạt chất tránh được các hiện tượng thủy phân hay oxy hóa. Hệ gel
nhũ tương D/N thường được dùng cho các chất không tan trong nước và có
ứng dụng nhiều trong lĩnh vực mỹ phẩm. Hệ gel nhũ tương N/D thường được
dùng để chữa trị bệnh khô da và làm mềm da. Nhược điểm: dễ bị nhiễm
khuẩn hơn các dạng bào chế khác [19].
Các tá dược hay được dùng trong bào chế gel nhũ tương dùng ngoài
Chất nhũ hóa
Chất nhũ hóa trong nhũ tương được chia làm ba loại: chất diện hoạt, chất nhũ
hóa keo thân nước phân tử lớn và chất nhũ hóa loại rắn hạt nhỏ. Trong đó chất
diện hoạt là nhóm được sử dụng nhiều nhất. Bản chất của chất nhũ hóa sử
dụng ảnh hưởng đến kiểu và độ bền vững của nhũ tương [7].
Tá dược tạo gel
Các tá dược tạo gel hay gặp:

Bảng 3.5. Phân loại chất tạo gel [19]


12

Phân loại chất tạo gel
Protein
Polysaccharid

Ví dụ
Collagen, gelatin
Agar, alginat, tinh bột, pectin, gôm

Polymer bán tổng hợp

tragacan, gôm guar
Carboxymethyl cellulose,
hydroxypropyl cellulose,
hydroxypropylmethyl cellulose,

Polymer tổng hợp

methyl cellulose
Carbomer, poloxamer,

Chất vô cơ
Chất diện hoạt

polyacrylamid, polyvinyl alcol
Nhôm hydroxid, bentonit, laponit
Cetostearyl alcol, briji

Triethanolamin
Là chất lỏng sánh, trong, không màu hoặc màu vàng nhạt, có độ nhớt 590
mPa (30ºC). Ở 20ºC triethanolamin hỗn hòa với nước, methanol, aceton, tan
trong benzen (1:24), ethyacetat (1:63).Triethanolamin được sử dụng trong gel
nhũ tương với vai trò trung hòa carbopol và điều chỉnh pH của gel nhũ tương.
Propylen glycol
Là chất lỏng trong, không màu, không mùi, có độ nhớt 58,1 mPa (20ºC), vị
ngọt, tỷ trọng 1,038 g/cm3 (20ºC). Propylen glycol hỗn hòa với nước, ethanol,
glycerin, aceton, cloroform; không hỗn hòa với dầu khoáng, dầu không bay
hơi. Propylen glycol được sử dụng trong công thức với vai trò là chất dưỡng
ẩm, chất bảo quản kháng khuẩn và hỗn hòa với nước tạo nên tướng ngoại của
gel.
Chất bảo quản


13

Nipagin M (Methylparaben) là chất bảo quản hay được sử dụng nhất trong
dược mỹ phẩm. Nipagin M có cấu trúc methyl-4-hydroxybenzoat, là tinh thể
rắn không màu, không mùi. Độ tan của nipagin M trong các môi trường:
propylenglycol (1:5), ethanol (1:2), glycerol (1:60), nước (1:400). Nipagin M
có hoạt lực kháng nấm và kháng khuẩn mạnh. Hoạt lực này tăng khi phối hợp
với các paraben khác.
Dầu parafin lỏng
Dầu parafin lỏng là một hỗn hợp các hydrocarbon và aliphatic bão hòa có
được từ quá trình chưng cất dầu mỏ. Dầu parafin lỏng có thể chất trong suốt,
nhớt, thực tế không tan trong ethanol (95%), glycerin, nước và tan trong
acetin, benzen, CS2, ether ...Dầu parafin lỏng hay được sử dụng làm tướng
Dầu trong chế phẩm dùng ngoài như nhũ tương D/N, lotion, ointment ...
EDTA (Ethylendiamin tetraacetic acid)
EDTA à bột kết tinh màu trắng, tan trong nước (1:500) tạo dung dịch có pH
acid. EDTA thường được sử dụng với nồng độ 0,01-0,1% trong công thức với
mục đích chống oxy hóa, chống ion kim loại và có tác dụng hiệp đồng với các
chât bảo quản khác làm tăng hiệu quả kháng khuẩn.
3.5.

Chế phẩm đối chiếu

Tyrosur®gel
Tyrosur gel chứa tyrothricin là một kháng sinh peptit có phổ tương tự nhóm
penicillin, dùng để điều trị nhiễm trùng nhẹ gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm
với tyrothricin.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU


14

Tinh dầu Gừng có tính kháng khuẩn đạt tiêu chuẩn cơ sở do nhà sản xuất
cung cấp.
4.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.2.1. Đánh giá nguyên liệu
Cảm quan
Đánh giá nguyên liệu tinh dầu Gừng về: độ trong, màu sắc, mùi, vị.
Các chỉ số lý hóa
Xác định các chỉ số: tỷ trọng, góc quay cực, chỉ số khúc xạ, chỉ số acid, chỉ số
ester, độ hòa tan trong ethanol theo Dược điển Việt Nam V (2017) [1].
4.2.2. Khảo sát tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng
Khảo sát tác dụng kháng khuẩn bằng phương pháp pha loãng trên các vi sinh
vật thử nghiệm:
E.coli ATCC 25922
Proteus mirabilis
Pseudomonas aeruginosa ATCC 27853
Staphylococus aureus ATCC 25923
Streptococcus faecalis ATCC 29212
4.2.3. Khảo sát và xây dựng quy trình định lượng tinh dầu Gừng
Do những khó khăn trong bảo quản chất chuẩn zingiberen nên đề tài tiến hành
khảo sát và xây dựng quy trình định lượng tinh dầu Gừng bằng phương pháp
sắc kí khí kết hợp khối phổ dựa trên chất chuẩn là Citral [21], [26].
4.2.4. Xây dựng công thức gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng


15

Thăm dò công thức
Pha dầu: dầu parafin, oleic acid, isopropyl myristat, creemophor.
Pha nước: nước cất.
Chất nhũ hóa: tween 80, tween 20, span 80.
Chất bảo quản: nipagin M.
Chất chống oxy hóa: EDTA (Ethylendiamin tetraacetic acid).
Sau khi bào chế, mỗi công thức sẽ được đánh giá về mặt cảm quan, độ bền và
khả năng kháng khuẩn để lựa chọn thành phần công thức và tỉ lệ phù hợp.
Xác định tá dược tạo gel và các tá dược khác cho công thức điều chế gel
nhũ tương chứa tinh dầu Gừng
Các tá dược bao gồm: tá dược tạo gel, chất giữ ẩm, tá dược điều chỉnh pH ...
Bào chế gel thử nghiệm: gây trương nở tá dược tạo gel vào nước, phối hợp
chất nhũ hóa và các các thành phần thuộc pha nước rồi khuấy đều, sau đó
phối hợp ác thành phần của pha dầu trong công thức rồi khuấy đều. pH của
gel sau đó được chỉnh về khoảng 4,5 – 7 nhờ chất điều chỉnh pH để phù hợp
với sinh lý của da và khả năng tạo gel của công thức.
Khảo sát các tá dược tạo gel khác nhau (carbopol 940, carbopol aqua, HPMC,
natri alginat) với các nồng độ khảo sát tùy theo tá dược tạo gel. Gel hình
thành được đánh giá về tính bám dính trên da, độ dàn mỏng, độ bền nhiệt theo
chu kì nhiệt (4ºC -30ºC - 45ºC) và theo chu kì đông-rã-đông, khả năng tách
pha ở điều kiện phòng trong vòng 1 tuần.
Đánh giá sơ bộ gel nhũ tương chứa tinh dầu Gừng
Cảm quan về thể chất, màu sắc, mùi và độ đồng nhất.


16

pH: đo bằng máy đo pH.
Kích thước tiểu phân pha phân tán: quan sát và đo kích thước tiểu phân bằng
kính hiển vi quang học có thước đo.
Độ dàn mỏng: sử dụng bộ dụng cụ giãn kế để xác định độ dàn mỏng của gel
nhũ tương.
Đánh giá độ bền vật lý của gel nhũ tương: cân 10,0 g chế phẩm vào ống
nghiệm có nắp. Đặt ống nghiệm lần lượt ở các điều kiện: nhiệt độ 45ºC trong
24 giờ, nhiệt độ phòng trong 6h, nhiệt độ 0ºC trong 24 giờ, cuối cùng để ở
nhiệt độ phòng trong 6h. Lặp lại thí nghiệm từ chu kì 2 đến chu kì 6. Độ bền
của gel nhũ tương được đánh giá dựa trên cảm quan có hay không sự thay đổi
về màu sắc, độ đồng nhất và có hay không hiện tượng tách pha so với ống
chứng được bảo quản ở nhiệt độ phòng.
4.2.5. Đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của gel nhũ tương chứa tinh
dầu Gừng so với chế phẩm đối chiếu
Thực hiện theo phương pháp khuếch tán đĩa thạch.

5. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Thời gian thực hiện
STT

Tên nội dung nghiên cứu

Thời gian thực
hiện


17

1

2
3

4

5

Đánh giá nguyên liệu tinh dầu Gừng từ nhà sản
xuất.
Khảo sát tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu
Gừng.

08-09/2018

09-10/2018

Xây dựng và khảo sát quy trình định lượng tinh 10/2018dầu Gừng.
Xây dựng công thức bào chế gel nhũ tương
chứa tinh dầu Gừng có hoạt tính kháng khuẩn.

Viết luận văn và báo cáo.

02/2019

02-05/2019

05-07/2019

Địa điểm thực hiện đề tài
Bộ môn Bào chế
6. DỰ TRÙ KINH PHÍ
Khoảng 50.000.000 đồng

7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Bộ Y tế (2017), Dược điển Việt Nam V, Nxb Y Học, Hà Nội, tr.1179,
phụ lục 1.12, PL-6.1, PL-6.3, PL-6.4, PL-7.2, PL-7.3, PL-7.4, PL-12.8.


18

2. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng
Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Dung Mai,
Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004). Cây
thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật,
tập I, trang 613-618.
3. Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốcViệt Nam. Nhà xuất
bản Y học.
4. Hồ Thị Nguyệt Linh, Lê Văn Mười (2014). “Khảo sát thành phần hóa
học của tinh dầu trong củ gừng (Zingiber officinale Roscoe) trồng tại
thành phố bạc liêu”. Tạp chí Khoa học Cần Thơ, S. 2 (2014).
5. Huỳnh Văn Hóa (2010). “Thuốc mỡ”, Bào chế và sinh dược học 2,
NXB Y học, TPHCM, tr.64-119.
6. Lê Huy Chính (2007). Vi sinh Y học, Nhà xuất bản y học, pp. 133-141.
7. Lê Thị Thu Vân (2010). “Hỗn dịch-Nhũ tương”, Bào chế và sinh dược
học 2, NXB Y học, TPHCM, tr.7-48.
8. Nguyễn Khang, Phạm Văn Khiển (2001). Khai thác tinh dầu làm thuốc
và xuất khẩu. NXB Y học, Hà Nội.
9. Nguyễn Thanh Huệ, Trịnh Minh Khang, Nguyễn Tấn Hoàng Sơn,
Nguyễn Thị Bích Thuyền (2012). “Khảo sát thành phần hóa học và
hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu gừng (Zingiber officinale
Roscoe) và tinh dầu tiêu (Piper nigrum L.")”. Trường đại học Cần Thơ,
Tạp chí Khoa học 2012:21a, tr 139-143.


19

10.Nguyễn Thanh Toàn (2012). “Khảo sát thành phần hóa học của củ
gừng thu hái tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam”. Luận văn tốt
nghiệp ngành Tự nhiên, Đại học sư phạm Đà Nẵng, Việt Nam.
11.Nguyễn Vũ Giang Bắc (2012). “Nghiên cứu bào chế gel nhũ tương trị
nấm da chứa dầu Riềng và tinh dầu Hương nhu trắng”, Luận văn thạc
sĩ, Đại học Y Dược TPHCM, TPHCM.
12.Phạm Công Chính, “Nhận xét tình hình bệnh nhân da liễu tại phòng
khám bệnh viện trường đại học y- dược Thái Nguyên”, Tạp chí KHOA
HỌC & CÔNG NGHỆ 115(01), tr. 169 – 173.
13.Trần Mộng Tố Tâm (2016), “Khảo sát tính kháng khuẩn, kháng nấm
của phối hợp Clotrimazol với tinh dầu và xây dựng quy trình định
lượng hoạt chất trong chế phẩm gel”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Y
Dược TPHCM, TPHCM.
14.Võ Thị Bạch Huệ, Đặng Văn Hoài, Phan Văn Hồ Nam (2010). “So
sánh thành phần tinh dầu của gừng dại và gừng trâu thuộc chi
Zingiber, họ Gừng (Gingiberaceae) bằng phương pháp GC – MS”. Tạp
chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 14. 1, tr. 16 – 21.
Tài liệu tiếng nước ngoài
15.Albena Stoyanova, Angel Konakchiev, Stanka Damyanova, Ivanka
Stoilova & Phan Thi Suu (2013). “Composition and Antimicrobial
Activity of Ginger Essential Oil from Vietnam”, Journal of Essential
Oil Bearing Plants, 9:1, pp. 93-98.
16.Bellik, Y. (2014). “Total antioxidant activity and antimicrobial potency
of the essential oil and oleoresin of Zingiber officinale Roscoe”. Asian
Pacific Journal of Tropical Disease, 4(1), pp. 40–44.


20

17.Bremer P. et al. (2004). "Staphylococcus aureus", New Zealand
Institute for Crop and Food Research Limited. Private Bag. 4704, pp.
1-6.
18.Clyder M. Ofner III, Cathy M.Klech-Gelotte (2007). “Gel and Jellies”,
Encyclopedia of Pharmaceutical Technology 3rd edition, James
Swarbrick, Informa healthcare USA, Inc.,New York, 3, pp. 1875-1889.
19.Joshi Baibgav, et al. (2011). “Emulgel: a comprehensive review on the
resent avances in topical drug delivery”, International research journal
of Pharmacy, 2(11), pp. 66-70.
20.Mahesh, B. and S. Satish (2008). “Antimicrobial activity of some
important medicinal plant against plant and human pathogens”, World
journal of agricultural sciences, 4(5): p. 839-843.
21.Misbah Sultan, Haq Nawaz Bhatti, Zafar Iqbal (2005). “Chemical
Analysis of Essential Oil of Ginger (Zingiber officinale)”,Pakistan
Journal of Biological Sciences 8 (11), pp. 1576-1578.
22.Namrta, K. và B. Tech (2008). Inhibitory activity of ginger oil against
breast cancer cells. Kathmandu University.
23.Pradeep Kumar Sharma, Vijender Singh, Mohd. Ali (2015). “Chemical
Compositionand Antimicrobia lActivity of Fresh Rhizome Essential
Oil of Zingiber Ofcinale Roscoe”. Ind J of Expt. Biology.
24.Prashant Srivastava (2006), Exipients for Semisolid Formulation,
Exipient Development for Pharmaceutical, Biotechnology and Drug
delivery system. Ashok Katdare, Informa healthcare USA, Inc., New
York, pp.197-214.


21

25.Raymond C.rowne, Paul J. Sheskey, Marian E quinn (2009), Handbook
of Pharmaceutical Exipients 6th Edition, Pharmaceutical Press and
American Pharmacists Association, the United States of America,
pp.110-114, 150-151, 247-250, 474-475, 549-553, 592-594, 596-598,
754-755.
26.Sasidharan Indu, Menon A. Nirmala (2010), “Comparative chemical
composition and antimicrobial activity fresh and dry ginger oils
(Zingiber officinale Roscoe)”, International Journal of Current
Pharmaceutical Research, Vol 2 (4), pp. 40-43.
27.Saddiq, A & Khayyat, Suzan. (2010). “Chemical and antimicrobial
studies

of

monoterpene:

Citral”.

Pesticide

Biochemistry

and

Physiology. 98(1):89 · June 2010.
28.Van Beek Teris, A. Posthumus Maarten, P. Lelyveld Gerrit, V. Phiet,
Hoàng & T. Yen Bùi (1987). “Investigation of the essential oil of
Vietnamese ginger”. Phytochemistry. 26.
Trang web
29.http://www.botanicalauthentication.org/index.php/Zingiber_officinale_(
rhizome), ngày truy cập 08/06/2018.

Ý KIẾN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................


22

.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Tp Hồ Chí Minh, ngày ..... tháng ..... năm .....


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×