Tải bản đầy đủ

Công tác tư tưởng trong hoạch định đường lối cách mạng việt nam sau năm 1945

MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Công tác tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của Đảng, nó góp phần
hoạch định đường lối cách mạng cho từng giai đoạn hoạt động của Đảng; xây
dựng thế giới quan, hệ giá trị, làm chuẩn mực cho việc rèn luyện đạo đức, lối
sống cho đảng viên và cho toàn xã hội. Công tác tư tưởng cổ vũ đảng viên và
quần chúng đi đến hành động cách mạng; tạo ra sự thống nhất về tư tưởng của
giai cấp, dân tộc và xã hội. Khi giành được chính quyền, nó trở thành bộ phận
cấu thành của tổ chức và hoạt động Nhà nước nhằm xây dựng, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ khởi đầu cho hoạt động tư tưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi được thành lập, Đảng đã lập ra bộ
máy tham mưu và các tác chiến của công tác tư tưởng. Từ trong những ngày
đầu hoạt động tư tưởng của mình. Đảng đã hết sức chú trọng đến công tác
tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Đồng thời tiến hành hoạt động tuyên
truyền, cổ động truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm và khẩu
hiệu chiến tranh của Đảng rộng khắp trong toàn xã hội. Đảng cùng chăm lo
việc học tập lý luận ngay trong nhà tù của đế quốc, cử người đi đào tạo ở
nước ngoài, thành lập hệ thống trường lớp để đào tạo, huấn luyện. Chính
những hoạt động tư tưởng chủ động, tích cực, đa dạng phong phú và sâu rộng
của Đảng là một trong những nguyên nhân rất quan trọng làm nên những

thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong đấu tranh giành chính quyền, trong các
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ba mươi năm sắp qua đi song đại thắng mùa xuân năm 1975 như vẫn
đang rực sáng có được chiến thắng lẫy lừng, chiến công vĩ đại đó của dân tộc
ta phải kể đến một đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với
đặc điểm của cách mạng Việt Nam. Trong đó công tác tư tưởng của Đảng
1


đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối này. Để hiểu rõ
thêm về vai trò của công tác tư tưởng trong việc xác định đường lối cách
mạng trong kháng chiến chống Mỹ, em xin được chọn đề tài “Công tác tư
tưởng trong hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam sau năm 1945” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích: Nâng cao nhận thức về vai trò của công tác tư tưởng mà
trước hết là công tác lý luận trong xác định đường lối của cách mạng Việt
Nam sau năm 1954.
- Nhiệm vụ:
+ Làm sáng rõ tình hình cách mạng Việt Nam cũng như tình hình quốc
tế trong thời kỳ sau 1954 bước sang kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
nhân dân ta. Từ đó thấy được nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng và công tác tư
tưởng lúc này: hoạch định một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với
cách mạng.
+ Làm sáng rõ nội dung hoạt động công tác tư tưởng trong đường lối
cách mạng Việt Nam. Về những giá trị lý luận trong đường lối đó.
+ Kết luận chung về công tác tư tưởng và ý nghĩa của việc xác định
đường lối cách mạng sau năm 1954 của Đảng ta.
III. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận: Trong quá trình thực hiện đề tài dựa trên cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng như phương pháp phân tích, tổng hợp, logic và lịch sử, phương
pháp nghiên cứu tài liệu.

2


CHƯƠNG 1. NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG


HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU NĂM
1954
1. Hoàn cảnh lịch sử.
1.1. Tình hình trong nước.
Sau 9 năm kháng chiến quân và dân ta đã giành được những thắng lợi
lớn. Pháp càng đánh càng thua, phải dựa vào Mỹ, biến thành kẻ đánh thuê cho
Mỹ. Chính phủ Pháp buộc phải thương lượng với ta để chấm dứt chiến tranh.
Pháp thất bạii tại Điện Biên Phủ năm 1954 Hiệp định Giơnever về Đông
Dương được ký kết.
Mỹ là nước tham gia Hội nghị Giơnever năm 1954 về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương nhưng ra sức phá hoại HNnhằm thực
hiện âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh. Mỹ không chịu ký vào bản
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị. Thất bại một bước nhưng mỹ không từ bỏ
âm mưu xâm lược Đông Dương thực hiện “lấp chỗ trống” nhảy vào thế chân
Pháp.
Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt phong trào yêu nước và
cách mạng của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta,
biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ làm bàn
đạp tấn công miền Bắc, lập phòng tuyến ngăn chặn không cho chủ nghĩa cộng
sản tràn xuống Đông Nam Á, bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa.
Lúc này, Hội nghị Trung ương nhận định Mỹ là kẻ thù chính của nhân
dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới và đang trở thành kẻ thù chính, trưc
tiếp của nhân dân ta, “mọi việc của nhân ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”, và
như vậy.
Mỹ thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ, chính quyền Mỹ đã dung
lượng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức phá hoại việc thực hiện
Giơnever, đàn áp khốc liệt, dã man phong trào yêu nước và cách mạng của
nhân dân miền Nam.

3


Dân tộc Việt Nam đứng trước thách thức nghiêm trọng: đất nước bị
chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị đối lập nhau: miền Bắc được
hoàn toàn giải phóng nhưng sự nghiệp thống nhất nước nhà chưa thực hiện
được. Chế độ thực dân cũ của thực dân Pháp đã chấm dứt nhưng chế độ thực
dân mới của đế quốc Mỹ lại thay thế thống trị miền Nam nước ta. Đến lúc
này: “Nước Việt Nam ta trở thành nơi tập trung mâu thuẫn của cả thế giới và
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trở thành cuộc đọ sức
điển hình, thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách
mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo
vệ tổ quốc mang tính chất thời đại sâu sắc”.
1.2. Tình hình quốc tế.
Lúc này tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó
khăn lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam.
* Thuận lợi.
Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn
mạnh về kinh tế và quốc phòng.
Phong trào giải phóng dân tộc nổi dậy đều khắp 3 châu: Á, Phi, Mỹ –
Latinh làm sụpd dổi căn bản chủ nghĩa thực dân cũ và bước đầu đẩy chủ
nghĩa thực dân mới và cuộc khủng hoảng.
Sự lớn mạnh của Liên Xô, của hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với sự
giúp đỡ hợp tác xã của hệ thống ấy và sự trưởng thành của phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới đã tạo nên một sức mạnh mới về thế và lực cho
cách mạng Việt Nam.
Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta cùng anh em
bè bạn, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nhiệt
liệt ủng hộ.
* Khó khăn.
Sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại hiện tại trong Liên Xô cho rằng: chủ
nghĩa đế quốc luôn yêu chuộng hòa bình, nó luôn tồn tại và phát triển, chủ
4


nghĩa đế quốc có rất nhiều vũ khí hạt nhân và tiềm lực quân sự lớn mạnh do
vậy không nên gây chiến tranh với đế quốc. Chủ nghĩa xét lại hiện đại đưa ra
lời khuyện: “Hãy chung sống hòa bình với đế quốc, thi đua hòa bình với đế
quốc và quá độ hòa bình với đế quốc”, duy trì hòa bình bằng bất kỳ giá nào và
chủ nghĩa tư bản sẽ chuyển biến một cách tự nhiên để đi đến chủ nghĩa xã hội
mà không càn phải có chiến tranh.
Khuên chúng ta: Cứ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và khi nào
có chính sách hòa bình, ổn định thì miền Nam sẽ được hòa bình. Như vậy là
thủ tiêu cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Đã ảnh hưởng trực tiếp đến cách
mạng Việt Nam và chi phối tới quan điểm của Đảng ta.
Bên cạnh đó là sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội Mao Trạch Đông:
Quan điểm của chủ nghĩa cơ hội Mao Trạch Đông là sợ Mỹ, không dám đấu
tranh chống Mỹ, chỉ biết lợi ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích
chung. Trung Quốc khuyên Việt Nam: “Thế giới có cán chổi rồi mà không
dám quét Đài Loan, Việt Nam có cây chổi ngắn thì không thể nào giải phóng
được miền Nam Việt Nam”, và con đường của cách mạng Việt Nam lúc này là
trường kỳ mai phục.
Mặt khác, lúc này trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa lại xuát hiện sự bất
đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc: Sự mất đoàn kết, phê phán lẫn nhau, khác
nhau về quan điểm, đường lối đã gây ra cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và
Liên Xô đã làm suy yếu phong trào cộng sản ở thế giới và ảnh hưởng đến các
Đảng trong đó cóvn.
Đế quốc Mỹ đã lợi dụng điều này để khai thác và chi phối vào tình hình
2. Nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng và công tác tư tưởng trong xác
định đường lối cách mạng Việt Nam sau năm 1954.
Trước bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, đã đặt ra cho Đảng ta
vấn đề: Con đường tiến lên cách mạng của Việt Nam lúc này là con đường
nào để đảm bảo tính khoa học và chính xác nhất. Đảng và nhân dân ta phải
5


đối phó với kẻ thù như thế nào để kiên trì con đường cách mạng của mình đưa
cách mạng đi đến thắng lợi, thống nhất đất nước, giải phóng miền Nam.
Trong nội bộ Đảng ta lúc này cũng có nhiều ý kiến khác nhau về con
đường đi của cách mạng Việt Nam.
Ý kiến 1: Cho rằng Việt Nam nên tập trung lực lượng làm cách mạng
xã hội ở miền Bắc, sau đó sẽ dồn lực lượng cho cách mạng ở miền Nam.
Ý kiến 2: Việt Nam nên tập trung lực lượng để giải phóng miền Nam,
sau đó mới làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Ý kiến 3: Miền Nam và miền Bắc có nhiệm vụ cách mạng riêng của
mỗi miền và miền nào làm cách mạng ở miền đó, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau.
Như vậy, việc tìm ra được giải phóng đúng đắn, con đường đi đúng đắn
cho cách mạng Việt Nam lúc này của Đảng ta là thử thách, con đường đi đúng
đắn của cách mạng Việt Nam lúc này của Đảng ta là thử thách và khó khăn
lớn nhất của Đảng. Tìm được đường lối cách mạng đúng không những đưa
cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi mà còn tìm được sự ủng hộ của các
nước xã hội chủ nghĩa anh em Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân yêu chuộng
hòa bình trên thế giới.
Trong chặng đường đi tới, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng có chờ
cách mạng miền Nam hoàn thành hay chuyển sang cách mạng xã hội chủ
nghĩa? Miền nam có trường kỳ mai phục, chịu chia cắt lâu dài hay tiếp tục
ngay cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên giải phóng hoàn toàn? Cách mạng
miền Nam cách mạng Việt Nam tiến lên bằng con đường thi đua hòa bình hay
con đường cách mạng bạo lực? Con đường giải phóng miền Nam như thế nào
để giữ vững được hòa bình ở miền Bắc để không lan thành chiến tranh khu
vực hoặc chiến tranh thế giới. Đây là những vấn đề về xác định nhiệm vụ
chiến lược, về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức đặt ra cho Đảng và
nhân dân ta. Công tác tư tưởng phải góp phần vào việc hoạch định đường lối
của cách mạng nước ta ở mỗi miền trong tình hình mới.
6


Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, trải qua một quá trình tìm tòi,
thử nghiệm, đúc rút kinh nghiệm lịch sử, thăm dò dư luận ngòi nước. Đảng ta
đã hoạch định được chiến lược cho cả nước trong giai đoạn mới. Đường lối
đó được thể hiện ở Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng (Họp tháng 1/1959) về xác định đường lối và phương pháp cách
mạng miền Nam. Và chính thức được xác định tại Đại hội toàn quốc lần thứ
III của Đảng (tháng 9/1960).

7


CHƯƠNG 2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU 1954
2.1. Phương hướng tư tưởng của Đảng.
- Để xác định đúng đắn con đường đi cho cách mạng Việt Nam. Đảng
ta đã đứng vững trên những lập trường quan điểm, tư tưởng sau.
Một là, phải độc lập tự chủ để tự tìm ra con đường đi lên cho cách
mạng mà không lệ thuộc vào bên nogài. Quyết tâm giải phóng miền Nam đi
đến thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà. Đây là tư tưởng lớn,
đồng thời cũng là quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc chiến
chống đế quốc Mỹ.
Hai là, Đảng ta nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định
vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam có sáng
tạo. Bảo vệ những nguyên lý trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin trước sự
bóp méo, xuyên tạc của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại; kiên định chống
lại tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại trong phong trào cách
mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.
Ba là, chúng ta xác định đường lối của cách mạng Việt Nam cũng dựa
trên sự tổng kết kinh nghiệm của chính lịch sử cách mạng Việt Nam: từ thành
công của cách mạng tháng Tám, thắng lợi lẫy lừng của kháng chiến chống
thực dân Pháp “chính năm làm một Điện Biên, nên cành hoa đỏ nên thiên sử
vàng” - Đó là những vấn đề về chiến lược, sách lược và phương pháp cách
mạng. Là kết luận của quá trình cách mạng tính chân lý “Trong thời đại hiện
nay, một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng nếu biết đoàn kết đấu tranh và có sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng cộng sản thì có thể đánh thắng bất kỳ kẻ thù xâm lược
nào”.
Đồng thời là việc học tập, rút kinh nghiệm từ các Đảng Cộng sản anh
em như: TX, Liên Xô và đặc biệt là Triều Tiên đã cho Đảng ta một bài học
trực tiếp về đấu tranh cách mạng trong thời kỳ này.
8


Bốn là, Đảng ta xác định việc xác định đường lối cách mạng Việt Nam
lúc này phải dựa trên việc đánh giá tình hình thực tiễn của cách mạng Việt
Nam và tình hình thế giới phải so sánh lực lượng giữa ta và địch trên cả thế và
lực.
Lúc này trên thế giới, lực lượng cách mạng mạnh hơn lực lượng phản
cách mạng: phe xã hội chủ nghĩa là lực lượng quyết định chiều hướng phát
triển lịch sử của loài người và coi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con
đường tất yếu. Trên thế giới, 3 dòng thác cách mạng (chủ nghĩa xã hội, phong
trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình dân chủ) cũng đang tập trung tấn
công vào chủ nghĩa tư bản. Những điều kiện đó hết sức thuận lợi cho cách
mạng của ta lúc này.
Mặt khác, Đảng ta cũng nhận thấy nhân dân Việt Nam có đủ khả năng
giải phóng được đất nước, có đủ khả năng bảo vệ độc lập dân tộc. Dù đế quốc
Mỹ có tiềm lực mạnh vè kinh tế và quốc phòng song sức mạnh đó của Mỹ
cũng chỉ có giới hạn. Mỹ muốn làm bá chủ thế giới thì trong cuộc chiến của
mình các căn cứ quân sự của Mỹ phải rải khắp nơi trên thế giới. Do vậy Mỹ
sẽ không thể dễ dàng nhanh chóng huy động sức mạnh cùng một lúc để đánh
đổ Việt Nam.
2.2. Đường nối cách mạng Việt Nam với Nghị quyết 15 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959).
2.2.1. Nội dung đường lối.
Tháng 1/1959 Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng đã thông qua nghị quyết về đường lối cách mạng miền Nam.
Sau khi phân tích đặc điểm tình hình, mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã
hội Việt Nam và miền Nam từ sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp,
Hội nghị xác định cách mạng Việt Nam lúc này có 2 nhiệm vụ chiến lược
song song: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc,
dân chủ ở miền Nam. Hai cuộc cách mạng đó có quan hệ hữu cơ với nhau,
9


trong đó nhiệm vụ giải phóng miền Nam là nhiệm vụ chung, vì lợi ích và yêu
cầu chung của nhân dân cả nước.
Hội nghị chỉ rõ bản chất của cách mạng miền Nam là giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và
người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh. Quá trình thực hiện nhiệm vụ cơ bản đó phải tiến
hành từ hình thức thấp tới hình thức cao, đẩy lùi chính quyền được từng bước.
Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam: đoàn kết toàn dân đánh
đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm; thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc
dân chủ ở miền Nam; thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ và giữ vững
hòa bình. Nghị quyết chỉ rõ: con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền
Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; tiến hành bằng phương
pháp bạo lực cách mạng, đó là dựa vào lực lượng chính trị, sức mạnh của
quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nổi dậy khởi nghĩa
đồng loạt để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, thành lập chính
quyền cách mạng nhân dân…
Nghị quyết cũng dự kiến cả khả năng cuộc khởi nghĩa có thể chuyển
thành đấu tranh vũ trang lâu dài, gian khổ nhưng nhân dân ta nhất định thắng
lợi.
2.2.2. Nội dung hoạt động công tác tư tưởng.
Đối với công tác tư tưởng, nghị quyết Trung ương chỉ rõ và nhấn mạnh:
Công tác tư tưởng phải được đặc biệt coi trọng, nâng cao không ngừng
trình độ tư tưởng và trìnhd dộ chính trị của đảng viên, bảo đảm sự đoàn kết
nhất trí và sự trong sạch của hàng ngũ Đảng. Phải giáo dục và rèn luyện cho
nền đảng viên trở thành một chiến sỹ kiên cường, bất khuất, luôn luôn nắm
vững và biết chủ động vận dụng đường lối, chính sách của Đảng luôn luôn
anh dũng đấu tranh chống kẻ thù và sẵn sàng hy sinh vì cách mạng, luôn luôn
liên hệ mật thiết với quần chúng, tin tưởng sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của
cách mạng.

10


Tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đã tỏa về các địa
phương bằng nhiều con đường. Nghị quyết về tới cơ sở, đi vào quần chúng
đúng lúc cơ quan đang ở vào tình thế muốn sống phải vùng dậy và đang khao
khát mong đợi đường lối của Đảng. Cán bộ và quần chúng ở cơ sở hiểu nghị
quyết với tinh thần “Đảng cho đánh rồi!” và họ đã sáng tạo ra nhiều cách
đánh bằng những phương tiện có trong tya.
2.3. Giá trị lý luận trong nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là một nghị quyết
lịch sử làm xoay chuyển tình thế, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến
lên. Nghị quyết đã phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu
cầu phát triển của cách mạng miền Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của
đông đảo cán bộ và đồng bào miền Nam. Mặc dù có chậm và chưa đầy đủ so
với sự phát triển của tình hình, nhưng nghị quyết vẫn bắt kịp thời gian, có tác
dụng động viên, tổ chức nhân dân miền Nam nhất tề nổi dậy: từ những cuộc
nổi dậy lẻ tẻ, đến cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ Mỏ Cày (Bến Tre) nhanh chóng
lan rộng khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên, trở thành một cao trào “Đồng Khởi” rộng lớn toàn miền. Từ trong
cao trào cách mạng, mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
(1960) là một sự kiện quan trọng của cách mạng miền Nam.
Thắng lợi đó được khẳng định trong thực tế tính đúng đắn của đường
lối chiến lược và sự chỉ đạo chếin lược cách mạng của Đảng trong bước mở
đầu sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đó là sự sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù
mới của dân tộc; sớm vạch ra một cách đúng đắn hai chiến lược cách mạng
phải tiến hành đồng thời trên hai miền, khẩn trương ổn định và củng cố miền
Bắc làm hậu phương cho cách mạng cả nước.
Với Nghị quyết 15, Đảng và nhân dân ta đã chấp nhận trực tiếp đương
đầu với đế quốc Mỹ – một đế quốc có sức mạnh lớn nhất thế giới về kinh tế
và quân sự.

11


Nghị quyết cũng đã vượt lên trên quan điểm của chủ nghĩa xét lại, chủ
nghĩa cơ hội của hai Đảng lớn, không lệ thuộc vào Đảng cộng sản Liên Xô và
Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ đã khẳng định sự tự lực, tự cường của
cách mạng Việt Nam.
Trong những năm 1955 – 1958 do Đảng ta đã chậm chỉ đạo chuyển
hướng đấu tranh chỉ nhấn mạnh đấu tranh chính trị khi kẻ thù đã dùng bạo lực
phản cách mạng, gây tổn thất cho lực lượng cách mạng. Trước hoàn cảnh ấy,
Đảng ta vẫn đặt vấn đề giành chính quyền mà không đề ra giai đoạn khắc
phục lại phong trào - đã chứng tỏ quyết định trong đường lối cách mạng của
Nghị quyết 15 là quyết định táo bạo, sáng suốt và chính xác của Đảng ta.
Nghị quyết đã chứng tỏ quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng
ta trong việc vận dụng học thuyết Mác – Lênin và kinh nghiệm các nước anh
em, kinh nghiệm cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp vào điều
kiện cụ thể đâtá nước ta sau Hiệp định Giơnever.
2.3. Đường lối cách mạng Việt Nam với Đại hội toàn quốc lần thứ
III của Đảng (tháng 9/1960).
2.3.1. Nội dung đường lối.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ra đời khi cách mạng
nước ta đứng trước thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng
trong giai đoạn mình. Như vậy, đến đây cách mạng Việt Nam cũng như cách
mạng mỗi miền đã chính thức **** đường đi của mình.
Với đặc điểm tình hình đất nước bị tạm chia cắt làm hai miền với hai
chế độ chính trị – xã hội khác nhau. Do đó cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn này có hai chiến lược khác nhau, tiến hành đồng thời ở hai miền và do
một Đảng thống nhất lãnh đạo.
Ở miền Bắc, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản đã
hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa,
xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh, và hậu phương cho cả nước.
12


Ở miền Namm, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ
và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà.
Trong hai chiến lược khác nhau đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng
Việt Nam mà đối với sự thống nhất nước nhà. Còn cuộc cách mạng ở miền
Nam có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Đảng ta nhận định rõ: Hai chiến lược cách mạng khác nhau tiến hành
đồng thời ở hai miền nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau
cùng phát triển và đều hướng vào mục tiêu chung trước mắt của cả nước là:
thực hiện hòa bình thốngnhất Tổ quốc. Đường lối tiến hành đồng thời và kết
hợp chặt chẽ hai chiến lợc cách mạng khác nhau ở hai miền nhằm vào một
mục tiêu chung của cả nước là giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
2.3.2. Nội dung hoạt động công tác tư tưởng.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đi đến với
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế, phải đẩy mạnh cộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật. Mục tiêu của cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa về tư tưởng là làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin
chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nước ta và trở thành hệ tư
tưởng của toàn dân, trên cơ sở đó àm xây dựng đạo đức mới của nhân dân ta.
2.3.3. Giá trị lý luận trong Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III của Đảng (họp tháng 9/1960) đã
chính thức xác định con đường đi lên cách mạng của dân tộc Việt Nam trong
giai đoạn mới – giai doạn đầy thử thách của dân tộc Việt Nam trước một kẻ
thù hùng mạnh nhất thế giới. Nghị quyết của Đại hội III là nguồn sáng soi
đường cho công cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta trong thời kỳ mới,
là phương hướng cơ bản của công tác tư tưởng trong bước phát triển của cách
13


mạng. Với việc vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin, Đảng ta đã xác định một loạt những vấn đề của đường lối cách
mạng Việt Nam lúc này. Đường lối đó hết sức phù hợp với đặc điểm tình hình
thực tiễn đất nước ta, với xã hội và thời điểm lúc bấy giờ. Đồng thời cũng đã
đáp ứng được đúng nguyện vọng của nhân dân cả nước ta nói chung.
Trong việc xác định đường lối cách mạng của Đnảg ta, cũng đã phản
ánh tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong lý luận và chính trị.
Trước những tác động trực tiếp của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại,
Đảng ta đã xác định rõ phương hướng tư tưởng của mình và giữ vững định
hướng tư tưởng đó. Đoàn kế toàn dân, dựa vào sức mình là chính.
Đường lối cách mạng Việt Nam được xác định tại Đại hội III đã đánh
dấu một bước trưởng thành về lý luận cũng như sự phát triển vững vàng về
bản lĩnh chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam.

14


Chương 3. KẾT LUẬN CHUNG
3.1. Công tác tư tưởng trong việc hoạch định đường lối cách mạng
Việt Nam sau năm 1954.
Trong 21 năm chống Mỹ cứu nước và đưa miền Bắc quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại
của dân tộc mà trước hết hết đó là vai trò của công tác tư tưởng trong việc
hoạch định đường lối cho cách mạng Việt Nam. Công tác tư tưởng, đặc biệt là
công tác lý luận lúc này cùng với Đảng ta đã tìm ra được con đường đi phù
hợp với thời đại, đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong
cả nước; xứng đáng với thắng lợi vĩ đại của giai đoạn cách mạng, mang tầm
vóc, ý nghãi thời đại và có tính quốc tế sâu sắc.
Hoạt động công tác tư tưởng với trình độ cao, nhất là công tác lý luận
đã phát huy sức mạnh của mình để đánh bại tư tưởng chủ nghĩa chống cộng
của đế quốc Mỹ huy động ở miền Nam Việt Nam. Đảng ta trên cơ sở sở năng
lực độc lập, tự chủ trong tư duy xác định đường lối đúng đắn cho từng miền
và cả nước. Đường lối đúng đắn đó đã được thể hiện ở thắng lợi rực rỡ của
mùa xuân năm 1975, được cả thế giới ca ngợi, đường lối đúng đắn đó cũng đã
chứng minh thắng lợi của trí tuệ con người Việt Nam đánh thắng những máy
móc siêu hiện đại của đế quốc Mỹ.
Công tác tư tưởng trong việc hoạch định đường lối cách mạng Việt
Nam sau năm 1954 cũng đã thể hiện được bản chất của cách mạng và khoa
học, trình độ trí tuệ và năng lực tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta
sinh ra trong một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thành phần công
nhân ít, trình độ khoa học sản xuất kém. Vì vậy xây dựng Đảng Mác – Lênin
vững mạnh là vấn đề hết sức khó khăn, nhiều thử thách đối với Đảng ta. Mặt
khác trong quá trình hoạch định đường lối cách mạng. Đảng ta ngoài đương
đầu với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, còn phải đương đầu với chủ nghĩa xét lại, chủ
nghĩa cơ hội. Việc giữ vững quan điểm, lập trường của mình là một yếu tố
15


hàng đầu quan trọng để Đảng ta xem xét, giải quyết được một cách khách
quan và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho mình.
Công tác tư tưởng của Đảng trong xác định đường lối cách mạng cũng
là sự đấu tranh nội bộ trong Đảng, loại trừ ảnh hưởng những tư tưởng tiêu cực
của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại trong Đảng, bảo vệ sự thống nhất tư
tưởng, làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ tình hình mới và
nhiệm vụ mới, nhận định rõ tính chất và nội dung thay đổi của nhiệm vụ trong
giai đoạn mới để đi đến thống nhất hành động trong Đảng. Đây là một công
tác then chốt đã quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam và chứng minh
cho sự đúng đắn trong công tác tư tưởng của Đảng.
Công tác tư tưởng trong hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam sau
năm 1954 cũng đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam, đúng như
phương hướng tư tưởng mà Đảng ta đứng vững để xây dựng đường lối cách
mạng cho mình.
3.2. Ý nghĩa của việc xác định đường lối cách mạng.
Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm
cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã động viên và tập hợp được lực lượng, sức
mạnh của chủ nghĩa xã hội với sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước truyền
thống của dân tộc, sức mạnh của hậu phương với sức mạnh của tiền tuyến, tạo
nên một sức mạnh tổng hợp của cả nước cùng đứng lên đánh Mỹ và thắng
Mỹ. với đường lối ấy, Đảng ta đã kết hợp được lợi ích cơ bản của dân tộc với
những mục tiêu của thời đại là hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình
trên thế giới đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ, tạo thành một mặt trận quốc tế
rộng rãi đứng về phía nhân dân Việt Nam chống xâm lược.
Trải qua hai mốt năm chiến đấu, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược
thực dân mới, với quy mô lớn của tên đế quốc giàu mạnh và hung bạo nhất
thế kỷ này, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
16


Thắng lợi đó của nhân dân ta “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như
một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử
thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan
trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×