Tải bản đầy đủ

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh vĩnh phúc

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-—_--_0oo___--—

NGUYỄN THỊ MAI ANH

QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO Sự NGHIỆP GIÁO DỤC
TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-—_--_0oo___--—

NGUYỄN THỊ MAI ANH


QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGUYỆT

XÁC NHẬN CỦA_
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình này được hoàn thành với sự giúp
đỡ và chỉ bảo tận tình của các Thầy cô giáo, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy,
Cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt kiến
thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc PGS.TS.Nguyễn Thị Nguyệt - Người trực tiếp
chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc
sĩ.
Nhân dịp này cho tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể đội ngũ cán bộ, công
chức đang công tác trong ngành Giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu để hoàn thành Luận văn.


Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.


Xin trân trọng cảm ơn!



4.1.1.


4.1.

Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự

Danh mục tài liệu tham khảo

89


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

STT
1
2
3
4
5

Bảng
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6

6
7
8
9

10

Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9

Bảng 3.10

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

CNTT

Công nghệ thông tin

2

GD

Giáo dục

3

HĐND

Hội đồng nhân dân
Nội dung
Trang
4
KBNN
Kho bạc nhà nước
Số lượng giáo viên tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015
40
5
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
Chất lượng giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2014 - 2015
40
6
NSNN
Ngân sách nhà nước
Chất lượng các kỳ thi tốt nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 2012 - 2015
41
7
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
Tổng hợp số liệu về sự phát triển các cấp học tỉnh Vĩnh Phúc
42
8
TDTT
Thể dục thể thao
Dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
46
9
THCS
Trung học cơ sở
Hình
Nội dung
Trang
50
Số chi ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc cho Giáo dục theo đối tượng sử
10
THPT
Trung học phổ thông
1dụngHình
3.1
47
giai đoạn 2011 - 2015
Dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh
11
UBND
Ủy ban nhân dân
Khoản mục Chi thanh toán cho cá nhân năm 2015
51
Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015
12
NSĐP
Ngân sách địa phương
54
2Cơ cấu
Hìnhchi
3.2thường xuyên cho hoạt động chuyên môn
48
Dự toán chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục - Đào tạo tỉnh
Phúc
cấpcủa
họccác
(triệu
đồng)
Phân bổ chỉ tiêuVĩnh
nguồn
thu theo
học phí
trường
học
57
3 Hình 3.3
Cơ cấu chi thanh toán cho cá nhân theo cấp học năm 2015
Quan hệ giữa NSNN cấp chi thường xuyên cho giáo dục và

57

4nguồn
Hình
học3.4
phí công lập giai đoạn 2011 - 2015 tỉnh Vĩnh Phúc
Cơ cấu chi thanh toán cho cá nhân theo khoản mục năm 2015
11

12

Quyết toán NSNN chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục tỉnh
Bảng 3.11 5 Hình 3.5
59

cấu
chi
thường
xuyên
cho
hoạt
động
chuyên
môn
năm 2015
Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015
Chênh lệch tỷ lệ giữa dự toán và quyết toán chi thường xuyên
6 Hình 3.6
Cơ cấugiáo
chi thường
Bảng 3.12 NSNN cho sự nghiệp
60chữa năm
dục tỉnhxuyên
Vĩnh cho
Phúchoạt
giaiđộng
đoạnmua
2011sắm
- sửa
2015
7 Hình 3.7

13

52

2015

Chênh lệch tỷ lệ giữa dự toán và quyết toán chi thường xuyên
Công tác thanh tra, kiểm tra trong sử dụng
8 chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
Bảng 3.13
62 2011 NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2015

53

55

55

61


MỞ ĐẦU
r
Ir r i f_____________1

r

_

_ Ạ ______i l » Ạ i______________* ? _

- * Ạ i > • ___________ !

• A . _________ F_ __

. Tính cap thiết của đê tài nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, một trong
những chiến lược quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới là chiến lược
phát triển con người. Nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định, nó vừa là mục tiêu,
vừa là động lực đồng thời cũng là nguồn lực năng động nhất trong mọi nguồn lực của sự
phát triển. Để phát huy hết vai trò và ưu điểm của nguồn lực này, việc chăm sóc bồi dưỡng
nâng cao chất lượng đối với con người là điều rất cần thiết, trong đó, sức khoẻ của con
người được ưu tiên hơn cả, bởi vì có trí tuệ, con người mới có thể học tập, nghiên cứu, lao
động... để tạo ra những sản phẩm có ích phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, giáo dục - Đào tạo có vị trí quan trọng đặc biệt trong sự
phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vấn đề giáo dục là vấn đề của mọi thời đại,
mọi quốc gia dân tộc.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp đổi
mới đất nước. Luật giáo dục ban hành năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã quy định
rõ nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục hiện nay bao gồm nguồn kinh phí do ngân sách Nhà
nước cấp và nguồn kinh phí khác nhưng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước phải chiếm vị
trí quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn so với tổng kinh phí đầu tư cho giáo dục. Vì vậy, hàng
năm nguồn đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước là rất lớn và được tăng lên cùng
với sự phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đầu tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo thì Nhà
nước ta cũng cần phải coi trọng công tác quản lý ngân sách Nhà nước tránh việc sử dụng
nguồn vốn ngân sách không có hiệu quả, làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của Nhà nước.
Tuy nhiên, việc quản lý các khoản chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo còn nhiều bất
cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giáo dục đào tạo. Vì vậy, việc tìm ra những
điểm còn hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục, phát huy các kết quả đạt được trong
công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển.

9


Xuất phát từ chủ trương, chính sách trên mà Nhà nước ta dần có sự thay đổi về
phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với sự nghiệp thuộc lĩnh vực
GD&ĐT. Bước ngoặt đầu tiên là Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính
phủ, đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về tài chính giúp tháo gỡ cho đơn vị
những khó khăn vướng mắc trong điều hành ngân sách, tự chủ trong chi tiêu từ đó hạn chế
những tiêu cực lãng phí, làm tăng thu, tiết kiệm chi nâng cao thu nhập cho cán bộ, nhân
viên làm việc trong lĩnh vực giáo dục. Tiếp đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày
25/4/2006 của Chính phủ thay thế cho Nghị định 10/2002/ NĐ - CP theo đó đơn vị sự
nghiệp công lập không những được giao quyền tự chủ tài chính mà còn được trao quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía bắc, là khu vực chuyển
tiếp giữa miền núi và đồng bằng. Nguồn thu cân đối của tỉnh còn nhiều hạn chế. Tuy
nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của Giáo dục cũng như được quán triệt đầy đủ sâu
rộng về chủ trương chính sách của Nhà nước, trong thời gian vừa qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã
không ngừng tăng cường chi ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Chính vì thế, Giáo
dục của Tỉnh trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Việc sử dụng có hiệu
quả nguồn chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là vấn đề cần thiết và quan trọng.
Hàng năm, các trường được cấp phát kinh phí hoạt động từ nguồn chi thường
xuyên ngân sách dành cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Thực tế hiện nay, với cơ chế tự
chủ tài chính, tự chủ chi tiêu, công tác quản lý ngân sách tại các Trường trong tỉnh Vĩnh
Phúc còn nhiều bất cập, nguồn NSNN cấp hàng năm không đủ chi, nguồn thu nhỏ vì vậy
cân đối nguồn ngân sách càng trở nên cấp bách.
Theo đó, việc tập trung nghiên cứu làm rõ luận cứ, phương thức cũng như thực tiễn
quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục ở địa phương là rất cần thiết, cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn. Đó cũng chính là cơ sở để tác giả chọn đề tài “Quản lý
chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc” dưới sự
quản lý của Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Phúc làm đề tài nghiên cứu của mình.
Vậy câu hỏi nghiên cứu của luận văn là:

1
0


“Làm thế nào để có thể hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tỉnh Vĩnh Phúc?”
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
-

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá lý thuyết và phân tích thực trạng quản lý
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, luận văn đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh
Vĩnh Phúc.

-

Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chi thường xuyên NSNN và quản lý
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, quản lý thường xuyên NSNN và quản lý chi thường
xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
+ Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN và quản lý
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tỉnh Vĩnh Phúc.

-

Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Phạm vi thời gian: phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2011 - 2015; đề xuất giải pháp hoàn thiện
quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020.

4. Những đóng góp khoa học của đề tài
-

Khái quát được thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây.

-

Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN
cho sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay, góp phần vào việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

1
1


-

Đề tài nghiêm cứu nhằm giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp thực tế
trong việc quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tại tỉnh Vĩnh Phúc
trong thời gian tới, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành chi ngân
sách nhà nước hợp lý ở Vĩnh Phúc cũng như các địa phương khác, góp phần thúc đẩy
phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn và cả nước

5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng, danh mục
hình vẽ, nội dung luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi
thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp tỉnh.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp
giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015.
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà
nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO Sự
NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chi thường xuyên NSNN có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trưởng kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội và nó càng quan trọng hơn khi nguồn lực ngân sách bị
thiếu hụt nhưng đòi hỏi các khoản chi đó phải hiệu quả. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực quản
lý chi thường xuyên NSNN nói chung, chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục nói riêng cũng chứng minh rằng nếu quản lý chi NSNN không hiệu quả sẽ
dẫn đến nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn. Vì vậy, vấn đề quản lý chi thường xuyên
NSNN trở thành đối tượng nghiên cứu phổ biến trong các đề tài khoa học, các sách chuyên
khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ, ...Có thể tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên
quan đến đề tài chi thường xuyên NSNN trên các lĩnh vực như sau:

1
2


Trần Trọng Sơn (2012), Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên của ngân
sách nhà nước qua kho bạc nhà nước quận Cầu Giấy, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường
ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội. Qua đề tài, tác giả đã đi sâu nghiên cứu công tác chi
NSNN qua KBNN quận Cầu Giấy trên cơ sở tiếp cận công tác kiểm soát chi theo yêu cầu
đổi mới quản lý tài chính công và kiểm soát chi tiêu công của các nước tiên tiến nhằm
hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu
cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý NSNN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các
đơn vị sử dụng NSNN, đồng thời phù hợp xu thế hội nhập quốc tế.
Vũ Minh Thông (2012), Quản lý nguồn thu chi ngân sách nhà nước tại chính quyền cấp xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Tài chính
Ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống
quá các vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách cấp xã.
Tác giả nhận định các khoản thu của ngân sách cấp xã trên địa

1
3


bàn tỉnh Lâm Đồng ngày càng tăng, có sự chênh lệch lớn giữa các xã. Công tác chi ngân
sách còn nhiều bất cập: lập dự toán chi chưa bám sát thực tế, khó khăn trong cân đối ngân
sách. Tuy nhiên cách tiếp cận của tác giả chưa bao quát được thực tiễn của vấn đề cần
nghiên cứu.
Trần Văn Vạn (2014), Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện
Kinh Môn, Hải Dương, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc
gia Hà Nội. Tác giả tiếp cận từ chi NSNN đến chi thường xuyên NSNN, phân tích thực
trạng quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Kinh Môn. Từ đó, tác giả đã kết
luận việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN trên địa bàn Huyện
tương đối rõ ràng, tuy nhiên công tác quản lý chi thường xuyên vẫn còn hạn chế ở khâu lập
dự toán và quyết toán. Qua đó, tác giả đã kiến nghị 6 giải pháp chính để nâng cao công tác
quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Kinh Môn.
Nguyễn Ngọc Hải (2012), Hoàn thiện cơ chế chi NSNN cho việc cung ứng hàng hoá
công cộng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Học viện Tài chính. Đề tài đã hệ thống hoá và
làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về hàng hoá công cộng; vai trò của Nhà nước đối với
việc cung ứng hàng hoá công cộng và phương thức tổ chức cung ứng. Khẳng định tính tất
yếu của việc sử dụng công cụ chi NSNN cho việc cung ứng hàng hoá công cộng. Đồng
thời, luận văn cũng trình bày có hệ thống về cơ chế quản lý chi NSNN cho việc cung ứng
hàng hoá công cộng. Nghiên cứu xu hướng và kinh nghiệm ở các nước có nền kinh tế phát
triển về quản lý chi NSNN. Dựa trên các luận cứ khoa học đã nêu trên, luận văn đã trình
bày một cách khái quát thực trạng nhiệm vụ chi NSNN và cơ chế quản lý chi ngân sách
cho việc cung ứng hàng hoá công cộng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta
trong những năm vừa qua (trước và sau khi có Luật Ngân sách và quá trình hoàn thiện, sửa
đổi Luật). Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế
quản lý chi NSNN cho cho việc cung ứng hàng hóa công cộng.
Trần Quang Thái (2013), Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh
doanh Học viện Tài Chính. Đề tài đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận
về tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội; NSNN, chi và quản lý chi NSNN trong nền
kinh tế thị trường với những nội dung cụ thể: mục tiêu, nguyên tắc, phương thức của quản


lý chi NSNN; quản lý chi NSNN với việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Luận án cũng
đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội trên địa bàn tỉnh về hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý chi NSĐP.
Từ đó, rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế cùng với những nguyên nhân của
việc quản lý chi NSNN trong những năm vừa qua. Rút ra 5 bài học có thể nghiên cứu vận
dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt
nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đề xuất một hệ thống gồm 6 nhóm giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSĐP. Trong đó, giải pháp áp dụng quy trình lập dự
toán và phân bổ ngân sách trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng theo kết quả đầu
ra; hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách.
Nguyễn Thị Minh Thuần (2013), Đổi mới quản lý chi NSNN trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế Trường Đại học tài chính - Ngân hàng Hà
Nội. Đề tài đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về NSNN, chi và quản
lý chi NSNN trong nền kinh tế thị trường; mối quan hệ phân cấp quản lý kinh tế và phân
cấp ngân sách, cơ chế quản lý chi NSNN, sự cần thiết phải đổi mới phương thức chi. Đặc
biệt, khẳng định được vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường thông qua việc
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trên cơ sở trình bày định hướng về phát triển kinh tế - xã hội
và mục tiêu tài chính, ngân sách của Việt Nam đến 2020 và những năm tiếp theo cùng với
những quan điểm đổi mới chi NSNN, tác giả luận án đã nghiên cứu đề xuất một hệ thống
gồm 5 nhóm giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý chi NSNN. Trong đó, giải pháp đẩy
mạnh triển khai phương thức quản lý NSNN theo kết quả đầu ra với những điều kiện và
khả năng áp dụng là cần thiết và phù hợp với việc đổi mới công tác quản lý chi NSNN hiện
nay.
Nguyễn Đức Tuấn (2014), Quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh
Phúc, Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I. Luận
văn nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước và quản lý thu - chi ngân sách cấp huyện,
luận văn tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý thu - chi ngân sách cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và đề xuất hệ thống các


giải pháp căn bản nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý NSNN cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Hồ Thị Mai Hương (2015), Quản lý Nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh. Mục đích nghiên cứu cơ bản của Luận án là đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn
thiện quản lý Nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển mới kết cấu hạ thầng giao thông đô
thị Hà Nội trên sơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý Nhà nước về vốn đầu tư
phát triển kết cấu hạ thầng giao thông đô thị Hà Nội thời gian vừa qua.
Nguyễn Hải Sơn (2015), Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh
tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên. Nội dung chủ
yếu của Luận văn là hệ thống hóa các sơ sở lý luận dựa trên phân tích thực tế quản lý, sử
dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý
hiệu quả vốn NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang.
Trần Thị Thúy (2015), Quản lý chi thường xuyên ngân sách tại quận Nam Từ
Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế - ĐH
Quốc Gia Hà Nội. Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN
huyện/quận và công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện/quận. Phân tích thực
trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách quận Nam Từ Liêm để đánh giá kết
quả đạt được, hạn chế và tìm ra nguyên nhân. Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách cho quận Nam Từ Liêm.
Đề tài cũng đã chỉ ra được những ưu - khuyết điểm trong nghiên cứu công tác quản lý chi
thường xuyên ngân sách huyện/quận và cụ thể hóa vấn đề quản lý chi thường xuyên ngân
sách huyện/quận nhằm hạn chế những biểu hiện tham ô, lãng phí gây thất thoát ngân sách
nhà nước. Tuy nhiên, đề
tài mới chỉ tập trung quản lý các khoản chi thường xuyên ở cấp quận/huyện mà chưa làm rõ
được công tác quản lý ở cấp cao hơn.


Các đề tài trên đã đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý chi
NSNN nói chung và chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói riêng. Mỗi công
trình nghiên cứu có nội dung, mục đích và đối tượng nghiên cứu khác nhau, hiện tại vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Trên cơ sở kế thừa kết quả đạt
được trong các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu quản lý chi
ngân sách thông qua quá trình lập, chấp hành, quyết toán, kiểm soát chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Với đặc thù là một tỉnh trung
du và miền núi nên hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cũng có nhiều điểm khác
biệt. Do đó, tác giả lựa chon đề tài này vừa mang tính kế thừa, nhưng cũng mang quan
điểm nghiên cứu riêng có của tác giả.
1.2.

Những vấn đề lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục

1.2.1.
1.2.1.1.

Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục
Khái quát về ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính thống nhất NSNN là khâu tài chính tập chung giữ vai trò

chủ đạo. Đồng thời, NSNN là khâu tài chính được hình thành từ rất sớm và gắn với sự tồn
tại và phát triển của hệ thống quản lý nhà nước và nền kinh tế hành hoá, tiền tệ. Hiện nay,
thuật ngữ “Ngân sách nhà nước”được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội ở
các quốc gia, tuy nhiên, quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa thực sự thống nhất.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “Ngân sách là văn
kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài
chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền địa
phương, đơn vị công) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến và cho phép” [5, tr.310].
Tại Việt Nam, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN. Theo giáo trình Quản
lý thu Ngân sách nhà nước (2013) của Học viện Tài chính định nghĩa: “NSNN là phạm trù
kinh tế và là phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động gắn liền với quá


trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của
nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ
thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”[1, tr.19]..
Theo Khoản 14, Điều 04, Luật Ngân sách Nhà nước (83/2015/QH13) thông qua tại
kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015.: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước” [8, tr.01].
Các quan điểm trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tố hợp lý
của chúng song chưa đầy đủ. Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng nhưng NSNN
là hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành tài
chính Nhà nước. Vì vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của
NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng
trong NSNN.
về mặt hình thức, hoạt động của NSNN được biểu hiện dưới hình thức của các khoản
thu và chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội... Các khoản thu,
chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu - chi tài chính được thực hiện trong một
khoảng thời gian nhất định. Trong đó, với các khoản thu mang tính chất bắt buộc (thuế,
phí, lệ phí...) của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua
việc phân phối thu nhập quốc dân, được tạo ra trong các hoạt động kinh tế và các khoản
chi cơ bản của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho sự nghiệp đầu tư phát triển
và tiêu dùng của xã hội. Do đó, về mặt hình thức có thể hiểu: NSNN là toàn bộ các khoản
thu chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt (Quốc hội) và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
về nội dung, ẩn sau hình thức biểu hiện ra bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ
với các khoản thu và các khoản chi của nó, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát


sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ
tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
về bản chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở
luật định.
1.2.1.2. Khái quát về chi NSNN
> Khái niệm chi NSNN.
Chi ngân sách một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối
với sự phát triển của nền kinh tế. Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong
quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy nhà
nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà nhà nước đảm nhận theo các nguyên
tắc nhất định.
Theo đó, chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực
hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình
phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích
sử dụng. Do đó, Chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng
mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của
Nhà nước.
Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau là quá trình phân phối và quá trình sử
dụng. Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu NSNN có ý nghĩa quan trọng trong
quản lý NSNN.
Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại
quỹ trước khi đưa vào sử dụng; Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên
thực tế (chấp hành NSNN), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ,
quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội... thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu
chuẩn, chế độ chi ngân sách.
Quá trình sử dụng: là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các
đối tượng được hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản


tiền của NSNN. NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và
các khâu tài chính khác phi Nhà nước.
> Phân loại chi NSNN.
Phân loại chi NSNN là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm theo tiêu thức nhất
định, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng chi NSNN (Nguyễn Đức
Tuấn, 2014, trang 16). Thông thường phân loại chi NSNN được dựa trên các tiêu thức chủ
yếu sau:
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:
Chi đầu tư kinh tế: là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng nền sản xuất xã
hội. Khoản chi này có vai trò điều tiết quan trọng, được thực hiện qua nhiều kênh khác
nhau, tạo ra sự tác động tổng hợp, kích thích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, tạo
thế cân bằng cho nền kinh tế. Chi cho giáo dục bao gồm các khoản chi để duy trì và mở
rộng hoạt động giáo dục.
Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển hoạt động
giáo dục, đào tạo.
Chi cho phúc lợi xã hội: là những khoản chi mà xã hội cần chính phủ quan tâm, giúp
đỡ. Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, người lao động chưa
có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa, cho thương binh, gia đình liệt sĩ.
Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ
quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội, Hội đồng nhân dân, viện kiểm soát
nhân dân, tóa án nhân dân, chi về ngoại giao...
Chi cho An ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực lượng vũ trang
và công tác bảo vệ trị an trong nước.
Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành:
Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu động cho các
doanh nghiệp Nhà nước, chi dự trữ.
Chi tiêu dùng: Chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tích lũy bao
gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp, chi bù giá và chi khác


Căn cứ vào yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN được phân thành
3 nhóm:
Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, bao gồm: chi
lương và các khoản có tính chất tiền lương, cho bổ sung quỹ hưu trí, chi công vụ phí, chi
mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữa thường xuyên, chi trợ cấp, bù
giá, chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước, chi cho quỹ dự trữ thường xuyên, dự bị phí.
Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm: chi đầu
tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Nhà nước hoặc
các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tư cho nước ngoài...
Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vay nước
ngoài...) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước).
1.2.1.3. Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục > Khái
niệm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là các khoản chi tiêu của các cơ
quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách dành cho các cơ sở giáo dục - đào tạo để
duy trì sự hoạt động của cơ sở giáo dục - đào tạo trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo
nguồn nhân lực trên địa bàn.
Phân loại chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm 4 nhòm chi
chính:
Nhóm 1 : Chi Bộ máy
Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: Tiền lương, tiền
thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản khác. Trong đó:
Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng.
Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm, phụ
cấp lưu động, phụ cấp.
Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác.
Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn đột xuất,
tiền tàu xe, phúc lợi khác.
Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, BHYT.


Nhóm 2: Chi quản lý hành chính
Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền
nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng khác); Chi vật tư văn phòng
(gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tư văn phòng khác); Chi thông tin liên lạc
(gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông...); Chi công tác phí (tiền vé máy
bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí
khác); Chi hội nghi phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội
trường, chi bù tiền ăn và các chi phí khác).
Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn.
Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác giáo dục. Khoản chi
này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn, thiết bị chuyên dụng, sách, tài liệu,
mua súc vật dùng cho hoạt động chuyên môn,...
Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản.
Như mua thiết bị dạy học, máy chiếu, máy photocopy, máy điều hòa,... phục vụ hoạt
động giảng dạy,.
> Đặc điểm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân phối, sử dụng vốn
NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của các trường cũng như các cơ quan quản lý
nhằm đảm bảo các trường thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đầy đủ các đặc điểm của
chi thường xuyên NSNN, cụ thể:
Thứ nhất, chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục khá ổn định. Nhận biết
được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và để thực
hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của quốc gia, vì vậy cần phải có khoản đầu tư ổn
định và thích đáng cho ngành giáo dục. Hàng năm, Nhà nước ta phải trích một khoản chi
NSNN để đầu tư cho ngành giáo dục (chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn) bất kể nền
kinh tế quốc gia đang tăng trưởng hay suy thoái.
Thứ hai, nếu xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối
cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN cho sự
nghiệp giáo dục có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu


dùng xã hội. Tuy nhiên khi xét về tác dụng lâu dài thì đây là khoản chi mang tính chất tích
luỹ đặc biệt. Khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định tới việc tăng trưởng
kinh tế trong tương lai vì nó không mất đi sau quá trình tiêu dùng mà tạo thành “chất xám”
của con người cho tiêu dùng trong tương lai. Xã hội ngày càng phát triển thì mọi của cải
làm ra, tỷ lệ “chất xám” trong sản phẩm đó càng lớn.
Thứ ba, Phạm vi và mức độ của khoản chi thường xuyên NSNN gắn chặt với cơ cấu
tổ chức của bộ máy Nhà nước, sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng
hoá công cộng. Như chúng ta đã biết, giáo dục là hàng hoá công cộng, trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả
Nhà nước và người dân, nhờ vậy mà Nhà nước có thể thu hẹp được phạm vi và hạ thấp
mức chi cho lĩnh vực này

1.2.2.

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên điạ bàn

cấp tỉnh
1.2.2.1. Khái niệm quản lý chi thường xuyên ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn
cấp tỉnh
Quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là một khái niệm phản ánh
hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của Nhà nước đối với quá trình phân
phối và sử dụng nguồn lực NSNN cho các cơ sở giáo dục - đào tạo nhằm thực hiện các
chức năng vốn có của Nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đào tạo.
Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục bao gồm hệ thống các yếu tố sau:
Đối tượng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục: Là toàn bộ các
khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.
Chủ thể quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là Sở tài chính .
Công cụ và phương pháp quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
trên địa bàn cấp tỉnh: Công cụ quản lý gồm các chế độ, chính sách, các tiêu chuẩn, định


mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể
quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi NSNN.
Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các
chức năng quan lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Đó là mục tiêu sử dụng chi thường xuyên ngân sách nhà
nước cho sự nghiệp giáo dục một cách hợp lý, tiết kiệm.
I.2.2.2.

Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên

địa bàn cấp tỉnh:
> Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Sở Tài chính có nhiệm vụ: Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo
xem xét dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của các đơn vị trực thuộc
tỉnh, dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của các huyện; lập dự toán
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh (gồm dự toán chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục các huyện và dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục cấp tỉnh).
Tổ chức làm việc với các đơn vị sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp
giáo dục về dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục hàng năm. Đối với
năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính tổ chức làm việc, thống nhất với Sở
Giáo dục và đào tạo về dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục; yêu cầu
bố trí lại những khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trong dự toán chưa
đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân
sách và chủ trương của Nhà nước về phát triển giáo dục trên địa bàn. Đối với các năm tiếp
theo của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính chỉ làm việc, thống nhất với Sở Giáo dục
và đào tạo khi có đề nghị. Trong quá trình làm việc, dự toán chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp giáo dục và phương án phân bổ chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
còn có ý kiến khác nhau giữa Sở Tài chính với các cơ quan sử dụng NSNN, Sở Tài chính
phải báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định;
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tổng hợp, lập dự
toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục và phương án phân bổ dự toán chi


thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục ngân sách theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi được
phân cấp.
> Tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Đây là quá trình bao gồm toàn bộ các công việc từ khi có quyết định phê duyệt dự
án, đề tài, giao kế hoạch và dự toán ngân sách thực hiện cho đến khi hoàn thành toàn bộ dự
án, đề tài chuyên môn và nhiệm vụ thường xuyên thuộc chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục cấp tỉnh. Quá trình này gồm các công việc sau:
Đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện.
Sở Tài chính có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện dự án,
nhiệm vụ đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung, tiến độ kế hoạch và dự toán kinh phí đã được
phê duyệt.
Điều chỉnh hoặc hủy bỏ dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện dự án, đề tài, nhiệm vụ, nếu phải thay đổi địa điểm, hay
thay đổi nội dung chuyên môn, thiết kế kỹ thuật - công nghệ do yêu cầu quản lý, hoặc Nhà
nước có thay đổi chính sách chế độ thì đơn vị chủ trì dự án, đề tài, nhiệm vụ cấp tỉnh phải
tiến hành lập tờ trình, thuyết minh chi tiết gửi Sở Giáo dục và đào tạo. Sở Giáo dục và đào
tạo có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan có liên quan tổ chức xem xét,
thẩm định về những nội dung điều chỉnh, bổ sung.
Sở Giáo dục và đào tạo phối hợp với Sở Tài chính hướng dẫn đơn vị phải lập đầy đủ
hồ sơ làm cơ sở thanh quyết toán khối lượng công việc đã thực hiện, bao gồm: Quyết định
dừng thực hiện dự án, nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền; Biên bản kiểm tra, xác định khối
lượng công việc đã thực hiện của cơ quan có thẩm quyền; Báo cáo quyết toán kinh phí,
khối lượng đã thực hiện; Các chứng từ kế toán kèm theo; Các văn bản khác có liên quan
đến dự án, đề tài, nhiệm vụ.
> Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Đây là khâu kết thúc của chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp giáo dục. Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục cũng
được lập từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên theo hệ thống các cấp dự toán và các cấp ngân


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×