Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập 1 phát triển cộng đồng và cá nhân

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
----------

BÁO CÁO THỰC TẬP 1
(Thực hành công tác xã hội cá nhân và phát triển cộng
đồng)

Họ và tên sinh viên: Phùng Văn Tít
Mã sinh viên: 155D830060
Khóa: 2015 – 2019 Lớp: K13 – Công tác xã hội
Địa điểm thực hành: Xã Tứ Xã, huyện Lâm
Thao, tỉnh Phú Thọ
Giảng viên hưỡng dẫn: Nguyễn Thị Liên
Kiểm huấn viên: Nguyễn Đình Khánh

Phú Thọ, năm 2018


MỤC LỤC


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập công tác xã hội 1, tại xã Tứ Xã Huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ. Khoảng thời gian thực tập (Từ
07/05/2018 đến 01/06/2018), nhóm sinh viên chúng tôi đã nhận
được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ từ các thầy cô trong khoa
Tâm Lý Giáo Dục cũng như từ phía nhà trường. Nhóm sinh viên
cũng nhận được sự quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ từ lãnh
đạo xã Tứ Xã và chính quyền xã. Đặc biệt là sự giúp đỡ, hỗ trợ
của người dân trong xã đã giúp chúng em hoàn thành được dự
án phát triển cộng đồng và thực hành công tác xã hội với cá
nhân, cũng như hoàn thành tốt đợt thực tập công tác xã hội 1
tại xã lần này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo xã Tứ Xã, chính
quyền xã, kiểm huấn viên tại cơ sở, đặc biệt là người dân tại xã
Tứ Xã. Những người đã nhiệt tình hỗ trợ, quan tâm và tạo điều
kiện cho chúng tôi hoàn thành tốt dự án.


Và chúng tôi xin phép được gửi lời cảm ơn, tri ân sâu sắc
tới nhà trường, các thầy cô trong khoa Tâm Lý Giáo Dục đã tạo
điều kiện, quan tâm, giúp đỡ chúng tôi. Đặc biệt là cô Nguyễn
Thị Liên - giảng viên môn Phát triển cộng đồng, đồng thời là
giáo viên hướng dẫn cho nhóm tại xã Tứ Xã, những người đã
quan tâm sát sao chúng tôi, cung cấp cho chúng tôi kiến thức
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp một cách khoa học nhất đó
chính là nền tảng, kiến thức để chúng tôi hoàn thành đợt thực
tập 1 (thực tập phát triển cộng đồng và công tác xã hội cá
nhân, nhóm).
Trong quá trình thực tập bên cạnh những thuận lợi chúng
tôi còn gặp không ít những khó khăn khi những kinh nghiệm xã
hội của bản thân còn thiếu nhiều nhưng đó cũng là một bài học
để tôi có thể tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm. Thời gian
thực tập tại cơ sở đã kết thúc tôi đã hoàn thành xong báo cáo
của mình mặc dù không được như tôi mong muốn và vẫn cần
phải sửa nhiều nhưng đó là thành quả đầu tiên của tôi trong
những bước đệm đầu tiên vào nghề. Tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn đối với toàn thể giảng viên Khoa Tâm lý giáo dục, trường
Đại học Hùng Vương, với sự giảng dạy, hưỡng dẫn và quan tâm
từ các thầy cô. Qua đợt thực tập tôi đã học hỏi thêm được rất
nhiều kinh nghiệm trong công việc cũng như trong cuộc sống,
để lại cho tôi nhiều bài học quý báu.


Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô
giáo cùng các Ban, ngành, đoàn thể của khu, chính quyền địa
phương xã Tứ Xã, đồng thời cám ơn gia đình chú Nguyễn Văn
Mạnh đã cho tôi ở, tạo điều kện tốt nhất cho chúng tôi thực tập
tốt.
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá
trình thực tập không thể không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn
bè. Chúc mọi người sức khỏe và hạnh phúc!.
Tôi xin chân thành cảm ơn!.
Việt Trì, ngày

tháng 06 năm 2018
Sinh viên


Phùng Văn Tít
DANH MỤC VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
SVTT
UBND
HĐND
PTCĐ

NỘI DUNG
Sinh viên thực tập
Uỷ ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Phát triển cộng đồng

ĐHHV

Đại học Hùng Vương

BHYT

Bảo hiểm Y Tế

HTX

Hợp tác xã

GTTL

Giao thông thủy lợi

CTXH

Công tác xã hội

MTTQ

Mặt trận tổ quốc

CLB

Câu lạc bộ


PHẦN MỞ ĐẦU
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH.
Nhưng theo liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp ở
canada-2007) cho rằng: CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá
trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong các
mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải
phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng. CTXH
đã giúp cho con người phát triển đầy đủ hài hòa hơn đem lại
cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Như vậy theo định nghĩa trên thì ngoài cá nhân một con
người ra thì CTXH luôn luôn phải coi nhóm và cộng đồng như
một phương pháp hoạt động. Và tất yếu, trương trình đào tạo
nhân viên CTXH chuyên nghiệp ngoài lý thuyết, kĩ năng được
giảng dạy trên giảng đường thì cũng cần phải trải qua quá trình
thực tế, thực tập những phương pháp ấy.
Phát triển cộng đồng được coi là một trong những phương
pháp cơ bản trong các phương pháp công tác xã hội, trước kia
nói đến phát triển cộng đồng chủ yếu các nhà khoa học xem
xét cộng đồng ở các khu vực nông thôn, ngày nay cộng đồng
được hiểu mở rộng hơn đó là bao gồm các cộng đồng ở thành
thị hay các khu công nghiệp,…Sử dụng phương pháp phát triển
cộng đồng là để nhằm trợ giúp cho các cộng đồng có những
khó khăn hay những vấn đề xã hội để từ đó cộng đồng có
những thay đổi tích cực, tự lực vươn lên bằng chính tiềm năng
của mình dưới sự hỗ trợ của tác viên cộng đồng và sự cộng tác
của các nguồn lực khác. Để thấy được sự thay đổi của cộng
đồng, bên cạnh vai trò của tác viên cộng đồng, người dân tại
cộng đồng sẽ là nguồn lực chính để tạo ra sự thay đổi ấy và
trong quá trình trợ giúp cộng đồng, tác viên cộng đồng phải
thực hiện một chuỗi các hoạt động khác nhau, đồng thời phải
dựa trên cơ sở các nguyên tắc làm việc nhất định.

5


Giá trị của công tác xã hội dựa trên cơ sở ton trọng quyền
lợi, sự bình đẳng, giá trị của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng.
Giá trị được thể hiện ở các nguyên tắc hoạt động cũng như các
quy điều đạo đức của công tác xã hội.
Thực tập công tác xã nhằm hướng tới các đối tượng yếu
thế trong xã hội. Nhân viên công tác xã hội sử dụng các kĩ
năng, kĩ thuật và hoạt động đa dạng phù hợp với từng đối tượng
thân chủ cụ thể. Các bước tiến hành gồm tiến trình trợ giúp
thân chủ đến việc tham gia vào chính sách, hoạch định và phát
triển xã hội nhằm đảm bảo hệ thống an sinh xã hội toàn diện.
Do vậy, thực hành công tác xã hội là một vấn đề quan
trọng trong quá trình đào tạo công tác xã hội. Thông qua quá
trình thực hành, thực tập công tác xã hội, sinh viên được rèn
luyện kĩ năng, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.
Ngoài ra, giúp cho sinh viên thấy được vai trò, vị trí và trách
nhiệm của công tác xã hội đối với cá nhân, nhóm và cộng đồng.

PHẦN 1: DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG
1.1. Vị trí địa lý
Xã Tứ Xã nằm ở phía nam của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú
Thọ. Với diện tích tự nhiên là 815,6 hécta, trong đó đất nông
nghiệp có 612 héc-ta; đất thổ cư và đất chuyên dùng có 203,6
héc-ta. Toàn bộ diện tích đất của xã trải dài trên 4km, chiều
rộng từ tây sang đông 2,039 ki lô mét,Tứ Xã có ranh giới phía
Bắc giáp xã Sơn Vy; phía Nam giáp các xã Vĩnh Lại, Bản
Nguyên; phía Đông giáp Cao Xá; phía Tây giáp xã Sơn Dương và
xã Kinh Kệ; cách sông Hồng về phía Tây khoảng 3km, cách Đền
Hùng về phía Đông Bắc 10km. Cách Việt Trì – trung tâm kinh tế
- chính trị của tỉnh từ 7 – 8 km theo đường chim bay.

6


1.2. Kinh tế
1.2.1. Về sản xuất nông nghiệp
a. Về trồng trọt
Vụ chiêm xuân 2017 thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp,
bà con nhân dân gieo cấy hết diện tích, cây lúa phát triển nhanh, sâu bệnh ít hại trên
cây lúa, từ đó đã cho năng suất và sản lượng lương thực khá cao, năng suất vụ chiêm
đạt 63 tạ/ha; tuy nhiên trong sản xuất vụ mùa số hộ dân bỏ ruộng khá nhiều, (có đến
trên 100 ha ruộng không gieo cấy), mặt khác sâu bệnh, chuột phá hoại khá nặng nề
dẫn đến mất mùa nặng, năng suất vụ mùa chỉ đạt 39,6 tạ/ha. Tổng diện tích gieo
trồng trong năm là 1.052 ha, đạt 90,6% kế hoạch cả năm, trong đó diện tích cấy lúa
trong năm 2017 chỉ đạt 872 ha/ kế hoạch là 974 ha, năng suất lúa bình quân cả năm
chỉ đạt 51,3 tạ/ha, sản lượng lương thực 4.562 tấn đạt 76,2 so với kế hoạch (giảm
215 tấn so với cùng kỳ). Doanh thu ước đạt 35,2 tỷ đồng;
Diện tích sản xuất cây rau màu là 40 ha, diện tích sản xuất cây vụ đông
đạt 170 ha; giá trị sản xuất cây rau màu và cây vụ đông ước đạt ước đạt 12 tỷ
đồng.
Doanh thu từ ngành trồng trọt trong năm đạt 47,2 tỷ đồng.
b. Về chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
* Về chăn nuôi:
Do tác động của thị trường, giá cả giảm mạnh do vậy ngành chăn nuôi
trong năm bị ảnh hưởng nhiều, nhất là đàn lợn ( giảm cả quy mô và sản lượng
lợn thương phẩm). Tình hình dịch bệnh tương đối ổn định, các đàn vật nuôi
khác có chiều hướng tăng về quy mô đầu con, tổng đàn trâu, bò có = 344 con,
tăng 11 con so với cùng kỳ; đàn lợn hiện có = 4.388 con; đàn gia cầm có 73.800
con, tăng 760 con so với cùng kỳ; đàn rắn có 33. 325 con, tăng 9.825 con so với
cùng kỳ, bước sang năm 2017 đàn rắn có triển vọng hơn so với cùng kỳ, giá trứng
giống và giá rắn thương phẩm có chiểu hướng gia tăng, đã động viên kích thích
người chăn nuôi đầu tư mở rộng quy mô đàn nuôi.
Tổng doanh thu từ ngành chăn nuôi trong năm đạt: 62,5 tỷ đồng.
* Về nuôi trồng thủy sản:
Diện tích nuôi trồng thủy sản trong năm cơ bản duy trì là: 60,09 ha, cuối
năm diện tích đã giảm 4,2 ha do chuyển đổi thực hiện dự án xây dựng khu dân
cư nông thôn mới. Việc đầu tư nâng cấp hạ tầng cải tạo ao nuôi sen canh, luân
7


canh được các hộ dân tích cực áp dụng để nâng cao năng suất sản lượng; Tổng
sản lượng nuôi trồng thủy sản trong năm đạt 212 tấn. Doanh thu từ nuôi trồng
thủy sản đạt: 5,3 tỷ đồng.
Tổng doanh thu từ ngành nông nghiệp đạt 115 tỷ đồng, giảm 4,9% so với
cùng kỳ và đạt 90 % so với kế hoạch.
1.2.2. Về hoạt động của tổ khuyến nông và các HTX trên
địa bàn
* Hoạt động của tổ khuyến nông:
Luôn chủ động tham mưu cho UBND xã trong việc chỉ đạo sản xuất, xây
dựng kế hoạch sản xuất hàng năm của địa phương, tăng cường khuyến cáo cho
nhân dân cách phát hiện, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và đàn vật nuôi;
triển khai tốt công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng phòng dịch cho đàn vật
nuôi hạn chế thấp nhất tình hình dịch bệnh sảy ra trên địa bàn. Trong năm tổ
khuyến nông đã phối hợp với các đơn vị, các đoàn thể tổ chức mở 11 lớp tập
huấn KHKT với số lượng 780 lượt bà con xã viên tham gia để áp dụng vào sản
xuất; triển khai mô hình thí điểm cấy lúa lai chất lượng cao với 2 loại giống mới
GS 999 và GS 19 với quy mô thí điểm 2 ha gồm 33 hộ dân tham gia sản xuất.
* Hoạt động của các HTX:
2 HTX dịch vụ nông nghiệp và điện năng tiếp tục duy trì được các hoạt
động của mình, các HTX luôn quan tâm chỉ đạo hoạt động tốt các khâu dịch vụ,
cung ứng vật tư phục vụ sản xuất cho bà con xã viên. Kết quả trong năm 2 HTX
đã cung ứng cho bà con xã viên được 17,5 tấn giống các loại, trị giá 263 triệu
đồng; cung ứng được 15 tấn phân các loại, trị giá 70 triệu đồng. Phối hợp với
phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện triển khai cho bà con xã viên
tham gia sản xuất lúa chất lượng cao trong chương trình hỗ trợ giống của Nhà
nước, trong năm 2 HTX đã triển khai cho 2.177 hộ xã viên tham gia gieo cấy
lúa chất lượng cao, với tổng diện tích gieo trong cả 2 vụ là 291ha, số tiền được
Nhà nước hỗ trợ giống là 262,2 triệu đồng.
HTX rau an toàn sau 2 năm thành lập và đi vào hoạt động bước đầu đã
đạt được những kết quả nhất định, hiện nay HTX đã ký hợp đồng tiêu thụ được
một phần sản lượng rau cho bà con xã viên với mức giá khá ổn định, tiếp nhận
dự án tài trợ nhà sản xuất công nghệ cao với diện tích 1.000 m 2, kinh phí đầu tư
1,3 tỷ đồng cho 6 hộ gia đình trực tiếp tham gia sản xuất trong mô hình và đang
triển khai để tiếp nhận dự án đầu tư xây dựng hệ thống tưới nước sạch tự động

8


trong vùng sản xuất rau an toàn của HTX, với mức kinh phí đầu tư trên 3 tỷ
đồng.
1.2.3. Hoạt động ngành nghề, sản xuất CN, TTCN, xây
dựng; dịch vụ, thương mại
Lĩnh vực ngành nghề, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây
dựng tiếp tục được phát triển mạnh, đã phát huy được thế mạnh và tiền năng của
địa phương, tổng số hộ tham gia các loại hình ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và xây dựng tiếp tục được duy trì, mở rộng, thu hút 1.336 lao động
tham gia. Giá trị làm ra từ các loại hình ngành nghề công nghiệp, xây dựng
trong năm đạt 116 tỷ đồng.
Hoạt động dịch vụ, thương mại được nhân dân quan tâm phát triển, từ đó
đã phục vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân
dân trong và ngoài địa phương, đồng thời từ lĩnh vực dịch vụ thương mại đã góp
phần giải quyết việc làm cho khá nhiều lao động trong địa phương và đem lại
hiệu quả kinh tế lớn cho các hộ gia đình. Số lao động tham gia hoạt động các
loại hình dịch vụ, thương mại duy trì ở mức 1.566 lao động. Giá trị làm ra từ
hoạt động dịch vụ, thương mại ước đạt 151 tỷ đồng.
1.2.4. Công tác quản lý đất đai
Công tác quản lý Nhà nước về đất đai tiếp tục được quan tâm, luôn chủ
động và giải quyết tốt các vụ việc tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân, đã
tích cực triển khai việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
nhân dân, hạn chế dần tình trạng hồ sơ thủ tục để kéo dài gây bức xúc trong
nhân dân. Trong năm 2017 đã cấp mới được 102 giấy CN QSDĐ cho nhân dân
và là thủ tục cho tặng, chuyển nhượng QSDĐ được 55 hồ sơ. Tích cực triển
khai và xúc tiến nhanh việc thu hồi, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây
dựng khu dân cư nông thôn mới, đã hoàn thành việc giải phóng mặt bằng bàn
giao cho tỉnh triển khai đấu thầu thi công xây dựng các công trình của dự án.
Cùng với UBND huyện và các xã lân cận thống nhất vị trí mốc giới giáp
danh giữa các xã với nhau, thống nhất giao nhận giữa các xã giáp danh vị trí đất
sen canh để thống nhất quản lý.
1.2.5. Về thu, chi ngân sách, tín dụng ngân hàng
Việc thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách được quan tâm, đảm bảo cho
hoạt động chung của địa phương, khai thác và tận dụng nguồn thu. Tổng thu
ngân sách trong năm là 11.381,31 triệu đồng, đạt 174,7% so với kế hoạch năm
và bằng 158,2% so với cùng kỳ, trong đó thu ngân sách trên địa bàn là 7.185,41

9


triệu đồng, thu trợ cấp ngân sách là 4.195,9 triệu đồng, tỷ lệ tự cân đối ngân
sách đạt 13,2%.
Việc quản lý, điều hành chi ngân sách được đảm bảo, đúng dự toán ngân
sách đã được phân bổ, tổng chi ngân sách là 9.495,35 triệu đồng, đạt 145,7% so
với kế hoạch và bằng 151,1 % so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư xây dựng cơ
bản là 5.210,43 triệu đồng, chiếm 54,87% trong tổng chi ngân sách, chi hoạt
động thường xuyên 4.284,92 triệu đồng, chiếm 45,13% trong tổng chi ngân
sách.
Hoạt động tín dụng ngân hàng tiếp tục được duy trì, đảm bảo phục vụ tốt
nhu cầu vay vốn của nhân dân. Tổng số vốn vay trong nhân dân tại thời điểm là
146 tỷ đồng, trên 1.651 hộ vay, trong đó vốn vay ngân hàng nông nghiệp là 64 tỷ
đồng; vay vốn quỹ tín dụng nhân dân là 66 tỷ đồng; vốn vay ngân hàng CSXH là
16 tỷ đồng.

1.3. Dân số:
Theo thống kê, tính đến năm 2018 dân số xã Tứ Xã
khoảng 13065, người mật độ dân số đạt 1247 người/km².
1.4. Cơ sở hạ tầng, môi trường
1.4.1. Về GTTL và xây dựng cơ bản
Chỉ đạo các HTX thường xuyên tu sửa, nâng cấp hệ thống giao thông nội
đồng, nạo vét kênh mương, xây dựng cống đõ phục vụ cho sản xuất và đi lại của
nhân dân địa phương; cùng với ban quản lý dự án xây dựng khu dân cư nông
nông thôn mới thống nhất điều chỉnh hệ thống kênh mương tưới tiêu phục vụ
sản xuất và dân sinh của nhân dân ở các vùng thực hiện dự án. Tổng kinh phí
các HTX đã đầu tư cho xây dựng giao thông, thủy lợi nội đồng trong năm là
99,5 triệu đồng. Tuy nhiên do hệ thống tiêu thoát nước ở một số cụm dân cư do
đường tiêu nhỏ hẹp, ách tắc, hệ thống bờ kênh T2 quá xuống cấp do vậy cơn
bão số 10 đã làm ngập úng cục bộ một cố cụm dân cư làm ảnh hưởng đến
chuồng trại chăn nuôi của nhân dân và tràn nước qua bờ kênh T2 vào đồng; gây
ngập úng thiệt hại đến một số diện tích rau màu của bà con nhân dân.
Về xây dựng cơ bản trong năm tích cực triển khai xây dựng các công
trình văn hóa tâm linh của địa phương, kinh phí xây dựng do ông Nguyễn Văn
Niên Chủ tịch HĐQT CTy cổ phần tập đoàn sông hồng thủ đô tài trợ như xây
dựng đền Xa Lộc, đền thờ các anh hùng liệt sỹ, các chùa trong địa phương..
10


Nhân dân tích cực xây dựng, chỉnh trang, tu sửa nhà ở dân cư tạo môi
trường cảnh quan khu dân cư sạch đẹp; trong năm có 61 hộ gia đình xây dựng
nhà ở.
1.4.2. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng được đảm bảo. Hệ thống đường đã được bê
tông hóa, đảm bảo cho việc giao lưu, buôn bán giữa các vùng
với nhau. Mạng lưới điện, nước sạch đã được cung cấp đủ 100%
tới tất cả các khu. Hệ thống trường học ngày càng được đầu tư
và nâng cấp đạt chuẩn quốc gia.
1.4.3. Công tác vệ sinh môi trường
Tích cực tuyên truyền vận động nhân dân tham gia cải thiện và bảo vệ
môi trường, vận động các hộ gia đình xây bể nắng lọc, xử lý nước thải trước khi
xả thải ra nơi công cộng, vận động các khu dân cư làm nắp đậy rãnh thoát nước
bề mặt trong khu dân cư; chỉ đạo các HTX triển khai thực hiện tốt việc thu gom,
vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt theo đề án của UBND huyện Lâm Thao.

1.5. Y tế và các hoạt động văn hóa xã hội
1.5.1. Về giáo dục đào tạo
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục được quan tâm về mọi mặt, công tác xã hội hóa
giáo dục ngày càng được mở rộng. Chất lượng giáo dục đại trà, chất lượng mũi
nhọn của các nhà trường được duy trì và phát triển; công tác duy trì phổ cập
giáo dục và xóa mù trên địa bàn được triển khai thực hiện có kết quả cao, tiếp
tục được UBND huyện công nhận duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em
5 tuổi, duy trì phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục THCS mức độ 3, phổ cập xóa
mù chữ mức độ 2. Công tác xây dựng xã hội học tập và phong trào học tập suốt
đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị được quan tâm và phát triển, qua
đánh giá tỷ lệ gia đình đạt gia đình học tập là 93%, cộng đồng đạt danh hiệu
cộng đồng học tập là 100%, có 37/58 dòng họ thực hiện và đạt danh hiệu dòng
họ học tập. Đánh giá nhận xét cộng đồng học tập cấp xã trong năm xếp loại tốt.
Công tác duy trì, củng cố chất lượng trường học đạt chuẩn quốc gia tiếp tục
được quan tâm, đến nay 5/5 trường vẫn duy trì chất lượng trường học đạt chuẩn
quốc gia. Kết quả công tác dạy và học của các cấp học trong năm như sau:
* Cấp học mầm non: Tỷ lệ huy động nhóm nhà trẻ đạt 15%, tỷ lệ huy động
nhóm mẫu giáo 3+4 tuổi đạt 96%, tỷ lệ huy động nhóm mẫu giáo 5 tuổi đạt
11


100%. Chất lượng giáo dục các mặt của bậc học mầm non tiếp tục được duy trì
và phát triển, tỷ lệ trẻ phát triển bình thường về chiều cao, cân nặng đạt trên
95%, 100% trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non và đủ điều
kiện vào học lớp 1..
* Cấp học tiểu học: Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi ra lớp đạt 100%. Chất
lượng giáo dục toàn diện của nhà trường tiếp tục được duy trì, có 99,8% số học
sinh hoàn thành chương trình lớp học được lên lớp thẳng; chất lượng mũi nhọn
được các nhà trường quan tâm đầu tư và có kết quả đáng khích lệ, trong năm có 45
em đạt học sinh giỏi cấp huyện, 29 em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh, 1 em đạt học
sinh giỏi quốc gia.
* Cấp học THCS: Nhà trường luôn quan tâm chăm lo việc giáo dục đạo
đức, kỹ năng sống cho học sinh và bồi dưỡng nâng cao chất lượng mũi nhọn,
năm học 2016 – 2017 có 117 em đạt học sinh giỏi cấp huyện, có 10 em đạt học
giỏi cấp tỉnh, 1 em đạt huy chương đồng giải toán qua mạng Internet cấp quốc
gia, chất lượng mũi nhọn của nhà trường xếp thứ nhất các trường THCS trong
huyện.
1.5.2. Công tác y tế, dân số, gia đình trẻ em
1.5.2.1.Công tác y tế
Luôn quan tâm việc duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí về chuẩn
quốc gia y tế xã. Công tác phối hợp tổ chức khám, phát hiện bệnh và tư vấn sức
khỏe cho nhân dân được triển khai thực hiện tốt, trong năm trạm y tế đã phối
hợp với bệnh viên tâm thần tỉnh Phú Thọ tổ chức khám, tư vấn miễn phí cho
bệnh nhân tâm thần, phối hợp với bệnh viện huyết học Trung ương khám miễn
phí các bệnh trực tràng, hậu môn cho nhân dân địa phương. Tổng số lượt khám
và điều trị tại trạm trong năm là: 6.734 lượt người, trong đó điều trị nội trú là 10
người, điều trị đông y là 1.145 lượt người, khám BHYT tại trạm là 1.743lượt
người, chiến 26% trên tổng số bệnh nhận đến khám, điều trị tại trạm.
Triển khai và thực hiện tốt việc tiêm chủng định kỳ cho trẻ em trong độ
tuổi, phụ nữ mang thai và thanh niên vị thành niên. Tổng số tiêm chủng trong
năm là 504 người, trong đó tiêm chủng định kỳ cho trẻ em là 174 trẻ, phụ nữ
mang thai là 190 người, thanh niên vị thành niên là 140 người. Ngoài ra trạm y tế
luôn tích cực tuyên truyền để mọi người dân tham gia tiêm phòng để phòng
chống các dịch bệnh.
Công tác tuyên truyền, giám sát, kiểm tra về đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm được quan tâm, ngành y tế đã tham mưu cho UBND xã xây dựng và
12


ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về lĩnh vực ATTP trong năm và cả giai đoạn
2017 – 2020, hạn chế tình trạng các vụ ngộ độc thực phẩm sảy ra trên địa bàn.
Việc tuyên truyền vận động người dân tham gia các loại hình BHYT được
quan tâm, tỷ lệ người dân trên địa bàn tham gia các loại hình BHYT năm 2017 đạt
85,5%.
1.5.2.2. Công tác dân số gia đình trẻ em
Việc triển khai thực hiện các chính sách về dân số và phát triển luôn được
quan tâm, đã chỉ đạo kiện toàn, củng cố BCĐ công tác dân số và phát triển của xã
một cách kịp thời, chỉ đạo việc sắp xếp đội ngũ công tác viên dân số ở các khu dân
cư theo tinh thần kết luận số 49 của tỉnh ủy. Việc tuyên truyền vận động thực hiện
KHHGĐ được đảm bảo, tỷ lệ sinh cơ bản được kiềm chế, tổng số sinh trong năm là
161 trẻ, tăng 1 trẻ so với cùng kỳ. Tuy nhiên tỷ lệ mất cân bằng giới tính của trẻ khi
sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao, tỷ lệ là 123 trẻ nam/100 trẻ nữ, số
sinh con thứ 3 trở lên là 16 trường hợp, tăng 4 trường hợp so với cùng kỳ. Tổng số
chết trong năm là 65 người.
1.5.3. Công tác văn hóa, thể thao, thông tin tuyên
truyền.
Việc triển khai thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa và cuộc vận đồng Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới đô
thị văn minh đạt những kết quả nhất định, các quy ước, hương ước văn hóa
được nhân dân từng bước tự giác thực hiện, kết quả việc bình xét gia đình văn
hóa, khu dân cư văn hóa năm 2017 đạt tỷ lệ cao.
Tổ chức tốt lễ đón nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia lễ hội Trò
Trám, tích cực tham gia chương trình văn nghệ, hoạt động lễ hội đường phố
trong dịp giỗ Tổ Hùng Vương lễ hội Đền Hùng năm 2017.
Tổ chức thành công đại hội TDTT cấp cơ sở lần thứ V năm 2017 với 5
môn thi đấu, thu hút 443 vận động viên tham gia và tích cực tham gia các môn
thi đấu tại đại hội TDTT cấp huyện; hội NCT tham gia thi đấu giải bóng chuyền
hơi NCT làng nghề tỉnh Phú Thọ đạt giải nhất. Bên cạnh đó các tổ chức, các
đơn vị khu dân cư thường xuyên tổ chức các giải thể thao quần chúng; CLB
kinh lạc thao hội NCT tổ chức hội thi kinh lạc thao trong người cao tuổi, thông
qua đó đã thúc đẩy được phong trào và động viên các tầng lớp nhân dân tích cực
đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục thể thao nâng cao sức khỏe nhân dân.
Phong trào văn hóa văn nghệ được phát triển mạnh ớ các khu dân cư, các
câu lạc bộ, các đoàn thể như CLB thơ ca hội người cao tuổi thường xuyên tổ
13


chức sinh hoạt giao lưu thơ ca và kỷ niệm 15 năm ngày thành lập; Đoàn TN, hội
Phụ nữ tổ chức liên hoàn văn nghệ nhân ngày quốc khánh và ngày thành lập
hội; nhiều khu dân cư tổ chức đêm liên hoan văn nghệ nhân ngày hội đại đoàn
kết toàn dân tộc, qua đó đã động viên được tinh thần đối với hội viên và các
tầng lớp nhân dân.
Việc xây dựng các công trình tâm ninh, cơ sở tôn giáo được triển khai
tích cực, đã hoàn thiện việc xin mở rộng và đã được cấp phép xây dựng chùa
Phúc Trung, đền Xa Lộc.
1.6. Nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của cộng đồng
1.6.1. Nhu cầu và vấn đề của cộng đồng
Sau khi nhóm sinh viên đến cơ sở thực hành xã Tứ Xã –
huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ nhóm sinh viên đã tiến hành
công việc khảo sát thực trạng cộng đồng tại xã Tứ Xã cùng với
lãnh đạo xã và lãnh đạo nhà trường.
Trong quá trình khảo sát, nhóm sinh viên đã lắng nghe ý
kiến của cộng đồng cũng như quá trình khảo sát nhóm đã nhìn
nhận ra được một số vấn đề, nhu cầu của cộng đồng như sau:

Hình 1.1: Họp dân và lựa chọn dự án
14


1.6.1.1. Sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu:
Mức độ cần
Thứ tự ưu
Nhu cầu của cộng đồng
thiết
tiên
Phát triển lễ hội Trò Trám
(may trang phục diễn, áo
+++
1
rước kiệu, đạo cụ, cờ rước)
Trồng cây tại các công sở,
di tích lịch sử văn hóa (đền
++
2
Xa Lộc và trường trung học
cơ sở)
Cải tạo, tu sửa lại UBND xã
+
3
Tứ Xã

1.6.1.2. Cân đối các nhu cầu
Căn cứ vào tình hình ở cộng đồng, tính cấp thiết, nguồn lực,
những tiềm năng nguồn lục sắn có ở đia phương, nguồn kinh
phí và khà năng thực hiện của nhóm sinh viên. Nhóm sinh viên
cùng với người dân thảo luận và quyết định đưa ra nhu cầu cần
thiết để thục hiện đó là: “Phát triển lễ hội Trò Trám”; “Trồng cây
tại các công sở, di tích lịch sử - văn hóa”.
1.6.1.3. Lý do lựa chọn nhu cầu
Qua việc khảo sát nhóm sinh viên nhận thấy tính cấp thiết
của nhu cầu, cũng như nguồn lực, tiềm năng sẵn có của đia
phương bên cạnh đó lễ hội Trò Trám mang tính tĩn ngưỡng phồn
thực có nghĩ ý nghĩa lịch sử, còn đền Xa Lộc đang trong quá
trình trung tu lại cần nhiều trồng nhiều cây xanh. Vì vậy nhóm
đã quyết định thực hiện hai dự án trên.
1.6.2. Tiềm năng và lực cản của cộng đồng
Như vậy, có thể thấy qua khảo sát, nhóm SVTT đã xác định
được các (vấn đề) nhu cầu của cộng đồng. Đa số các nhu cầu
đều liên quan đến hoàn thành cơ sở hạ tầng, tu sửa lại các công
trình chung trên địa bàn xã và phát triển lễ hội truyền thống tại
quê hương, đòi hỏi hoàn thiện với nguồn kinh phí tương đối lớn,
cần đến sự phối hợp chặt chẽ, liên hệ với các nguồn lực để
hoàn thành dự án. Tuy nhiên, các dự án cũng có những nguồn
lực sẵn có như : sự quan tâm của ban lãnh đạo xã Tứ Xã, người
15


đại diện cộng đồng có kiến thức, kỹ năng, luôn ủng hộ, động
viên nhiệt tình khi nhóm SVTT thực hiện dự án,…
1.7. Các tổ chức sẵn có trong cộng đồng và mối quan hệ
giữa các tổ chức
1.7.1. Các tổ chức sẵn có:
1. Công ty cổ phần xây dựng và đầu tư thưng mại gáp
2. Công ty TNHH Thông Đạt Phú Thọ
3. Công ty cổ phần HDT 666
4. Công ty TNHH xăng dầu cầu đá
5. Công ty cổ phần tư vấn thiết kế và xây dựng Mạnh Toàn
6. Hợp tác xã dịch vụ và chăn nuôi Hải Phong
7. Công ty TNHH viễn thông Khoa Yến
8. Quỹ tín dụng nhân dân xã Tứ Xã
9. HTX dịch vụ SX sơ chế và tiêu thụ sản phẩm rau an toàn Tứ Xã
10. Công ty TNHH đầu tư và phát triển Phúc Tuấn
11. Trường mầm non Tứ Xã I
12. Trường mầm non Tứ Xã II
13. Công ty TNHH một thành viên cây xanh Lâm Phú
14. Hội nuôi rắn xã Tứ Xã huyện Lâm Thao
1.7.2. Mối quan hệ giữa các tổ chức:
Giữa các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn có một số hoạt động liên kết,
hợp tác với nhau. Như trong mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, dịch vụ nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, tạo sự liên kết
ngữa chuối giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, góp phần tích cực trong
việc xây dựng nông thôn mói trong địa phương.
Các tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau
trong các hoạt động nhằm giúp cho xã phát triển đồng thời
nâng cao đời sống của nhân dân, từng bước tiến lên phát triển
toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội.

16


Chương 2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG
ĐỒNG
2.1. Các thông tin của dự án.
2.1.1. Khảo sát thực trạng và xác định dự án tại xã Tứ
Xã:
Xã Tứ Xã nằm ở phía nam của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú
Thọ. Với diện tích tự nhiên là 815,6 héc-ta; trong đó đất nông
nghiệp có 612 héc-ta; đất thổ cư và đất chuyên dùng có 203,6
héc-ta. Toàn bộ diện tích đất của xã trải dài trên
4 km, chiều
rộng từ tây sang đông 2,039 km, Tứ Xã có ranh giới phía Bắc
giáp xã Sơn Vi; phía Nam giáp các xã Vĩnh Lại, Bản Nguyên;
phía Đông giáp xã Cao Xá; phía Tây giáp xã Sơn Dương và xã
Kinh Kệ; cách sông Hồng về phía Tây khoảng 3 km, cách Đền
Hùng về phía Đông Bắc 10 km. Cách Việt Trì – trung tâm kinh tế
- chính trị của tỉnh từ 7 – 8 km theo đường chim bay.
Để nắm bắt được cụ thể về cộng đồng, hiểu rõ chi tiết về
cộng đồng, từ đó nêu ra các nhu cầu và xác định được dự án,
nhóm SVTT đã tiến hành khảo sát và xây dựng được SĐCĐ như
sau:

17


Hình 2.1: Sơ đồ cộng đồng xã Tứ Xã
Nhìn vào hình 2.1 sơ đồ cộng đồng xã Tứ Xã – huyện Lâm
Thao – tỉnh Phú Thọ. Nhìn vào sơ đồ ta có thể nhận thấy:
Về dân cư: Tập trung chủ yếu ở hai bên trục đường chính
của xã, mật độ dân cư rất đông đúc.
Văn hóa, chính trị và giáo dục: Các trường
đường, thuận lợi cho đi lại cho học sinh 100% trẻ
trường, hệ thống trường học khang trang. Thêm
xã nằm ở trung tâm xã thuận lợi cho việc cung
cho người dân.

học
đều
vào
cấp

nằm ven
được đến
đó UBND
thông tin

Về y tế: Trạm y tế cũng nằm tại trung tâm xã, các quầy
thuốc đả bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Về giao thông: Trục đường liên xã được đổ nhựa với chất
lượng cao, các ngả đường đã được bê tông hóa, phục vụ nhu
cầu đi lại, trao đổi, buôn bán cho người dân.
Về truyền thông: Hệ thống truyền thông phát triển, có loa
phát thanh, áp phích, nhà văn hóa cung cấp thông tin đầy đủ
và kịp thời người dân.
Để đánh giá được hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên, đánh
giá được thuận lợi, khó khăn của cộng đồng, nhóm SVTT tiến
hành vẽ sơ đồ lát cắt của cộng đồng như sau:

18


Hình 2.2: Sơ đồ mặt cắt
Sinh viên thực tập tổ chức khảo sát theo chiều ngang của
xã Tứ Xã (Bắt đầu từ khu vực đồng ruộng và kết thúc là khu
vực đó) có cái nhìn cụ thể về cộng đồng như sau:
Với chiều ngang này, mở đầu là khu vực đồng ruộng với
đất phù sa màu mỡ, đặc biệt thuận lợi cho canh tác cây nông
nghiệp.
Tiếp theo là khu dân cư: dân cư đông đúc, thuận lợi cho
buôn bán, giao lưu kinh tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế. Hơn
nữa, đất thổ canh thổ cư (đất đỏ, đất thịt,…) thuận lợi cho trồng
cây ăn quả, canh tác hoa màu, chăn nuôi,…
Nằm giữa là trục đường chính – đường liên xã tạo điều kiện
giao lưu phát triển kinh tế trong xã cũng như các khu vực khác.
Để biết được tình hình thông tin của cộng đồng, nhóm sinh
viên đã xây dựng sơ đồ mạng lưới thông tin như sau:

19


Hình 2.3: Sơ đồ mạng lưới thông tin
Nhìn vào sơ đồ chúng ta, có thể thấy: mạng lưới thông tin
của xã khá phát triển, người dân tiếp nhận thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau:
Các trưởng thôn là những người cung cấp thông tin cho
người dân trước tiên. Bởi họ gần gũi nhất với người dân, độ
chính xác rất cao.
UBND xã Tứ Xã nằm tại trung tâm xã, có loa phát thanh
thông báo cho người dân khi có thông tin về các chính sách,
những thay đổi người dân cần biết.
Mạng lưới internet khá phát triển, bao phủ mạng trong
toàn xã.
Ngoài ra, người dân còn tiếp nhận được thông tin từ các
nguồn như: trạm y tế, trường học, bưu điện, các ban ngành,
đoàn thể,...
20


Như vậy, mạng lưới thông tin gần như được hoàn thiện,
cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân.
2.1.2. Thông tin dự án:
Dự án 1: Phát triển lễ hội Trò Trám.
Dự án 2: Trồng cây tại các công sở, di tích lịch sử - văn hóa.
Bản dự trù kinh phí thực hiện dự án
ST
T

1

2

Tên dự
án

Phát triển
lễ hội trò
trám

Trồng cây
tại các
công sở,
khu di
tích

Chi tiết

Số
lượng

Đơn giá
(đồng)

30

200.000đ

30

200.000đ

May
trang
phục
diễn
Áo rước
kiệu

1 bộ

Cờ rước

20
chiếc

75.000đ

30 cây

100.000đ

Tổng kinh phí

6.000.000
đ

6.000.000
đ

5.000.000 5.000.000

Đạo cụ

Trồng cây
tại đền Xa
Lộc

Thành
tiền
(đồng)

đ

đ

1.500.000
đ

3.000.000
đ

21.500.0
00đ

* Thuận lợi: Cán bộ địa phương tích cực ủng hộ dự án,
kiểm huấn viên cơ sở nhiệt tình chỉ bảo, trợ giúp. Thêm vào đó
là sự chào đón cũng như ủng hộ nhiệt tình từ ban lãnh đạo xã
Tứ Xã, cùng với sự đồng tình của bà con nhân dân và các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn.
* Khó khăn: Nguồn vốn lớn, phải huy động được vốn mới
có thể hoàn thành. Hơn nữa, người dân chủ yếu đi làm ban
ngày và về muộn, nên sinh viên thường phải đi huy động vốn
vào buổi tối khi mọi người đã đi làm về.
21


2.2. Kết quả thực hiện dự án phát triển cộng đồng
Sau một tháng thực tập tại xã Tứ Xã – huyện Lâm Thao –
tỉnh Phú Thọ, sinh viên thực tập cùng người dân tại địa phương
đã hoàn thành suất xắc hai dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám” và
“Trồng cây tại các công sở, di tích lịch sử văn hóa”. Các dự án
được hoàn thành đúng tiến độ và có ý nghĩa thực tiễn cao, góp
phần xây dựng, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc
trưng của địa phương.
2.3. Lượng giá dự án
2.3.1.Dự án 1: Phát triển lễ hội Trò Trám:
* Trò Trám: Là lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn
thực, đề cao tính dục của người dân đồng bằng Bắc bộ, nơi vốn
mang đậm tín ngưỡng của nền văn hóa lúa nước, với những lễ
đầu xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt,…Hội
Trám được người dân xã Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ bảo tồn từ
bao đời nay với đặc trưng riêng của mình.
Sau khi khảo sát thực trạng về lễ hội Trò Trám tại xã Tứ Xã,
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, chúng tôi nhận thấy đây là một
lễ hội có giá trị văn hóa cao, đã và đang được người dân nơi đây
bảo tồn và phát triển. Song lễ hội tại địa phương mới được khôi
phục vẫn còn mặt hạn chế là trang phục và đạo cụ dành cho lễ
hội chưa đáp ứng được nhu cầu để phục vụ cho lễ hội. Trên cơ
sở đó, sinh viên đã tiên hành họp dân, xác định nhu cầu của
địa phương là thay mới trang phục và đạo cụ cho lễ hội, chúng
tôi đã thực hiện dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám” với nội
dung mua trang phục biểu diễn, cờ hội, đạo cụ, áo rước
kiệu,…
* Mặt đạt được: Hoàn thành dự án đúng thời gian quy
định, đạt tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng: Đã mua đủ số lượng
trang phục, đạo cụ, cờ rước,… phục vụ cho lễ hội.

22


* Mặt hạn chế:
Quá trình huy động vốn gặp nhiều khó
khăn, nguồn kinh phí để thực hiện cho dự án còn hạn chế chưa
thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu.
Ý thức của các thành viên chưa được chấp hành đúng,
vẫn còn tình trạng đi muộn giờ, tính đoàn kết chưa cao.

Hình 2.4: Sinh viên huy động nguồn lực từ địa phương

23


Hình 2.5: Sinh viên mua trang phục cho lễ hội Trò Trám

Hình 2.6: Sinh viên chuẩn bị đạo cụ cho lễ hội Trò Trám
2.3.2. Dự án 2: Trồng cây tại các công sở, khu di tích:
Đền Xa Lộc thuộc địa phận khu 1 xã Tứ Xã, huyện Lâm
Thao, là một trong những ngôi đền tiêu biểu có ảnh hưởng sâu
sắc tới đời sống của người dân ở Tứ Xã và huyện Lâm Thao.
Ngôi đền đang trong quá trình tu sửa lại cho nên khuôn viên
trước đền chưa hoàn thiện. Sau khi khảo sát thực trạng tại đền
24


nhóm sinh viên thực tập đã tiến hành họp dân nhằm xác định
nhu cầu. Trên cơ sở đó nhóm sinh viên đã xác định được dự án
“Trồng cây trong khuôn viên Đền Xa Lộc”.
Sau khi xác định được nhu cầu, nhóm sinh viên đã liên kết
huy động các nguồn lực để thực hiện dự án. Trong quá trình huy
động nhóm sinh viên đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ từ
người dân và chính quyền dịa phương.

Hình 2.7: Sinh viên trồng cây tại đền Xa Lộc
2.4. Bàn giao, kết thúc dự án và duy trì dự án phát triển
cộng đồng
Sau khi hoàn thành 2 dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám” và
“Trồng cây tại các công sở, di tích lịch sử văn hóa” nhóm sinh
viên tiến hành bàn giao lại cho địa phương quản lý. Tiến hành
buổi họp với ban lãnh đạo xã Tứ Xã, bàn giao bằng biên bản
bao gồm cả dự án và các nội dung của dự án, tổ chức, xây dựng
và duy trì nhóm lãnh đạo nòng cốt để tiếp quản. Biên bản được
lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×