Tải bản đầy đủ

Thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán AFC

Luận văn tốt nghiệp

-1-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến
đáng kể, tốc độ tăng GDP luôn ở mức cao. Giai đoạn 2005-2010 theo dự báo,
GDP sẽ dao động trong khoảng 8-8,5%. Theo xu hướng toàn cầu hoá, Việt Nam
đã gia nhập WTO hứa hẹn một thời kỳ phát triển thịnh vượng.
Đây cũng là thời điểm bùng nổ của thị trường chứng khoán, một số lượng
lớn công ty đã niêm yết hoặc có cổ phiếu giao dịch trên các sàn giao dịch, thị
trường chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn hấp dẫn cho các doanh
nghiệp. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, nhu cầu cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nước, nhu cầu mua bán, sát nhập, nhu cầu định giá cổ
phiếu… đang tăng lên khiến nhu cầu định giá doanh nghiệp trở thành vấn đề vô
cùng cần thiết. Trên thế giới đã hình thành rất nhiều phương pháp khác nhau để
xác định giá trị doanh nghiệp. Nhưng trong điều kiện của Việt Nam hiện nay xác
định giá trị doanh nghiệp như thế nào và các phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp được sử dụng vẫn còn rất nhiều điều phải bàn cãi.

Chính vì vậy, trong quá trình thực tập tại công ty kiểm toán và tư vấn tài
chính kế toán kiểm toán AFC, em đã tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài cho
luận văn tốt nghiệp là:
“Thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty kiểm
toán và tư vấn tài chính kế toán AFC”
Đề tài tập trung nghiên cứu các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
thực tế được sử dụng tại công ty kiểm toán AFC thông qua một trường hợp minh
họa cụ thể, từ đó phân tích các thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-2-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Luận văn tốt nghiệp của em sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp dựa
trên những số liệu, tài liệu cụ thể được cung cấp trên công ty kết hợp với những
kiến thức em học ở trường, kinh nghiệm thực tế khi thực tập tại công ty AFC và
những nghiên cứu từ các nguồn thông tin khác.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn tốt nghiệp của em gồm các chương:
Chương 1_ Lý thuyết về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Chương 2_Thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tại
công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán AFC.
Chương 3_ Giải pháp hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp tại Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán AFC.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đàm Văn Huệ và các anh chị trong công
ty TNHH kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán AFC đã giúp đỡ em hoàn thành
Luận văn tốt nghiệp của mình.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A



Luận văn tốt nghiệp

-3-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Chương 1
Lý thuyết về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
1.1. Giá trị doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp

Xét theo lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp là chủ thể kinh tế
độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm
tăng giá trị của chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp là chủ thể quan trọng thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Con người sở hữu
doanh nghiệp, chính là sở hữu cách thức và phương tiện tạo ra lợi nhuận.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp được coi là một loại tài sản. Cũng
giống như các loại tài sản khác, doanh nghiệp cũng được đem ra mua bán, hợp
nhất, chia nhỏ… Do đó, doanh nghiệp cũng không nằm ngoài sự chi phối của các
quy luật thị trường, trong đó có quy luật giá trị. Giá cả của doanh nghiệp cũng
phải tuân theo quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Tuy nhiên khác với tài sản
thông thường, doanh nghiệp không phải là một kho hàng, doanh nghiệp còn là
một tổ chức kinh tế, một thực thể đang hoạt động. Do vậy, không chỉ gồm các tài
sản hữu hình, doanh nghiệp thực sự sở hữu các tài sản vô hình khác như giá trị
thương hiệu, bí quyết kinh doanh, quyền khai thác, tiềm năng phát triển của
doanh nghiệp trong tương lai… Vì thế khái niệm giá trị doanh nghiệp phải dựa
trên tài sản là doanh nghiệp đang hoạt động, mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-4-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

nên doanh nghiệp đó không thể tách rời, các yếu tố cấu thành hữu hình và vô
hình là một thể thống nhất.
1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp được định nghĩa là sự biểu hiện bằng tiền tại một thời
điểm nhất định về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho các
nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh.
Giá trị thực sự của doanh nghiệp phụ thuộc vào những quan niệm về giá
trị doanh nghiệp khác nhau của từng đối tượng khác nhau.
Một cách chung nhất, giá trị doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các
khoản thu nhập mà DN đem lại cho nhà đầu tư. Do đó giá trị doanh nghiệp khác
với giá bán doanh nghiệp_được đo bằng cung, cầu “hàng hoá DN”. Giá trị doanh
nghiệp vẫn tồn tại ngay cả khi không có hoạt động mua- bán DN, mà nó chủ yếu
được coi như một tiêu chí đánh giá các khoản thu nhập DN có khả năng đưa lại.
Giá trị doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, trong đó nhiều nhân tố
đòi hỏi sự đánh giá chủ quan, biến động, khó định lượng.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, bao gồm:
1.1.2.1 Yếu tố môi trường

 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
- Môi trường kinh tế:
Doanh nghiệp luôn tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể. Bối cảnh kinh
tế đó được nhìn nhận thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng
trưởng kinh tế, chỉ số giá cả, tỷ lệ ngoại tệ, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thị

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-5-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

trường chứng khoán… Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất như yếu tố
khách quan nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị doanh nghiệp lại là sự tác
động trực tiếp. Một sự thay đổi nhỏ của mỗi yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng
tới sự đánh giá về doanh nghiệp. Trong mỗi trường hợp, sự đánh giá về doanh
nghiệp, trong đó có giá trị doanh nghiệp sẽ khác nhau, và có khi bị đảo lộn hoàn
toàn.
- Môi trường chính trị:
Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong môi trường có sự
ổn định về chính trị ở mức độ nhất định. Chiến tranh, xung đột sắc tộc, tôn giáo,
tính thiếu minh bạch và công bằng trong cơ chế vận hành cũng như các yếu tố
trật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng có những tác động xấu đến mọi mặt của
đời sống xã hội chứ không riêng gì đối với sản xuất kinh doanh.
- Môi trường văn hoá xã hội:
Môi trường văn hoá được đặc trưng bởi những quan niệm, hệ tư tưởng của
cộng đồng về lối sống, đạo đức… được thể hiện trong quan niệm về “chân, thiện,
mỹ”; quan niệm về nhân cách, văn minh xã hội thể hiện trong tập quán sinh hoạt
và tiêu dùng.
Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi,
mật độ , sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn
đề nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…
Trên phương diện xã hội, doanh nghiệp ra đời là để đáp ứng những đòi hỏi
ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi doanh
nghiệp đang hoạt động. Chính vì thế, đánh giá về doanh nghiệp không thể bỏ qua
những yếu tố, những đòi hỏi bức xúc của môi trường văn hoá xã hội trong hiện

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-6-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

tại mà còn phải thực hiện dự báo được sự ảnh hưởng của yếu tố này đến sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.
- Môi trường khoa học công nghệ:
Sự tác động của kỹ thuật công nghệ đang làm thay đổi một cách căn bản các
điều kiện về quy trình công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh
trong các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, sự biến đổi về khoa học và công
nghệ không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đối với sự tồn tại của mỗi doanh
nghiệp. Sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm lĩnh những thành tựu khoa học mới
nhất có thể là nguyên nhân đưa doanh nghiệp mau chóng đến chỗ phá sản. Chính
vì thế, khi đánh giá về doanh nghiệp, đòi hỏi phải chỉ ra mức độ tác động của
môi trường này đến sản xuất kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp
trước những bước phát triển mới của khoa học công nghệ.
 Các yếu tố thuộc môi trường ngành:
- Quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng:
Thị trường là yếu tố quyết định đầu ra đối với sản phẩm của doanh nghiệp,
hay chính là quyết định khả năng phát triển, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.
Thị trường của doanh nghiệp được duy trì và phát triển khi mà mức độ bền vững
và uy tín của doanh nghiệp với khách hàng được đảm bảo. Do vậy muốn đánh
giá khả năng phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải
xác định tính chất mức độ bền vững và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ
với khách hàng, được đánh giá qua các yếu tố như sự trung thành và thái độ của
khách hàng, số lượng và chất lượng khách hàng…Căn cứ có sức thuyết phục cao
nhất là thị phần hiện tại, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ tiến triển
của các chỉ tiêu qua các thời kỳ kinh doanh khác nhau.
- Quan hệ doanh nghiệp với nhà cung cấp:
__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-7-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Doanh nghiệp phải trông đợi sự cung cấp từ phía bên ngoài các loại hàng
hoá, nguyên vật liệu, dịch vụ điện nước, thông tin, tư vấn… Tính ổn định của
nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ được
thực hiện theo yêu cầu mà doanh nghiệp định ra.
- Các hãng cạnh tranh:
Đối thủ cạnh tranh chính là nguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của doanh
nghiệp. Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có
những chính sách thích hợp để củng cố vị trí của mình trên thương trường. Đồng
thời phải có khả năng dự báo về việc xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới trong
tương lai.
- Các cơ quan Nhà nước:
Sự hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào luôn phải đặt dưới sự kiểm tra
giám sát của các cơ quan nhà nước, bao gồm cơ quan thuế, cơ quan thanh tra, cơ
quan môi trường…Doanh nghiệp có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức này tức là
đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với xã hội và cũng là biểu hiện doanh
nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh, lợi nhuận thu được chính đáng, có ảnh
hưởng tích cực tới giá trị của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Yếu tố nội tại DN

 Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp là biểu hiện của yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểu
đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và
tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng
sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Nói cách khác, khả năng cạnh tranh và

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-8-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

thu lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp và có tính chất quyết định
vào yếu tố này.
Mặt khác, giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và là
một sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị của doanh nghiệp. Vì thay cho việc dự
báo các khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc
nào để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó.
 Vị trí kinh doanh
Vị trí kinh doanh được đặc trưng bởi các yếu tố: địa điểm, diện tích, các chi
nhánh, yếu tố địa hình, thời tiết… Với vị trí thuận lợi doanh nghiệp có thể giảm
được nhiều khoản mục chi phí, đồng thời tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu
cầu thị hiếu của thị trường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu mãi… Trong thực tế, do
sự khác nhau về vị trí kinh doanh mà có sự chênh lệch rất lớn khi đánh giá về giá
trị doanh nghiệp.
 Uy tín kinh doanh- thương hiệu
Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh
nghiệp, được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau trong doanh nghiệp: chất
lượng sản phẩm, trình độ và năng lực quản trị kinh doanh, thái độ phục vụ tận
tình của nhân viên… Cùng sản xuất một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp do
có uy tín lớn có thể định giá cao cho sản phẩm của mình so với sản phẩm của các
doanh nghiệp khác không có được lợi thế này.
Có thể nói, khi đã xây dựng được uy tín-thương hiệu thì đó được coi như
một tài sản của doanh nghiệp vì nó góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Tài sản uy tín-thương hiệu có một giá trị nhất định. Vì vậy, uy tín-thương
hiệu của doanh nghiệp được thừa nhận như một yếu tố quan trọng cấu thành nên
giá trị của doanh nghiệp.
__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

-9-

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

 Chất lượng lao động
Trình độ và chất lượng của lao động là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp
đến chất lượng sản phẩm. Đồng thời, nhờ chất lượng lao động cao, doanh nghiệp
còn có thể giảm được chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí đào tạo, bồi dưỡng…
góp phần nâng cao thu nhập.
Vì vậy, khi đánh giá khả năng tồn tại, phát triển và tạo ra lợi nhuận của
doanh nghiệp cần thiết phải xem xét đến yếu tố chất lượng lao động, coi đó như
là yếu tố nội tại quyết định đến giá trị doanh nghiệp.
 Năng lực quản trị kinh doanh
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy
quản lý đủ mạnh để có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tận dụng mọi tiềm
năng và cơ hội nảy sinh, biến thách thức thành cơ hội, ứng phó linh hoạt với
những biến động của môi trường kinh doanh. Năng lực quản trị kinh doanh tổng
hợp của doanh nghiệp có thể thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính doanh
nghiệp. Vì vậy việc phân tích một cách toàn diện tình hình tài chính doanh
nghiệp sẽ trợ giúp cho việc đưa ra các kết luận về giá trị doanh nghiệp.
1.2. Xác định giá trị doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm xác định giá trị doanh nghiệp:

Doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mục đích sở hữu doanh
nghiệp vì thế cũng là vì mục tiêu lợi nhuận. Tiêu chuẩn để nhà đầu tư quyết định
bỏ vốn là đánh giá hiệu quả hoạt động, đánh giá các khoản thu nhập mà doanh
nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai hay chính là việc xác định
giá trị doanh nghiệp. Vậy xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin
cậy cao nhất các khoản thu nhập mà DN có thể tạo ra trong quá trình sản xuất
__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 10 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

kinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thị trường
tại một thời điểm nhất định.
Xác định giá trị doanh nghiệp là công việc ước tính. Điều nay cho thấy
không thể có được giá trị doanh nghiệp chính xác một cách tuyệt đối. Giá trị
doanh nghiệp chỉ ở mức hợp lý nhất trong điều kiện các thông tin, bằng chứng
thu thập được phục vụ cho việc phân tích đưa ra các phương pháp xác định giá
trị doanh nghiệp phù hợp với những thông tin đó.
1.2.2 Sự cần thiết của việc xác định giá trị doanh nghiệp

Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu định giá doanh nghiệp ngày càng
nảy sinh một cách tự nhiên từ nhiều đối tượng trong nền kinh tế. Trên thế giới
xuất phát ban đầu của nhu cầu định giá doanh nghiệp là từ quá trình mua bán, sát
nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp. Giống như mua bán một mặt hàng
bình thường, người ta phải xác định giá trị của nó để có được giá cả phù hợp.
Đây là giao dịch diễn ra có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị
trường, phản ánh nhu cầu về đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, cũng như
nhu cầu để tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong môi trường tự do cạnh
tranh, các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau, sát nhập hoặc chia tách để tận
dụng lợi thế của nhau về thị trường, nhân lực, vốn… để vững chắc và lớn mạnh
trên thị trường. Giá trị của doanh nghiệp được đánh giá trên một phạm vi lớn có
tính đến tất cả các yếu tố tác động tới doanh nghiệp. Vụ mua bán sát nhập chia
tách diễn ra dựa trên cơ sở giá trị doanh nghiệp đã thương thuyết giữa các bên.
Đặc biệt trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định giá trị
doanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành chuyển

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 11 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

đổi loại hình sở hữu như cổ phần hoá, sát nhập, hợp nhất, giao bán, khoán và cho
thuê.
Xét sự cần thiết của định giá từ các đối tượng trong nền kinh tế có liên quan
đến nhu cầu định giá doanh nghiệp, đó là những nhà đầu tư, người cung cấp, bản
thân nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô.
- Đối với nhà đầu tư, người cung cấp:
Thông tin về giá trị doanh nghiệp cho sự đánh giá tổng quát về khả năng
tài chính, uy tín kinh doanh, rủi ro và vị thế tín dụng. Từ đó nhà đầu tư có quyết
định có tiếp tục đầu tư, nhà cung cấp có tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào, cấp
tín dụng cho doanh nghiệp nữa hay không. Giá trị doanh nghiệp quyết định giá
cả cổ phiếu trên thị trường. Nếu nhà đầu tư định giá được đúng giá trị của doanh
nghiệp thì sẽ thu được lợi suất đầu tư mong muốn.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp:
Thông tin về giá trị doanh nghiệp giúp các nhà quản trị phân tích đánh giá
trước khi đưa ra các quyết định về kinh doanh và tài chính có liên quan đến
doanh nghiệp. Từ giá trị doanh nghiệp của mình họ sẽ có cơ sở để so sánh giá trị
đó với doanh nghiệp khác, từ đó thấy được vị trí và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Quyết định kinh doanh đúng đắn của các nhà quản
trị phải dựa trên nhận thức sâu sắc về vị trí và những điểm mạnh, điểm yếu của
doanh nghiệp mình.
- Đối với các nhà quản lý, hoạch định kinh tế vĩ mô:
Trên phương diện quản lí vĩ mô, thông tin về giá trị doanh nghiệp là một
căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức đánh giá tính ổn
định của nền kinh tế, của thị trường, nhận dạng hiện tượng đầu cơ, thao túng thị

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 12 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

trường… Theo dõi sự biến đổi giá trị doanh nghiệp sẽ rất hữu ích trong việc dự
báo sự thay đổi của thị trường.
Như vậy định giá doanh nghiệp đang ngày càng trở nên không thể thiếu
trước sự tăng trưởng kinh tế, khi mà số lượng các doanh nghiệp mua bán, sát
nhập, cổ phần hoá đang nhiều dần lên cùng với nhu cầu thông tin từ nhiều đối
tượng trong nền kinh tế.
1.2.3 Các phương pháp chung để xác định giá trị doanh nghiệp

Xác định giá trị doanh nghiệp là gì tuỳ thuộc vào từng quan niệm về giá trị.
Xác định giá trị doanh nghiệp hiện nay có thể sử dụng nhiều phương pháp,
nhưng điểm chung là các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đều phải có
cơ sở khoa học, chặt chẽ và có thể chấp nhận được. Nhìn chung các phương pháp
xác định giá trị doanh nghiệp hiện nay dựa trên một trong hai cách tiếp cận là:
+ Đánh giá giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp trong điều kiện
doanh nghiệp còn tiếp tục hoạt động, do đó có tính đến khả năng sinh lời của tài
sản trong tương lai.
+ Lượng hoá các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư,
người cho vay.
Sau đây là các phương pháp chung để xác định giá trị doanh nghiệp:
1.2.3.1 Phương pháp giá trị tài sản ròng

 Cơ sở lý luận:
Lý luận thực tiễn cho rằng nếu giá trị doanh nghiệp cao hơn giá trị đầu tư
cần thiết để xây dựng nên nó thì các chủ đầu tư sẽ lựa chọn phương án xây dựng
mới doanh nghiệp thay vì mua lại doanh nghiệp đó. Từ đó các nhà định giá đã đề
ra nguyên lý chung cho phương pháp định giá theo giá trị tài sản: “Giá trị của
__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 13 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

một doanh nghiệp bằng với giá trị đầu tư cần thiết (hữu hình và vô hình) để lập
nên doanh nghiệp đó”.
Trong các phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản thì phương
pháp giá trị tài sản ròng (NAV) được sử dụng phổ biến và dựa trên cơ sở là:
- Doanh nghiệp về cơ bản giống như một loại tài sản thông thường.
- Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành dựa trên cơ
sở một lượng tài sản có thực. Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể
cho sự tồn tại của doanh nghiệp, cấu thành nên thực thể của doanh nghiệp.
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà
đầu tư khi thành lập và tiếp tục được bổ sung trong quá trình hoạt động. Cơ cấu
nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp
lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với tài sản đó.
Vì vậy giá trị doanh nghiệp được tính bằng tổng giá trị thị trường của số
tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh.
 Phương pháp xác định:
 Phương pháp 1:
Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng
Giá trị tài sản ròng (NAV) có thể được tính theo hai cách:
Cách 1: Căn cứ vào giá trị sổ sách
NAV = Tổng giá trị tài sản có - Tổng các khoản nợ phải trả
 Đánh giá
Ưu điểm:
- Việc định giá tài sản không đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp, giá trị của
các yếu tố vô hình là không đáng kể.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 14 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

- Có được giá bán doanh nghiệp tối thiểu, giá này có thể coi là mức giá sàn
trong đàm phán về giá trị doanh nghiệp.
Hạn chế:
- Nếu chỉ căn cứ vào số liệu trên bảng cân đối kế toán thì sẽ không thu được
kết quả chính xác tại thời điểm định giá. Bởi doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ
kế toán thì những số liệu đó cũng chỉ là phản ánh trung thực chi phí phát sinh
tại thời điểm xảy ra các nghiệp vụ kinh tế trong quá khứ của kỳ kế toán chứ
không còn phù hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không có
lạm phát.
- Giá trị còn lại của TSCĐ phản ánh trên sổ sách kế toán cao hay thấp phụ
thuộc vào việc doanh nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao nào, thời điểm
doanh nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọ kinh tế của TSCĐ.
Vì vậy, giá trị TSCĐ phản ánh trên sổ kế toán thường không phù hợp với giá trị
thị trường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
- Cách sử dụng giá hạch toán là giá mua đầu kỳ, cuối kỳ hay thực tế bình
quân; tiêu thức phân bổ chi phí… sẽ ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá vật tư,
công cụ lao động… Do vậy, số liệu kế toán phản ánh giá trị của chúng sẽ không
đủ độ tin cậy tại thời điểm định giá.
Vì những hạn chế cơ bản như vậy của cách xác định giá trị tài sản thuần
theo số liệu của bảng cân đối kế toán mà giá trị tính được chỉ được coi như một
tài liệu tham khảo.
Cách 2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá trị thị trường
Để xác định giá trị tài sản ròng theo giá thị trường, nhà định giá sẽ loại khỏi
danh mục định giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 15 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

yêu cầu của nhà sản xuất kinh doanh. Sau đó, công việc định giá sẽ được tiến
hành:
- Đối với TSCĐ và TSLĐ là hiện vật thì đánh giá theo giá thị trường
nếu trên thị trường hiện có bán những tài sản như vậy. Trong thực tế thường
không tồn tại thị trường TSCĐ cũ, đã qua sử dụng ở nhiều mức độ khác
nhau. Khi đó người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất
của tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ dựa trên giá trị của TSCĐ mới.
Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì nhà định giá sẽ
áp dụng một hệ số quy đổi so với những TSCĐ khác loại nhưng có tính
năng tương đương.
- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu
số dư trên tài khoản. Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ
giá thị trường tại thời điểm định giá. Các loại tài sản như vàng, kim loại
quý, đá quý… cũng được tính toán tương tự.
- Các khoản phải thu: Do khả năng thu hồi của các khoản này là
không đồng nhất nên ta phải tìm cách loại bỏ những khoản nợ không có khả
năng thu hồi hay khả năng thu hồi là quá mong manh bằng việc: đối chiếu
công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải
thu.
- Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Nếu khoản
đầu tư không quá lớn, có thể dựa trên giá tri chứng khoán, hoặc dựa theo số
liệu của bên đối tác liên doanh. Nếu khoản đầu tư khá lớn, cần thực hiện
đánh giá một cách toàn diện về giá trị của khoản đầu tư đó trong việc tạo
nên giá trị doanh nghiệp.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 16 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

- Đối với tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: tính theo
phương pháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai.
 Phương pháp 2:
GTDN =V2 =(Giá trị tài sản ròng + Giá trị khả năng sinh lời) /2
Giá trị khả năng sinh lời = LN ròng hàng năm dự tính thu được
Hệ số sinh lời
Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm dự tính thu được =

∑ LNi
n

o LNi: Lợi nhuận ròng dự tính thu được năm i
o n: số năm dự tính
o Hệ số sinh lời là tỷ lệ quy đổi giá trị các khoản lợi nhuận trong tương
lai về hiện tại hay chính là lãi suất chiết khấu.
Phương pháp này là phương pháp kết hợp giữa hai phương pháp định giá
dựa trên giá trị tài sản ròng và dựa trên thu nhập. Giá trị thu được là giá trị bình
quân của hai giá trị tương ứng theo hai phương pháp.
 Phương pháp 3:
Giá trị doanh nghiệp = ( V2 + Giá trị tương đối )/2
o V2: giá trị doanh nghiệp tính theo phương pháp 2
Giá trị tương đối =

P1 × ( LN 0 / LN1 + NAV 0 / NAV1 )
2

o P1 : Giá cổ phiếu bình quân nhóm công ty cùng quy mô, lĩnh vực
o LN 0 : Lợi nhuận ròng của công ty định giá
o LN1 : Lợi nhuận ròng của nhóm công ty so sánh
o NAV 0 : Giá trị tài sản ròng của công ty định giá

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 17 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

o NAV1 : Giá trị tài sản ròng bình quân của nhóm công ty so sánh
Phương pháp này là sự kết hợp của phương pháp 2 với phương pháp định
giá theo giá trị tương đối. Giá trị tương đối được xác định dựa trên cơ sở so sánh
với các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh dựa trên các số liệu theo công thức đã
nêu.
Ba phương pháp đã trình này trên đây sẽ đưa đến những kết quả giá trị
doanh nghiệp khác nhau. Ta nhận thấy phương pháp 3 là sự kết hợp của phương
pháp 1 và phương pháp 2 trong đó có tính đến các yếu tố đặc thù của ngành mà
doanh nghiệp hoạt động, tiềm năng lợi nhuận, mức độ rủi ro của từng công ty. Ở
một khía cạnh nào đó, giá trị doanh nghiệp tính được theo phương pháp 3 có tính
bao quát hơn hai phương pháp trước. Nhưng việc lựa chọn phương pháp nào để
kết quả thu được là chính xác và hợp lý nhất thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
 Đánh giá phương pháp giá trị tài sản ròng:
Hạn chế:
-

Theo cách này, giá trị doanh nghiệp chỉ thuần tuý là một phép cộng

tổng các tài sản bên trong doanh nghiệp tại thời điểm tính giá trị. Phương
pháp này đã đánh giá doanh nghiệp ở một trạng thái tĩnh, doanh nghiệp
không được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại và có thể hoàn
chỉnh và phát triển trong tương lai. Vì vậy mà nó không phù hợp với một
tầm nhìn chiến lược về doanh nghiệp. Một trong những mục tiêu của định
giá là nhìn thấy khả năng sinh lời của doanh nghiệp và giá trị NAV không
đủ để thoả mãn yêu cầu đó.
-

Nếu chỉ xét đến giá trị NAV thì ta đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi

vật chất nhưng lại có giá trị thực sự và nhiều khi chiếm giá trị rất lớn trong
giá trị doanh nghiệp, đó là trình độ quản lý, trình độ công nhân, uy tín, thị
__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 18 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

phần…
-

Trong nhiều trường hợp, xác định giá trị tài sản thuần lại trở nên

quá phức tạp. Chẳng hạn như khi một tập đoàn có nhiều chi nhánh, hay một
số loại tài sản không có trên thị trường, thì sẽ khó khăn trong định giá. Lúc
này công việc đánh giá đòi hỏi sự dàn trải, tốn kém thời gian, chi phí, sai số
đánh giá đối với các tài sản có tính đặc thù trong sản xuất kinh doanh do các
chuyên gia trong ngành đưa ra.
Ưu điểm:
-

Phương pháp giá trị tài sản thuần chỉ ra giá trị của những tài sản cụ

thể cấu thành doanh nghiệp. Giá trị tài sản đó là căn cứ cụ thể, có tính pháp
lý rõ ràng nhất về khoản thu nhập mà người mua chắc chắn nhận được khi
sở hữu doanh nghiệp hay số tiền mà người mua bỏ ra luôn được đảm bảo
bằng một lượng tài sản có thật.
-

Phương pháp này cho ta thấy giá trị thị trường của tài sản có thể bán

rời tại thời điểm đánh giá. Đây cũng là mức giá thấp nhất, là cơ sở đầu tiên
để các bên liên quan đưa ra trong quá trình giao dịch và đàm phán về giá
bán doanh nghiệp.
-

Đối với doanh nghiệp nhỏ có số lượng tài sản không quá khổng lồ,

không yêu cầu những kỹ thuật phức tạp trong định giá, giá trị yếu tố vô hình
không đáng kể, chiến lược kinh doanh không rõ ràng, thiếu căn cứ xác định
các khoản thu nhập trong tương lai thì đây là một phương pháp khá thích
hợp để đưa ra giá trị cơ bản trong bước đầu đàm phán, thương lượng, mua
bán doanh nghiệp.
-

Phương pháp 2: đã tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 19 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Phương pháp 3: đã tính đến yếu tố so sánh giữa các doanh nghiệp
trong cùng ngành và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Nhưng trên thực tế, đối với những nước chưa có thị trường chứng khoán
phát triển thì các phương pháp 1,2,3 đều có thể sử dụng với mục đích tham
khảo và so sánh.
1.2.3.2 Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai

Cơ sở lý thuyết của phương pháp xuất phát từ quan niệm: giá trị của một
doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có
thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Song do khái niệm “giá trị thời gian
của tiền” nên người ta phải thực hiện quy đổi các khoản thu nhập về cùng một
thời điểm hiện tại. Theo đó, giá trị doanh nghiệp được xác định dựa trên công
thức tổng quát:
n

V0 = ∑
t =1

Ft
(1 + i ) t

o Vo: Giá trị doanh nghiệp
o Ft: Luồng tiền đem lại cho nhà đầu tư ở năm thứ t
o i: Tỷ suất hiện tại hoá ( Tỷ suất chiết khấu)
o n: số năm nhận được thu nhập
Xuất phát từ công thức trên, tuỳ theo chiến lược của mỗi nhà đầu tư khác
nhau mà người ta phát triển và vận dụng công thức trên theo nhiều cách khác
nhau. Bởi vậy nguyên lý trên có thể triển khai theo một trong nhiều phương pháp
cụ thể sau:

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 20 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

a. Phương pháp định giá chứng khoán

 Quan điểm cơ bản:
Năm 1962, M.I.Gordon đã đưa ra công thức lượng giá chứng khoán vô cùng
nổi tiếng. Ý nghĩa của công thức đó là: Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua chứng khoán
không phải là để đổi lấy những tài sản hiện có trong doanh nghiệp mà để đổi lấy
những khoản thu nhập trong tương lai.
Giá trị thực sự của một chứng khoán phải được đánh giá bằng độ lớn của
khoản thu nhập mà nhà đầu tư chắc chắn sẽ nhận được từ chính doanh nghiệp đó,
không phải do yếu tố đầu cơ chứng khoán.
Giá trị doanh nghiệp sẽ bằng tổng giá trị các loại chứng khoán mà doanh
nghiệp đã phát hành.
 Phương pháp xác định:
Công thức tổng quát xác định giá trị thực của các loại chứng khoán:
n
Rt
Rt
R1
R2
PV0 =
+
+
...
+
=

(1 + i ) (1 + i ) 2
(1 + i ) t t =1 (1 + i ) t

o PVo : giá trị thực của một chứng khoán
o Rt : thu nhập của một chứng khoán ở năm thứ t
o i : tỷ số hiện tại hóa
o n : số năm nhận được thu nhập
 Xác định giá trị thực của trái phiếu:
Trái phiếu là một loại chứng chỉ vay nợ, thể hiện nghĩa vụ của người phát
hành trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền lãi nhất định và khoản tiền
gốc khi đến hạn.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 21 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Trái phiếu có nhiều loại khác nhau song đặc điểm chung của các loại trái
phiếu là: lợi tức cố định, có giá trị đáo hạn, thời hạn và thời điểm hoàn trả tiền
lãi, gốc thường được xác định từ trước.
Ta có thể triển khai công thức tính giá trị trái phiếu như sau:

 R
R  P
R
PV0 =  1 + 2 2 + ... + n n  + n n
(1 + i)  (1 + i)
 (1 + i) (1 + i)
o Pn : mệnh giá trái phiếu phải trả vào năm thứ n
Vì mức lợi tức trái phiếu thường được coi là ổn định hàng năm, tức là:

R1 = R2 = ... = Rt = ... = Rn = R
Vì thế ta có công thức như sau :

R
Pn
Pn
1 − (1 + i )
PV0 = ∑ t t +
=
R
×
+
i
(1 + i ) n
(1 + i ) n
t =1 ( 1 + i )
n

n

1 − (1 + i )
i
Trong công thức trên,

n

được coi là thừa số hiện tại hoá, và bằng

1
n
tổng của một cấp số nhân có công bội (1 + i )

 Xác định giá trị cổ phiếu:
Cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông với công ty cổ
phần.
Cổ phiếu có một số điểm khác biệt so với trái phiếu là:
- Không thể xác định trước các khoản lợi tức cổ phần hàng năm.
- Không có thời điểm đáo hạn

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 22 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

- Cổ đông chỉ có thể nhận về phần vốn của mình khi doanh nghiệp bị
thanh lý, phá sản hoặc bán lại cổ phiếu của mình vào một thời điểm
trong tương lai.
Do vậy xuất hiện những khó khăn cơ bản khi áp dụng công thức tổng quát ở
trên, đó là:
- Phải dự báo được các khoản thu nhập (Rt) dưới hình thức lợi tức cổ phần
hàng năm và giá trị bán lại của cổ phiếu hoặc giá trị cổ phiếu tại thời
điểm thanh lý, phá sản doanh nghiệp trong tương lai.
- Đầu tư cổ phiếu là loại đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro, vì thế không thể
sử dụng tỷ suất hiện tại hoá (i) như đối với trái phiếu.
- Công thức tổng quát làm nên một tổng không xác định do cổ phiếu là
một loại chứng khoán không có thời điểm đáo hạn.
Vì những khó khăn cơ bản như trên mà công thức tổng quát không mang
tính thực tiễn.
 Lý thuyết được xây dựng thêm để khắc phục khó khăn:
 Giả định 1 : doanh nghiệp có thể chi trả lợi tức cổ phần ổn định hàng
năm là d
n

n
Rt
1
PV0 = ∑
= d×∑
t
t
t =1 ( 1 + i )
t =1 (1 + i )

Cho

t → +∞

, ta có:

1
d
(1 + i) + ∞ d
PV0 =
×
=
1
1+ i
i
1−
1+ i
1−

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 23 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

 Giả định 2 : lợi tức cổ phiếu chi trả hàng năm tăng một cách đều đặn
theo một tỷ lệ ổn định là k (k < i ).

PV0 =

d
d1
d
+ 2 2 + ... + n n
(1 + i) (1 + i)
(1 + i)

d1
d1 (1 + k )
d1 (1 + k ) ( n−1)
PV0 =
+
+ ... +
(1 + i ) (1 + i ) 2
(1 + i) n
 1 + k (1 + k ) 2
d1
(1 + k ) n−1 
PV0 =
× 1+
+
+ ... +
(1 + i )  1 + i (1 + i ) 2
(1 + i ) n−1 
Cho

t → +∞

ta có:

 (1 + k ) n
1 − (1 + i ) n
d1
PV0 =
×
(1 + i )  1 − 1 + k

1+ i



k
 = d1
 i−k



Công thức cuối cùng trên dựa trên lập luận rằng: tăng trưởng và phát triển là
động cơ mà mọi doanh nghiệp phải đi theo, nhất là tăng trưởng một cách đều đặn
và vững chắc. Vì vậy giả định lợi tức cổ phần tăng một cách đều đặn hàng năm
là sự phản ánh khuynh hướng và thực trạng có thật trong nhiều doanh nghiệp.
 Giả định 3 : Lợi tức cổ phiếu hàng năm tăng không đều đặn
Tăng trưởng và phát triển là xu hướng chung của các doanh nghiệp, song đó
chỉ là xu hướng. Cho dù các doanh nghiệp có duy trì chính sách phân chia lợi tức
cổ phần một cách ổn định thì trong thực tế lợi nhuận thuần và lợi tức cổ phần
giữa các năm đạt được cũng thường không đều nhau.
Giả định trong n năm đầu doanh nghiệp đạt tỷ lệ tăng lợi tức cổ phần là k
(k>i), còn từ năm thứ n+1 trở đi thì tăng với tỷ lệ k’(k’__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp

- 24 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Ta có công thức cuối cùng như sau:

 (1 + k ) n − (1 + i ) n (1 + k ) n−1 × (1 + k t ) 
d1
PV0 =
×


(1 + i ) n 
k −i
1− kt

 Đánh giá:
Ưu điểm:
-

Phương pháp định giá chứng khoán có thể đánh giá được giá cả

chứng khoán trên thị trường có đi quá xa so với giá trị thực hay không.
-

Phương pháp định giá chứng khoán đặc biệt phù hợp với quan điểm

nhìn nhận và đánh giá về giá trị doanh nghiệp của các nhà đầu tư thiểu số.
Trong thực tế, nhà đầu tư thiểu số có thể trông thấy những triển vọng tiềm
ẩn lớn lao về khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Song do tính chất thiểu
số, họ không thể can thiệp vào những vấn đề có ảnh hưởng lớn tới doanh
nghiệp. Do vậy giá trị của một nhà đầu tư thiểu số được tính bằng giá trị
hiện tại của các khoản lợi tức cổ phần mà doanh nghiệp sẽ trả trong tương
lai.
-

Phương pháp này tỏ ra thích hợp với những doanh nghiệp có chứng

khoán được giao dịch trên thị trường và việc xác định giá trị doanh nghiệp
bằng những phương pháp khác gặp nhiều khó khăn.
Hạn chế:
-

Đối với cổ phiếu, mặc dù đã xây dựng một hệ thống các lý thuyết

dựa trên các giả định song việc dự báo lợi tức cổ phần không phải là dễ
dàng. Cổ phiếu là loại chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Vì thế giả
thuyết về sự tăng trưởng ổn định không thuyết phục được các nhà thực
hành.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Luận văn tốt nghiệp
-

- 25 -

GVHD: PGS.TS.Đàm Văn Huệ

Để xác định lợi tức cổ phần còn phải xây dựng được một lý thuyết

định hướng phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai. Chính sách phân chia
lợi tức cổ phần phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: nhu cầu đầu tư, nhu cầu trả
nợ, khả năng tích lũy từ khấu hao, chính sách thuế thu nhập của nhà nước…
Việc tính toán đến các yếu tố này cũng không đơn giản, nhất là khi các nhà
đầu tư lại là cổ đông thiểu số, không có quyền quyết định tới chính sách
phân chia lợi tức cổ phần.
-

Việc định lượng tham số t bằng cách cho t → +∞ nói chung là

không đúng trong thực tế.
b. Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần

 Cơ sở lý luận:
Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần là phương pháp xác định giá trị
doanh nghiệp trên cơ sở quan niệm đầu tư vào doanh nghiệp giống như đầu tư
vào một dự án, tức là đầu tư quản lý doanh nghiệp trên góc độ của nhà đầu tư đa
số - người có quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Quá trình SXKD là quá trình phát sinh các dòng tiền vào và ra được biểu
diễn như sau:
(+A)

(+A)

(+A)
(+A)
…..
(+A)

(-A)

(+A) Dòng tiền vào
TGian
(-A) Dòng tiền ra

(-A)
(-A)

Sơ đồ biểu diễn dòng tiền của dự án đầu tư.

__________________________________________________________________
Ngô Thị Thuỳ Dương
Lớp: TCDN 46A


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×