Tải bản đầy đủ

HỆ VI SỢI VÀ VI ỐNG

Hệ vi sợi và vi ống trong tế bào
Hoa Mr tháng 1 05, 2013 Tế bào học
1. Vi ống (microtubule)
Vi ống phổ biến ở các loại tế bào khác nhau, vì vậy, người ta xem chúng là cấu
trúc cố định của tế bào. Số lượng, vị trí và hướng sắp xếp của chúng trong các tế
bào khác nhau rất khác nhau.
Vi ống có cấu trúc hình ống rỗng ở giữa, chiều dài có khi đạt tới 2,5µm, đường
kính từ 150 - 300Å, lòng ống rộng từ 100 - 200Å, thành ống dày 40 - 60Å.

Vi ống thường nằm ở lớp ngoài của tế bào chất, sát với tơ cơ (tế bào cơ vân),
hoặc theo trục dọc của tế bào (tế bào biểu bì), hoặc theo kiểu phóng xạ. Vi ống
liên quan chặt chẽ với ty thể, trung tử, mạng lưới nội sinh chất và với màng
nhân.
Vi ống có vai trò như bộ xương của tế bào, có nhiệm vụ nâng đỡ tế bào, đồng
thời có vai trò là hàng rào để định khu các bào quan trong tế bào, ngoài ra còn
có vai trò chuyên chở và vận động tế bào chất.
Rosh (1970) cho rằng tính chất đa chức năng của vi ống là do khả năng biến đổi
hình thù không gian của ống protein của vi ống.
2. Tơ cơ (miofibrin)
Có thể xem tơ cơ là cấu trúc của tế bào được phân hoá làm chức năng co rút. Có
dạng tơ cơ: tơ cơ trơn và tơ cơ vân. Tơ cơ trơn tạo nên cơ trơn, tơ cơ vân có cấu

trúc vân ngang tạo nên cơ vân. Hai loại này phổ biến ở động vật đa bào.
Tơ cơ trơn đặc trưng cho các nội quan ở động vật có xương sống và cơ thể của
nhiều động vật không xương sống bậc thấp. Tơ cơ vân tạo nên cơ của cơ thể
cũng như cơ tim của động vật có xương sống và động vật chân khớp.
- Tơ cơ vân có cấu trúc sợi, trên chiều dọc có xếp xen kẽ nhiều giải ngang hay là
đĩa. Một số đĩa rộng và tối, còn các đĩa khác hẹp và sáng.
- Dưới kính hiển vi phân cực, các đĩa tối thể hiện tính lưỡng chiết quang, vì vậy
có tên gọi là đĩa A (Anisotropie). Các đĩa sáng thì không thể hiện tính lưỡng
chiết quang nên có tên gọi là đĩa I (Isotrope). Các đĩa A và I lần lượt nằm xen kẽ
nhau suốt chiều dài tơ cơ.


Tơ cơ thường có đường kính vào khoảng 1 - 2µm và dài khoảng 10 - 20µm cho
đến vài mm hoặc vài cm.
Mỗi đĩa A lại được chia làm đôi bởi 1 giải ngang được gọi là giải H, các đĩa I ở
chính giữa cũng được chia làm đôi bởi một giải có tên là tấm Z. Đoạn tơ cơ
được giới hạn bởi hai đầu tấm Z được gọi là 1 tiết cơ (sarcomere). Như vậy, có
thể xem tiết cơ là đơn vị cấu trúc tuyến tính của tơ cơ (hình 9.9).
Các tơ cơ nằm trong tế bào chất của tế bào cơ, lớp tế bào này được gọi là cơ
chất (sarcoplasma), trong đó có nhân tế bào, các ty thể và các bào quan khác.
Dưới kính hiển vi điện tử cấu trúc siêu hiển vi của tơ cơ vân ở tất cả các động
vật thuộc các bậc phân loại khác nhau nói chung đều giống nhau. Mỗi một tơ cơ
gồm rất nhiều sợi bé hơn gọi là tiểu tơ cơ (protofibrin). Tiểu tơ cơ chia làm hai
loại:
+ Tiểu tơ cơ dày có cấu trúc protein miozin.
+ Tiểu tơ cơ mảnh gồm protein actin.
Chính các tiểu tơ cơ quyết định cấu trúc các đĩa và giải của tơ cơ vân. Tiểu tơ cơ
dày chỉ có ở đĩa A đi qua giải H; tiểu tơ cơ mảnh thì chạy suốt đĩa I và xuyên
qua đĩa A xen kẽ với tiểu tơ cơ dày cho đến giải H. Như vậy, giải H là vùng chỉ
có tiểu tơ cơ dày, đĩa I là vùng chỉ có tiểu tơ cơ mảnh và đĩa A là vùng có chứa
cả tiểu tơ cơ dày và tiểu tơ cơ mảnh.
- Tơ cơ trơn: khác với tơ cơ vân, các tơ cơ trơn chỉ gồm có một loại tiểu tơ cơ,
có đường kính vào khoảng 1000Å và có chiều dài bằng chiều dài cơ trơn.
- Chức năng: sự vận động của hai tiểu tơ cơ (actin và miozim) là tương đối với
nhau. Đó là cơ sở của nhiều kiểu vận động như: sự co cơ, sự di chuyển kiểu
amip, sự thắt lại giữa tế bào khi phân chia, cũng như sự vận chuyển các túi nhỏ
trong tế bào.
- Các vi sợi chỉ gồm có actin đóng vai trò cấu trúc. Chúng tạo nên sườn nội bào
(cytoskeleton) là một hệ thống các rãnh phức tạp giúp duy trì hình dạng tế bào.
3. Tơ nâng đỡ (tonofibrin)


Tơ nâng đỡ thường gặp ở nhiều tế bào của cơ thể đa bào, ví dụ ở tế bào thượng
bì, ở tế bào sinh vật đơn bào.


Tơ nâng đỡ có cấu trúc sợi và thường gồm những bó sợi có kích thước siêu hiển
vi xếp song song; mỗi sợi có đường kính từ 60 - 150Å. Mỗi bó sợi có hàng trăm
sợi siêu hiển vi.
Ở tế bào thượng bì, tơ nâng đỡ xếp thẳng góc với màng tế bào và không xuyên
qua màng sang tế bào bên cạnh.
Tơ nâng đỡ có chức năng nâng đỡ (ví dụ ở tế bào đơn bào) hoặc có vai trò tăng
cường mối liên hệ giữa các tế bào (đối với tế bào thượng bì).
4. Tiên mao (flagella) và tiêm mao (cillia)
Tiên mao và tiêm mao thường nằm trên bề mặt của tế bào, đó là cơ quan vận
động của tế bào, đặc biệt là sinh vật đơn bào.

Về cấu trúc giữa tiên mao và tiêm mao
không khác nhau, chúng chỉ khác nhau về kích thước và số lượng. Khi trên bề
mặt tế bào có số lượng nhiều nhưng ngắn thì gọi là tiêm mao, khi có số lượng ít
và dài thì gọi là tiên mao.
Tiêm mao có ở thảo trùng, ở tế bào sinh vật đa bào, ví dụ như ở tế bào biểu mô
có lông tơ lót ống tiêu hoá, lót ống hô hấp, ống sinh dục... Tiên mao có nhiều ở
sinh vật đơn bào, tinh trùng.
Tiên mao và tiêm mao đều được bao bởi 1 lớp màng có cấu trúc 3 lớp - chính là
do sự kéo dài của màng tế bào mà thành. Bên trong có cấu trúc sợi. Các sợi sắp
xếp theo sơ đồ được trình bày trong hình 9.10.


Sơ đồ cho thấy phía trong màng có 9 cặp vi ống nằm ngoài dày 300Å. Ở chính
giữa có 2 sợi trung tâm được bọc trong một bao trung tâm dày 150Å. Ở giữa sợi
ngoại vi và sợi trung tâm có 9 sợi thứ cấp nhỏ hơn.
Chức năng: là cơ quan vận động của tế bào. Năng lượng cần cho hoạt động của
chúng cũng là ATP.
Thành phần hoá học chủ yếu của tiên mao và tiêm mao là protein, ngoài ra còn
có lipid.
Protein và lipid là 2 thành phần chủ yếu tạo nên sợi microfibrin và sợi falagelin.
Falagelin tương ứng
với myosin của sợi cơ (ở đây không có actin). Tiên mao và tiêm mao có thể
rụng đi, mất đi và loại mới sẽ dược phát triển từ chất nền. Thể nền có nguồn gốc
từ trung tử.
5. Trung thể (centrosome)
a. Cấu tạo
Trung thể còn gọi là trung tâm tế bào (cytocentrom), là bào quan có trong tất cả
tế bào động vật đa bào, đơn bào và trong tế bào một số thực vật (tảo, nấm, rêu,
dương xỉ và một số hạt trần). Trong tế bào của thực vật hạt kín, người ta chưa
quan sát thấy trung thể, tuy rằng, có một số tác giả có mô tả các cấu trúc tương
tự.
Trung thể tồn tại trong tế bào chất ngay cả trong thời gian tế bào không phân
chia, và xuất hiện rõ khi phân chia nguyên nhiễm (mitose).
Trong tế bào không phân chia thì trung thể có trong tế bào chất, nằm cạnh nhân
và ở giữa có 2 hạt bắt màu sáng nằm vuông góc với nhau gọi là trung tử (9.13).
Trung tử (centriole) có kích thước từ 0,2 - 0,3µm. Dưới kính hiển vi điện tử,
trung tử xuất hiện như cái ống trụ tròn, dài 0,3 - 0,6µm và đường kính 1000 2000Å. Thành ống được cấu tạo bởi 9 nhóm ống nhỏ, mỗi nhóm có 3 ống nhỏ.
Trong 3 ống có 1 ống hoàn chỉnh (A) dính với 2 ống không hoàn chỉnh (B,C)
(hình 9.14 và 9.15).
b. Chức năng
Trung tử đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân bào. Trong quá trình
phân bào, trung tử phân chia và di chuyển về 2 cực đối lập của tế bào và hoạt
động như tâm điểm cho thoi vô sắc và hình thành nhân của tế bào con. Tuy
nhiên, những tế bào không có trung tử thoi vô sắc cũng được hình thành.


Theo GTTBH
Nguồn: http://www.blogsinhhoc.com/2013/01/te-bao-vi-ong.html



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×