Tải bản đầy đủ

Phân tích phương thức đấu thầu quốc tế và đánh giá tình hình hoạt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hiện nay

Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
PHẦN I. PHÂN TÍCH ĐẤU THẦU QUỐC TẾ.................................................2
1. Khái niệm.................................................................................................................................................2
2. Đặc điểm..................................................................................................................................................3
3. Các loại hình đấu thầu quốc tế...............................................................................................................4
4. Vai trò của đấu thầu quốc tế...................................................................................................................5
5. Nguyên tắc của đấu thầu quốc tế...........................................................................................................6
6. Quy trình nghiêp vu................................................................................................................................8

PHẦN II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU QUỐC TẾ TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY.................................................................................................11
1. Điều kiện đấu thầu quốc tế tại Việt Nam.............................................................................................11
2. Tình hình hoạt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hiện nay............................................................12
3. Những kết quả đạt được trong đấu thầu quốc tế tại Việt Nam..........................................................21

PHẦN III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU

THẦU QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM...................................................................24
1. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu..........................................................................24
2. Tổ chức phổ biến quán triệt thực thi pháp luật về đấu thầu và nâng cao chất lượng cán bộ làm công
tác đầu thầu...............................................................................................................................................25
3.Tăng cường việc chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền............................................................................26
4. Nâng cao năng lực nhà thầu, chủ đầu tư.............................................................................................26
5. Tăng cường phân cấp đi đôi với tiến hành kiểm tra, thanh tra thường xuyên công tác đấu thầu.....27
6. Khắc phuc tnh trạng đề nghi, chỉ đinh thầu tràn lan, không thực hi ên theo tinh thần đa phân cấp 27
7. Xây dựng và hoàn chỉnh các hệ thống đăng tải thông tin....................................................................27
8. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế
...................................................................................................................................................................28

KẾT LUẬN..........................................................................................................28

LỜI MỞ ĐẦU
Thuật ngữ “ đấu thầu” đã trở nên quen thuộc trong những năm gần đây ở Việt
Nam mặc dù nó đã được xuất hiện từ lâu trên thế giới. Trước đây khi nền kinh tế Việt
Nam còn ở trong chế độ bao cấp, người bán chỉ sản xuất và bán những gì mình có và
không quan tâm đến nhu cầu của người mua, do đó người mua không có quyền lựa chọn
cho mình những hàng hoá phù hợp. Chỉ đến khi nền kinh tế Việt Nam chuyển dần sang
hướng thị trường thì tính cạnh tranh xuất hiện, khái niệm về đấu thầu cũng dần dần được
hình thành và được chấp nhận như một điều tất yếu.
Hiện tại, Việt Nam là một nước đang phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế là mơ ước của toàn dân. Trong bối cảnh đó thì đấu
thầu cạnh tranh càng trở thành một phương pháp quan trọng trong việc tiếp thu nguồn
lực bên ngoài phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước. Đây vẫn là một lĩnh vực mới mẻ

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 1


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

đối với Việt Nam và còn có nhiều điểm cần học hỏi và hoàn thiện để công tác đấu thầu
quốc tế thực sự phát huy hết vai trò của mình trong việc lựa chọn nguồn lực bên ngoài
phù hợp nhất cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, em chọn đề tài tiểu luận: Phân tích
phương thức đấu thầu quốc tế và đánh giá tình hình hoạt động đấu thầu quốc tế tại


Việt Nam hiện nay.

PHẦN I. PHÂN TÍCH ĐẤU THẦU QUỐC TẾ
1. Khái niệm
Đấu thầu là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó người gọi thầu (người
mua) công bố trước các điều kiện mua hàng để người dự thầu (người bán) báo giá và các
điều kiện chất lượng của hàng hóa, các điều kiện thương mại khác để người mua chọn
được người bán đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của mình.
Đấu thầu quốc tế là cuộc đấu thầu có các nhà thầu( cá nhân, tổ chức) trong và
ngoài nước tham gia.
Những bên liên quan:
• Bên mời thầu: là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm
được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu
thầu

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 2


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

• Bên nhà thầu: là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng lực pháp luật
dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để kí kết và thực hiện
hợp đồng. Nhà thầu phải đảm bảo sự độc lập về tài chính của mình.
Nhà thầu có thể phân loại: nhà thầu chính và nhà thầu phụ
+ Nhà thầu chính: là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, đứng
tên dự thầu, kí kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn . Nhà thầu tham gia đấu
thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập. Nhà thầu cùng với một hoặc nhiều nhà
thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn vị dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh
(Khoản 12, điều 4, luật đấu thầu 2005)
+ Nhà thầu phụ: là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên cơ sở
thảo thuận hoặc hợp đồng được kí với nhà thầu chính. Nhà thầu phụ không phải là nhà
thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu.
Các đối tượng tham gia gián tiếp:
+ Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát;
+ Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập;
+ Công luận, các cơ quan báo chí;
+ Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát.
2. Đặc điểm
-Đấu thầu là một phương thức giao dịch đặc biệt, chỉ diễn ra ở một địa điểm,
trong một thời gian xác định trước
Thời gian và địa điểm của mỗi cuộc đấu thầu được nêu rõ trong các thông báo
mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền
hình… và trong thư mời thầu.
-Đối tượng mua bán không nhất thiết là hàng hoá có sẵn mà mua bán dựa vào
tiêu chuẩn kỹ thuật, có thể là hàng hoá hữu hình hay dịch vụ
Nhà thầu có thể biết tiêu chuẩn về kỹ thuật của hàng hoá mà bên mời thầu yêu cầu
khi nhận được hồ sơ mời thầu. Các yêu cầu về kỹ thuật của hàng hoá trong thư mời thầu
thường rất chi tiết thể hiện rõ mặt hàng trong đấu thầu thường có quy cách phẩm chất
phức tạp, giá trị cao.
Đấu thầu không chỉ áp dụng trong mua sắm hàng hoá hữu hình mà còn trong lĩnh
vực cung ứng dịch vụ. Trong ngành dầu khí, do đặc điểm riêng của ngành nên lĩnh vực
này rất được quan tâm. Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí thuộc Tổng công ty DKVN

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 3


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

chuyên cung cấp các dịch vụ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp như dịch vụ tàu
thuyền, dịch vụ trực thăng, bảo hiểm, dịch vụ chống dầu tràn, cung cấp lao động kỹ thuật
cao, cho thuê văn phòng.. .
-Trong đấu thầu chỉ có một người mua nhưng có nhiều người bán( thị trường của
người mua) và giá thành là giá thấp nhất (giá sàn)
Đây là đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động đấu thầu. Đấu thầu thực sự đem lại lợi
ích cho người mua vì nó tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt, khách quan và công khai giữa
các nhà thầu có năng lực. Các nhà thầu muốn trúng thầu thì phải tính toán đưa ra giá
thấp nhất. Tất nhiên giá cả không phải là yếu tố duy nhất quyết định thắng thầu vì còn
nhiều yếu tố khác như tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, quan hệ làm ăn giữa hai bên.
Thực tế, người thắng thầu không phải là người đưa ra giá thấp nhất mà là người có uy tín
trong các lần quan hệ làm ăn trước đây.
-Mọi điều kiện đều được quy định sẵn trừ giá cả
Trong bất cứ thư mời thầu nào, bên mời thầu thường đưa ra các điều kiện về mặt
hàng, số lượng, quy cách, phẩm chất, thời gian giao hàng và ngay cả Hợp đồng kinh tế
cũng được nêu ra trước. Tuy nhiên, giá cả là là điều kiện quan trọng nhất để lựa chọn
người thắng thầu nên được quyết định cuối cùng.
-Đấu thầu thường bị chi phối từ cơ quan quản lý nguồn vốn đầu tư về một số các
điều kiện cũng như các thủ tục pháp lý
Các tổ chức tài chính Quốc tế như WTO, IMF ... thường có các quy chế đấu thầu hướng
dẫn các nước vay khi sử dụng vốn vay. Riêng nguồn vốn ODA thì các công ty của nước
cấp ODA thường thắng thầu trong các cuộc đấu thầu sử dụng vốn này vì hầu hết các
nước cung cấp ODA đều quy định các nước vay phải sử dụng ODA để mua hàng hoá và
dịch vụ cung cấp bởi nước cấp ODA.
3. Các loại hình đấu thầu quốc tế.
-Căn cứ vào đối tượng đấu thầu:
• Đấu thầu mua sắm hàng hoá (Tender for Procurement goods)
• Đấu thầu xây dựng công trình (Tender for Works)
• Đấu thầu tuyển chọn tư vấn (Tender for Consulting Services)
• Đấu thầu dự án hoặc đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án (Tender for
Project)

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 4


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

-Căn cứ vào hình thức lựa chọn nhà thầu:
• Đấu thầu rộng rãi (open bidding hay international competitive)
• Đấu thầu hạn chế (limited bidding)
• Chỉ định thầu (Single bidding)
• Chào hàng cạnh tranh
• Mua sắm trực tiếp
• Tự thực hiện (Tự thầu)
• Mua sắm đặc biệt
- Căn cứ vào hình thức báo thầu:
• Đấu thầu 1 túi hồ sơ (1 phong bì)
• Đấu thầu 2 túi hồ sơ (2 phong bì)
-Căn cứ vào hình thức xét thầu:
• Đấu thầu 1 giai đoạn
• Đấu thầu 2 giai đoạn
4. Vai trò của đấu thầu quốc tế
-Sự cần thiết của đấu thầu quốc tế
Thực tế cho thấy, đấu thầu được thực hiện một cách đúng đắn thì tiết kiệm được
vốn đầu tư vì khi đó nó có tác dụng làm các chủ đầu tư, các nhà dự thầu phải tính đến
hiệu quả của hoạt động trước khi tiến hành ký kết hợp đồng. Công tác đấu thầu là một
đòi hỏi thiết yếu để đảm bảo thành công cho các nhà đầu tư dù đó là đầu tư trong nước
hay đầu tư nước ngoài. Do tính chất công bằng và cạnh tranh công khai nên đấu thầu
quốc tế tạo ra một môi trường bình đẳng cho các nhà kinh doanh từ các quốc gia khác
nhau trong việc tổ chức, thực hiện hợp đồng. Đồng thời, đấu thầu quốc tế cũng giúp cho
các nhà đầu tư mua được những thiết bị với giá rẻ, đạt yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật và
các điều kiện khác. Như vậy, đấu thầu quốc tế đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
- Ý nghĩa của đấu thầu Đấu thầu quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đặc biệt là với các nước đang phát triển như
Việt Nam bởi tính hữu ích đối với chủ đầu tư, với các nhà thầu và Chính phủ.
Đối với Nhà nước:
Thực hiện đấu thầu quốc tế là biện pháp quản lý tài chính có hiệu quả và tăng
cường các lợi ích kinh tế xã hội khác. Đấu thầu quốc tế là cơ sở để đánh giá khả năng

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 5


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

của các đơn vị cơ sở, các đối tác nước ngoài, ngăn chặn được các biểu hiện tiêu cực, sự
thiên vị, móc ngoặc riêng làm mất đi tính cạnh tranh trong kinh doanh. Đồng thời, thông
qua đấu thầu quốc tế mà đất nước thu được những công nghệ mới, hệ thống trang thiết
bị, máy móc hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến, những kiến thức về kỹ
thuật, tư vấn của các chuyên gia, đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề ... phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Đối với chủ đầu tư:
Áp dụng đấu thầu quốc tế là phương thức thích hợp để lựa chọn các nhà thầu có
năng lực nhất đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật đặt ra đồng thời cũng có được giá thành
và điều kiện tín dụng hợp lý nhất. Đấu thầu chống tình trạng độc quyền của các nhà thầu.
Chủ đầu tư giảm được giá vốn đầu tư do có sự cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Thực tế, giá chào thầu của các nhà thầu chênh nhau từ 30-40% trên cùng một mặt
bằng kỹ thuật. Do vậy, các đơn vị trúng thầu có giá trúng thầu giảm từ 20-30% so với
các đơn vị chào thầu cao nhất và giảm từ 10- 15% so với giá chào ban đầu của chính đơn
vị trúng thầu. Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư có thể chọn được thiết bị công nghệ tiên
tiến, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Công nghệ và kỹ thuật là điều kiện tiên quyết đảm bảo
khả năng trúng thầu cho các nhà thầu.
Ngoài ra, thông qua việc tham khảo ý kiến của các nhà thầu, các chủ đầu tư còn
thu được những thông tin hữu ích cho việc đầu tư, xây dựng các tiêu chuẩn tối ưu trong
hồ sơ mời thầu.
Đối với nhà thầu:
Đấu thầu quốc tế là hình thức bảo đảm công bằng và cơ hội tương đối cho tất cả
các nhà cung ứng tiềm năng. Đấu thầu quốc tế kích thích các nhà thầu nâng cao trình độ
kỹ thuật, công nghệ để đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu tư nhằm tăng khả năng cạnh
tranh. Thông qua đấu thầu quốc tế, các nhà thầu trong nước có thể tiếp cận được những
kỹ thuật công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý để nâng cao năng lực cạnh
tranh trên trường quốc tế.
5. Nguyên tắc của đấu thầu quốc tế
Hiện nay trên thế giới đang tồn tại nhiều quy chế đấu thầu khác nhau như quy chế
đấu thầu của FIDIC, WB, ADB ... Mỗi bản quy chế đấu thầu đều có những nguyên tắc
riêng phù hợp với mục đích của mình. Nhưng nhìn chung các nguyên tắc đấu thầu quốc
tế chủ yếu như sau:

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 6


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

- Nguyên tắc cạnh tranh công khai với điều kiện ngang nhau
Mỗi cuộc đấu thầu đều phải được thực hiện với sự tham gia của một số nhà thầu
có đủ năng lực để hình thành một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ. Điều kiện đặt ra với các
đơn vị ứng thầu (dự thầu) và thông tin cung cấp cho họ phải ngang nhau, nhất thiết
không có sự phân biệt đối xử.
- Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Các nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu với các thông tin chi tiết rõ
ràng và có hệ thống về quy mô, khối lượng, quy cách, yêu cầu chất lượng, tiến độ và
điều kiện thực hiện công trình. Điều này có nghĩa là chủ công trình phải nghiên cứu, tính
toán và cân nhắc kỹ lưỡng để tiên liệu chính xác về mọi yếu tố có liên quan đến công
trình, tránh tình trạng chuẩn bị sơ sài, tắc trách.
- Nguyên tắc đánh giá công bằng
Các hồ sơ dự thầu phải được đánh giá một cách không thiên vị theo cùng một
chuẩn mực và được đánh giá bởi một Hội đồng xét thầu có đủ tư cách và năng lực. Lý do
để "được chọn" hay "bị loại" đều được giải thích đầy đủ tránh sự ngờ vực.
- Nguyên tắc trách nhiệm phân minh
Không chỉ các nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan được đề cập và chi tiết
hoá trong hợp đồng mà phạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở từng phần việc đều được
phân minh, rạch ròi để không một sai sót nào không có người chịu trách nhiệm. Mỗi bên
có liên quan đều biết rõ mình phải gánh chịu những hậu quả gì nếu có sơ suất và sai
phạm và do đó mỗi bên phải nỗ lực tối đa trong việc kiểm soát bất trắc và phòng ngừa
rủi ro.
- Nguyên tắc "ba chủ thể"
Thực hiện dự án theo thể thức đấu thầu quốc tế luôn có sự hiện diện đồng thời của
ba chủ thể: bên mời thầu, nhà thầu và các nhà tư vấn. Trong đó, kỹ sư tư vấn hiện diện
như một nhân tố bảo đảm cho hợp đồng luôn thực hiện nghiêm túc đến từng chi tiết, mọi
sự bất cập về kỹ thuật hoặc tiến độ đều được phát hiện kịp thời, những biện pháp điều
chỉnh đều được đưa ra đúng lúc. Đồng thời, kỹ sư tư vấn cũng chính là nhân tố hạn chế
tối đa những mưu toan thông đồng hoặc thoả hiệp gây thiệt hại cho những người chủ
đích thực của dự án. Có nhiều điều khoản được thi hành để buộc các kỹ sư tư vấn phải là
những chuyên gia có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất và phải làm đúng vai trò của

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 7


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

những nhà trọng tài công minh được cử đến từ một công ty tư vấn chuyên ngành, công ty
này cũng phải được lựa chọn thông qua quá trình đấu thầu theo một quy trình chặt chẽ.
- Nguyên tắc bảo lãnh, bảo hành và bảo hiểm chính đáng
Các khoản mục về bảo lãnh, bảo hành, bảo hiểm … cũng được đề cập trong hồ sơ
mời thầu hay hồ sơ dự thầu một cách rõ ràng để các bên liên quan cùng hiểu rõ. Chính sự
tuân thủ các nguyên tắc này đã nói lên ý nghĩa, tác dụng tích cực của phương thức đấu
thầu. Đấu thầu nhằm kích thích nỗ lực của các bên và thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên
để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, tiến độ, tài chính của dự án và do đó bảo
đảm lợi ích chính đáng cho cả bên mời thầu và nhà thầu, góp phần tiết kiệm các nguồn
lực xã hội. Trước hết đối với chủ đầu tư, căn cứ vào kết quả đấu thầu, chủ thầu chọn lựa
nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của mình về kỹ thuật, trình độ thi công, bảo
đảm kế hoạch tiến độ và giá cả hợp lý. Đối với nhà thầu, đấu thầu đảm bảo tính công
bằng giữa các nhà thầu ở mọi thành phần kinh tế. Do phải cạnh tranh với nhau cho nên
mỗi nhà thầu đều phải cố gắng tìm tòi và đổi mới những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, có
trách nhiệm cao với dự án, các loại vật tư thiết bị được đem chào với mức giá có tính
cạnh tranh cao hơn.
6. Quy trình nghiệp vu
Bước 1: Chuẩn bị thầu
Phân chia đối tượng thầu thành các gói thầu theo yêu cầu của dự án, phù hợp với
luật định.
Bước 2: Tiến hành đấu thầu: 3 giai đoạn
Theo Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) thì có 3 giai đoạn khi tiến hành
đấu thầu quốc tế:
Giai đoạn 1: Sơ tuyển ( áp dụng đối với đấu thầu mở rộng).Giai đoạn này là giai
đoạn xác định các chỉ tiêu chủ yếu của công trình.
+ Thông báo cho những người có khả năng dự thầu, tuỳ theo loại hình đấu thầu
mà thông báo trên các báo chí tập san hoặc gửi thư riêng đến các hãng kinh doanh,
nhiệm vụ của ban tổ chức là chọn thời điểm và phương thức hợp lý sao cho những người
dự thầu có đủ thời gian chuẩn bị và nghiên cứu mà không thể có đủ thời gian để liên kết
với nhau để lũng đoạn giá.
Nội dung thông báo phải nêu rõ các yêu cầu của công trình và những địa chỉ liên
hệ cần thiết. Trên cơ sở thông báo, người dự thầu phải làm.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 8


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

+ Đơn: Kèm theo một loạt các văn bản có liên quan (văn bản tài chính cần thiết,
văn bản chứng minh khả năng kỹ thuật – có bao nhiêu công trình sư, có bao nhiêu kỹ
sư .v.v.)
+ Các văn bản xác nhận uy tín
+ Các giấy tờ chứng minh khả năng cung cấp vốn (Nếu công trình xây dựng bằng
vốn ODA phải có vốn đối ứng).
Luật Việt Nam quy định: Khi thực hiện công trình ở Việt Nam các nhà thầu nước
ngoài phải liên doanh với một pháp nhân Việt Nam, do vậy cần phải có thêm các văn bản
xác nhận liên doanh liên kết . Ngoài ra các nhà thầu phải có khả năng cung cấp 65% số
vốn , do vậy phải có văn bản chứng minh khả năng tài chính.
Trên cơ sở các giấy tờ (hồ sơ) người gọi thầu sẽ tiến hành sơ tuyển. Những người
dự thầu được mời đến dự sơ tuyển. Họ nhận được các tài liệu sơ tuyển để kê khai, và ban
tổ chức (người gọi thầu) xem xét, phân tích các văn bản mà họ đã nộp và chọn người dự
thầu. Đây là một công việc rất quan trọng, cần phải tiến hành thận trọng nếu chọn người
không đúng rất dễ hỏng việc hoặc có những công trình kém chất lượng.
Sau khi sơ tuyển ban tổ chức lập short list và gọi mời những người trong short
list đến dự thầu .Trên thế giới danh sách short list thường chỉ có 7-8 người, còn ở Việt
Nam có khi có đến trên 30 người và chí có trường hợp lên đến 100 người.
Giai đoạn 2: Giai đoạn mở thầu.
Giai đoạn này trước hết là phải xây dựng bản điều lệ đấu thầu (biding documents)
trong đó nêu rõ những mặt hàng và dịch vụ là đối tượng đấu thầu.
+ Tiến hành làm hồ sơ mời thầu.Trong quá trình làm hồ sơ mời thầu có khi cần cả
dịch vụ tư vấn để tư vấn về các vấn đề tài chính, kỹ thuật đây là một việc rất khó khăn và
tốn kém.
+ Tiến hành cung cấp hồ sơ mời thầu cho những người trong short list. Hồ sơ
được bán cho những dự thầu ở nước ngoài giá dao động từ 30 đến 50 USD , đây là
khoản phí không hoàn lại. Nhưng ở Việt Nam giá này thường cao hơn rất nhiều do vậy
các nhà thầu nước ngoài phản đối rất mạnh. Công việc chuẩn bị hồ sơ rất tốn kém, phải
in ấn nhiều, phải khảo sát kỹ thuật v.v…
+ Tổ chức cho những người dự thầu đi thăm thực địa, nơi xây dựng công trình để
họ tính toán cho việc thi công về sau.
+ Tiến hành giải đáp những thắc mắc của người dự thầu.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 9


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

+ Thu nhận báo giá: Căn cứ vào đơn chào hàng cùng với giấy chứng nhận đặt cọc
lần 1, thường thì có giá trị từ 1% đến 5%, nhưng ở Việt Nam lại quy định từ 1 đến 3%.
Số tiền này phải trả lại cho người không trúng thầu. Tiền đặt cọc có thể quy định bằng
một số tiền nhất định.
Về nguyên tắc khi nhận giấy báo giá (offer) ban tổ chức phải giữ kín, kể cả tiền
ký quỹ thầu (bid bond).
+ Mở thầu: Vào ngày giờ đã định cuộc đấu thầu được khai mạc tại địa điểm quy
định, với sự có mặt của những người dự thầu. Ban tổ chức lúc này mới được mở các
phong bì công bố công khai nội dung các báo giá và yêu cầu người tham gia ký vào văn
bản xác nhận.
Ban tổ chức thường không công bố kết quả ngay mà công bố sau đó một thời
gian.
Giai đoạn 3: Giai đoạn này là giai đoạn đánh giá, lựa chọn người trúng thầu ký
hợp đồng.
Thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng. Đây là giai đoạn có nhiều phức tạp, các bên dự
thầu chạy đua đưa ra các điều kiện ưu đãi cạnh tranh nhau, bằng mọi biện pháp để thắng
thầu, họ không ngần ngại gì khi sử dụng các biện pháp tiêu cực.
Ban tổ chức phải so sánh và đánh giá các báo giá (bid valuation) để đánh giá
người ta hay đưa về một cơ sở thống nhất. Ở Việt Nam thường dùng thang điểm cho các
phần, ví dụ: Về phần giá được bao nhiêu điểm, về phần kỹ thuật được bao nhiêu điểm,
thang điểm càng cao càng chính xác.
Lập hồ sơ xét thầu: Hồ sơ được đưa lên hội đồng xét thầu và thành phần hội đồng
tuỳ theo công trình: Nguyên tắc lựa chọn:
+ Giá thấp.
+ Chọn người có điểm cao nhất
+ Những người có điều kiện thuận lợi nhất.
Vấn đề này cũng rất phức tạp và có nhiều tiêu cực. Thông thường người cấp vốn
là người thắng thầu.
Hội đồng chỉ công bố người thắng và không giải thích lý do không thắng. Ai có
thắc mắc sẽ được tiếp riêng và được giả thích trực tiếp. Khả năng thắng thầu phụ thuộc
rất nhiều yếu tố, kể cả những yếu tố tiêu cực.
Bước 3: Đàm phán ký kết hợp đồng

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 10


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Ngay sau khi thông báo kết quả đánh giá người trúng thầu ký kết hợp đồng với
ban tổ chức và nộp tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng (performance bond), theo quy định
của bản điều lệ . Những người không trúng lấy lại số tiền đã ký quỹ dự thầu.
Thường là ký các hợp đồng soạn sẵn (hợp đồng mẫu). Thông lệ Việt Nam và thế
giới không giống nhau.
Việt Nam: Có lệ mặc cả trong khi đàm phán ký kết hợp đồng cho nên trong khi
báo giá họ hay nâng giá vì trong quá trình đàm phán có thể hạ được giá xuống, nhưng
với nước ngoài thì giá trong chào hàng là không đổi, đàm phán chỉ để chi tiết hóa hoặc
cụ thể hoá các công việc đã được đem ra đấu thầu.
Qua đàm phán xây dựng nội dung hợp đồng, và người thắng sẽ đặt cọc lần hai,
như trên đã nói và giá trị của lần đặt cọc này từ 10 đến 15 % giá trị hợp đồng

PHẦN II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
HIỆN NAY
1. Điều kiện đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
-Luật Đấu Thầu năm 2005
Theo Điều 13. Đấu thầu quốc tế- Luật Đấu Thầu 2005 số 61/2005/QH11 thì:
1. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA mà nhà tài trợ quy định phải đấu thầu
quốc tế;
b) Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó ở trong nước chưa đủ khả năng
sản xuất;

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 11


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

c) Gói thầu mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của
hồ sơ mời thầu hoặc đã tổ chức đấu thầu trong nước nhưng không chọn được nhà thầu
trúng thầu.
-Luật Đấu Thầu năm 2013
Theo Điều 15. Đấu thầu quốc tế- Luật Đấu Thầu 2013 số 43/2013/QH13 quy
định:
1. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu chỉ được thực hiện khi đáp
ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Nhà tài trợ vốn cho gói thầu có yêu cầu tổ chức đấu thầu quốc tế;
b) Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó trong nước không sản xuất được
hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, giá. Trường
hợp hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không tổ
chức đấu thầu quốc tế;
c) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, hỗn hợp mà nhà
thầu trong nước không có khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu.
2. Tình hình hoạt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hiện nay
-Các lĩnh vực đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam: Có bốn lĩnh vực đấu thầu quốc tế đang tồn tại như sau:
+ Đấu thầu về tư vấn: Là đấu thầu về tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn để thực
hiện công tác tư vấn như tư vấn chuẩn bị dự án, tư vấn thực hiện dự án,...
+ Đấu thầu về mua sắm thiết bị máy móc: Là dạng đấu thầu theo nội dung đấu
thầu hàng hoá.
+ Đấu thầu xây, lắp: Là đấu thầu về các công trình mang tính chất xây dựng cơ sở
hạ tầng. Đây là loại đấu thầu được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam. Do tính chất xây
dựng ở Việt Nam còn non kém, cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, vấn đề xây lắp là tất yếu cho
nên có rất nhiều công trình để xây dựng. Trong quá trình này, nhiều công ty trong nước
cũng như nước ngoài muốn mình đứng ra làm chủ công trình cho nên sản sinh ra việc
đấu thầu trong xây lắp là công việc cần làm. Hơn thế nữa ở Việt Nam, các lĩnh vực về
đấu thầu khác như tư vấn, mua sắm hàng hoá hoặc dự án và nó quá mới mẻ với nhà thầu
Việt Nam hoặc là quá ít, việc đấu thầu chưa phải là cấp thiết, sống còn đối với nhà thầu ở
Việt Nam. Cho nên, họ chỉ tập trung vào lĩnh vực đấu thầu xây lắp.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 12


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

+ Đấu thầu dự án: Là loại đấu thầu các dự án mà các chủ đầu tư muốn nhà thầu
quản lý dự án đó theo tiến độ công việc được giao cho nhà thầu mà chủ dự án mong
muốn.
-Sự yếu kém của các nhà thầu Việt Nam khi cạnh tranh với các nhà thầu quốc tế
trong đấu thầu tại Việt Nam
Vài năm nay, tổng mức đầu tư của Việt Nam bình quân đạt khoảng 600.000 tỷ
đồng và theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước.
Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao. Tuy nhiên, hầu hết các
dự án với quy mô lớn hoặc đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài đã từ chối các nhà thầu trong
nước để lựa chọn nhà thầu nước ngoài.
a, Tham gia các cuộc đấu thầu quốc tế ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu là các
nhà thầu nước ngoài. Các cuộc đấu thầu dự án công trình có vốn FDI hay ODA không
hoàn lại thường được tổ chức ở nước ngoài.
* Tham gia các cuộc đấu thầu quốc tế ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu là các
nhà thầu nước ngoài.
Theo Vụ Kế hoạch Ðầu tư (Bộ Giao thông vận tải), tính đến tháng 6 năm 2014,
ngành Giao thông vận tải( GTVT) hiện đang triển khai gần 40 dự án ODA( nguồn vốn
vay ưu đãi từ nước ngoài), tổng mức đầu tư hơn 16 tỷ USD. Các nhà tài trợ đến từ JICA
(Nhật Bản), WB (Ngân hàng Thế giới), ADB (Ngân hàng Phát triển châu Á), EDCF
(Hàn Quốc),... hầu hết đều có những quy định ngặt nghèo về nhà thầu xây lắp. Các nhà
tài trợ không cho phép các doanh nghiệp thuộc Bộ GTVT tham gia đấu thầu các dự án
do bộ hoặc một đơn vị trực thuộc thực hiện. Ðiều này đã biến các nhà thầu trong nước
đành chấp nhận làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, điển hình như tuyến cao tốc Nội
Bài - Lào Cai, các dự án ODA lớn khác như cầu Nhật Tân, đường vành đai III giai đoạn
2,... chủ yếu do các nhà thầu quốc tế làm nhà thầu chính.
Nhìn chung các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thì các nhà thầu Việt Nam hầu
như ít được làm tổng thầu, tỉ lệ thầu chính thấp, các nhà thầu Việt Nam chủ yếu tham gia
với tư cách là các nhà thầu phụ hoặc một bên liên doanh với nước ngoài, đặc biệt trong
lĩnh vực xây dựng. Những gói thầu chính trúng thầu phần lớn là những gói thầu san nền,
làm móng hoặc xây dựng phần thô. Những gói thầu làm tổng thầu có thiết kế, công nghệ
cao nhà thầu Việt Nam chưa đủ khả năng dự thầu. Hình thức phụ cũng rất đa dạng, có
công trình thầu phụ dưới dạng hợp tác với nhà thầu chính nước ngoài, có công trình

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 13


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

thông qua bản ghi nhớ, cung cấp giá cho nhà thầu nước ngoài đứng ra đấu thầu, cũng có
công trình chỉ nhận thầu phần nhân công. Nhưng giá cả làm thầu phụ thường bị các nhà
thầu chính nước ngoài bắt chẹt dưới các hình thức gọi phiếu chào giá từng công việc tới
nhà thầu Việt Nam, rồi sau đó chọn giá thấp nhất để hợp đồng giao việc. Có nhà thầu
Việt Nam tham gia đấu thầu bằng văn bản ghi nhớ, nhưng khi thắng thầu chỉ được làm
một phần, còn lại nhà thầu nước ngoài giao cho nhà thầu phụ Việt Nam khác với giá thấp
hơn. Có trường hợp nhà thầu nước ngoài đơn phương cắt hợp đồng đối với nhà thầu Việt
Nam hoặc nhà thầu thắng thầu bán lại cho các nhà thầu khác.
Ở Việt Nam thời gian qua cũng có nhiều liên doanh trong lĩnh vực xây dựng ra
đời nhưng vốn rất nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp, phần lớn các công ty liên doanh đều bị
thua lỗ vì không giành được công ăn việc làm. Để tham gia và thắng thầu các doanh
nghiệp Việt Nam phải liên kết với nhau dùng sức mạnh tổng hợp của Tổng công ty, đây
là vấn đề khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt.
Về phương pháp xét thầu, đôi khi chỉ dựa vào Hồ sơ dự thầu của các nhà thầu,
thiếu thông tin thực tế, do đó khi đánh giá năng lực nhà thầu chưa đảm bảo độ chính xác.
Việc đánh giá cho điểm chưa công bằng, tuy có điểm chuẩn nhưng các chỉ tiêu đặt ra
chưa định hướng được, dẫn đến việc cho điểm còn mang tính chủ quan, có khi thiên vị.
* Các cuộc đấu thầu dự án công trình có vốn FDI hay ODA hoàn lại thường
được tổ chức tại nước ngoài.
- Mặc dù quy chế đấu thầu của Việt Nam có quy định áp dụng đấu thầu đối với
các doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng - hợp tác – kinh doanh hoặc chính quyền có sự
tham của các tổ chức kinh tế nhà nước từ 30% trở lên nhưng việc áp dụng còn có chừng
mực. Nguyên nhân là do tỷ lệ góp vốn quyết định. Các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài,
các xí nghiệp tư nhân hầu như chưa biết tới quy chế. Các xí nghiệp này khi xây dựng hầu
hết là tổ chức đấu thầu tại nước ngoài, sau đó đơn vị thắng thầu sẽ thuê các công ty Việt
Nam xây dựng.
Các công trình có vốn ODA không hoàn lại cũng diến ra tương tự, đại đa số được
tổ chức tại nước ngoài, đặc biệt là các công trình có vốn của các tổ chức Chính phủ các
nước cho Việt Nam vay ( Nhật bản, Pháp, Tây Ban Nha…). Do tổ chức tại nước ngoài
nên cơ hội tham gia cạnh tranh của các nhà thầu trong nước bị hạn chế, không có dịp để
cọ sát, khi nhận thầu lại các công ty Việt Nam đã chịu nhiều thiệt thòi, nhiều ràng buộc
khắt khe.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 14


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

b, Thực trạng các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu tại Việt Nam
Số liệu của Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội công bố cho thấy, tính đến
năm 2010, có đến 90% các dự án tổng thầu EPC của Việt Nam là do các nhà thầu Trung
Quốc đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim. Trong số này, các
doanh nghiệp đến từ bên kia biên giới (khoảng 30 doanh nghiệp Trung Quốc) thực hiện
tới 30 dự án trọng điểm quốc gia, trong đó có nhiều dự án “tỷ đô” của ngành điện. Tiêu
biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD, điện Mỹ Tân 2
với số vốn 1,3 tỷ USD, điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD...Việt Nam hiện có 20 dự án
nhiệt điện thì có 15 công trình được phía Trung Quốc làm tổng thầu. Mặc dù 58% số hợp
đồng EPC nhiệt điện đốt than nhà thầu Trung Quốc có được là do được chỉ định thầu
nhưng không thể phủ nhận một con số tương đối lớn (42%) hợp đồng mà nhà thầu Trung
Quốc giành được là nhờ trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi quốc tế. Bên cạnh đó, với
xi măng, tuy không nêu cụ thể nhưng đối với các dự án do Trung Quốc làm tổng thầu
(trong tổng số 24 dự án), tỷ lệ nội địa hóa cơ bản được xác định là không có gì hết, tức
0%, và các lĩnh vực kinh tế khác cũng tương tự như vậy, phần tham gia của các doanh
nghiệp Việt Nam trong các gói thầu EPC hầu như là không có, hoặc có tham gia cũng chỉ
là nhà thầu phụ không mấy quan trọng.
Tính đến hiện tại( năm 2014) thì trong 10 năm qua, đối với gói thầu EPC (tư vấn,
thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành) sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nhà
thầu Việt Nam thắng thầu ở 67% số lượng gói thầu, nhưng trị giá gói thầu chỉ đạt 39%,
trong khi tỷ lệ này đối với nhà thầu Trung Quốc là 48%.
Cụ thể trong năm 2014, Hiệp hội Cơ khí Việt Nam (VAMI) cho biết, hiện nay
nhà thầu Trung Quốc đang làm tổng thầu EPC 5 trong tổng số 6 dự án hóa chất, tất cả dự
án chế biến khoáng sản, 49 trong tổng số 62 dự án về xi măng, 16 trong tổng số 27 dự án
nhiệt điện và nhiều dự án về giao thông.
Từ nay đến năm 2025, Việt Nam cần 117 tỷ USD phục vụ cho các công trình xây
dựng hạ tầng, nếu vẫn để tình trạng Trung Quốc trúng thầu hầu hết các gói thầu xây
dựng thì dẫn theo lời bà Phạm Thị Loan-Ủy viên Ủy ban tài chính và ngân sách Quốc
hội: "Việt Nam cần xây dựng nhiều dự án hạ tầng lớn. Nếu các gói thầu trọng điểm tiếp
tục rơi vào tay Trung Quốc thì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thực sự đang
rất đáng lo ngại". Vấn đề Trung Quốc làm chủ sân chơi đấu thầu quốc tế tại Việt Nam sẽ

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 15


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

tiếp tục gây ra nhiều hệ lụy liên quan đến các vấn đề kinh tế, an sinh xã hội, thậm chí cả
vấn đề chính trị và an ninh quốc gia.
Chất lượng thực hiện các dự án đấu thầu quốc tế tại Việt Nam do Trung Quốc
nhận thầu
Các dự án do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận phần lớn đều có ý nghĩa quan trọng
trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng các nhà thầu Trung Quốc và hệ quả gây ra
ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế-xã hội Việt Nam như: kéo dài thời gian thi công, làm đội
vốn đầu tư, chất lượng thiết bị kém...
Các dự án bị chậm tiến độ
Thông tin từ hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết hầu hết các dự án nguồn
điện trong Quy hoạch điện 6 (giai đoạn 2006-2010) đều bị chậm tiến độ như các nhà
máy thuỷ điện sông Ba Hạ, Pleikrông, Bản Vẽ...; các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí (mở
rộng 1), Hải Phòng 1, Quảng Ninh 1, Vũng Áng 1, Sơn Động, Mạo Khê, Nông Sơn, Ô
Môn 1. Đặc biệt, các dự án điện do các nhà thầu Trung Quốc đảm nhận như: Hải Phòng
1, Hải Phòng 2, Cẩm Phả 1, Cẩm Phả 2, Quảng Ninh 1, Quảng Ninh 2, Mạo Khê, Thái
Nguyên, Vĩnh Tân 2, Duyên Hải 1 và nhà đầu tư tư nhân Trung Quốc như Kiên Lương...
đều bị chậm; có những dự án đến nay chưa triển khai, chậm tiến độ từ hai - ba năm.
Nguồn thông tin từ EVN cũng cho thấy, đặc điểm chung nhiều dự án xây dựng
nhà máy nhiệt điện do ngành này quản lý, làm chủ đầu tư, dù được nhà thầu Trung Quốc
bỏ thầu giá rẻ nhưng lại bị chậm tiến độ gây thiệt hại khó thống kê được. Như nhà máy
nhiệt điện Cao Ngạn bị chậm 28 tháng, nhiệt điện Sơn Động chậm 24 tháng, nhiệt điện
Nông Sơn chậm 20 tháng, nhiệt điện Cẩm Phả 1 chậm 10 tháng, nhiệt điện Cẩm Phả 2
chậm ba tháng. Các dự án do ngành điện quản lý và đầu tư như nhiệt điện Hải Phòng 1, 2
và nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 đều chậm từ 18-24 tháng, đến nay vẫn chưa thể bàn giao
được.
Với khai thác khoáng sản, tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (Vinacomin)
cũng cho biết trong báo cáo gửi bộ Công Thương, ước tính việc chậm tiến độ các dự án
của đơn vị do nhà thầu Trung Quốc thi công gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng mỗi năm.
Một số dự án khác do nhà thầu Trung Quốc đang thực hiện cũng trong tình trạng
chậm tiến độ như vậy, như: Dự án Gang Thép Thái Nguyên giai đoạn 2 do nhà thầu
MCC (Trung Quốc) làm tổng thầu EPC. Sau khi trúng thầu, không những họ không tiếp
tục triển khai, mà còn đề nghị tăng giá mới tiến hành, làm cho tổng mức đầu tư tăng và

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 16


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

cũng khiến dự án chậm hơn ba năm. Hay như Dự án sản xuất Alumin Tân Rai do nhà
thầu Chalieco (Trung Quốc) trúng thầu (tháng 10/2013) cũng làm tăng tổng mức đầu tư
của Dự án thêm 35,37% và khiến tiến độ dự án chậm gần hai năm, hay như Dự án xây
dựng nhà máy sản xuất phân bón DAP Đình Vũ Hải Phòng của Tập đoàn Hoá chất Việt
Nam khởi công từ ngày 27/7/2003, sau 7 năm xây dựng nhưng vẫn chưa thể bàn giao
hoặc Dự án nhà máy Đạm Ninh Bình sau 20 tháng triển khai cũng chậm 6 tháng so với
kế hoạch ban đầu.
Dự án chậm tiến độ đã làm tăng chi phí như tăng khoản lãi vay, tăng chi phí quản
lý dự án, chi phí thuê tư vấn, tăng chi phí chuẩn bị sản xuất... Điều này được thể hiện qua
việc nhiều dự án điện bị đội mức đầu tư khá nhiều sau khi hoàn thành.
Các dự án bị đội vốn đầu tư
Đầu tiên là dự án trị giá 1,2 tỉ USD của Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn
Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) sau 6 dự án điện làm với nhà thầu Trung Quốc khi
giá hoàn thành bị đội lên rất nhiều so với giá trúng thầu ban đầu.
Theo đó, lần lượt, dự án nhiệt điện Cao Ngạn (công suất 100MW), nhiệt điện Sơn
Động (200 MW), nhiệt điện Nông Sơn (30 MW), nhiệt điện Cẩm Phả 1 (310 MW), nhiệt
điện Cẩm Phả 2 (300MW) rồi nhiệt điện Mạo Khê (440MW) do TKV làm chủ đầu tư
đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, ước tính tổng giá trị hợp đồng EPC do các nhà
thầu Trung Quốc đảm trách tại 6 dự án lên tới 1,2 tỉ USD. Tuy nhiên, kinh nghiệm làm
tổng thầu EPC của các nhà thầu Trung Quốc còn ít, khi triển khai dự án gặp nhiều khó
khăn, việc tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế của các nhà thầu chưa tốt vì đa số các nhà
thầu thiết kế, thi công xây dựng của Trung Quốc chỉ quen với các tiêu chuẩn của Trung
Quốc... Và dù nhà thầu Trung Quốc thường chấp nhận tất cả các yêu cầu của Hồ sơ mời
thầu nhưng khi bắt đầu vào thi công, thực hiện hợp đồng mới bộc lộ những khó khăn.
Bên cạnh đó, trong quá trình thi công nhà thầu thường hay đề xuất thay đổi so với hợp
đồng như: Thay đổi nhân sự, thầu phụ cung cấp thiết bị, thầu phụ xây lắp, thay đổi các
điều khoản kỹ thuật... Việc này làm mất thời gian để đàm phán, xem xét, gây khó khăn,
phức tạp trong quản lý dự án của chủ đầu tư.
Tình trạng chung của hầu hết các dự án do Trung Quốc nhận thầu là giá trúng
thầu ban đầu rất thấp và đội giá sau khi hoàn thành lại là một con số không nhỏ.
Chất lượng các dự án sau khi hoàn thành thấp và những vấn đề kinh tế- xã hội
khác

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 17


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Ví dụ với gói thầu 6 dự án điện của Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn Than –
Khoáng sản Việt Nam, so sánh thực tế vận hành ở nhà máy điện Na Dương (do MC làm
tổng thầu, các thiết bị chính xuất xứ từ Nhật Bản và các nước G7) với nhiệt điện Cao
Ngạn (do HPE làm tổng thầu, các thiết bị chính xuất xứ từ Trung Quốc), Sơn Động, Cẩm
Phả, cho thấy chất lượng thiết bị xuất xứ từ Trung Quốc cũng như các chỉ tiêu kinh tế-kỹ
thuật (hiệu suất nhà máy) thấp hơn các thiết bị của các nước châu âu, G7.
Trái ngược về chất lượng kém từ các dự án nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu,
dẫn chứng về chất lượng nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 (600MW) mà chịu trách nhiệm
thi công công trình là tổ hợp các nhà thầu nước ngoài như Sumitomo (Nhật Bản),
Hyundai (Hàn Quốc), Stone & Webster (Mỹ), Mitsui Babcock (Anh) cùng một số công
ty xây lắp của Việt Nam như Lilama, Licogi... thì dự án này hoàn thành từ năm 2001 và
đến nay vẫn vận hành tốt, không hề có bất cứ dấu hiệu về xuống cấp. Bởi tất cả những
thiết bị, máy móc ở nhà máy nhiệt điện này đều được nhập từ các nước G7 và các công
ty Việt Nam. Ví dụ như nồi hơi của Anh, thiết bị điện của Mỹ, tuốc bin, máy phát của
Nhật.
Không chỉ vấn đề chậm tiến độ, chất lượng thấp, đội giá khi hoàn thành, các dự
án do Trung Quốc nhận thầu còn dẫn tới nhiều nghi ngại về các vấn đề an ninh xã hội
như đảm bảo an ninh năng lượng khi 90% các nhà máy nhiệt điện, thủy điện do Trung
Quốc thi công hay vấn đề Trung Quốc nhập khẩu hoàn toàn lao động từ bên họ sang Việt
Nam làm việc, không tạo cơ hội cho công nhân Việt Nam, hoặc vấn đề phá vỡ hợp đồng,
kéo dài thời gian hoàn thành có mục đích chính trị, ảnh hưởng đến tổng thể kinh tế- xã
hội Việt Nam…
-Nguyên nhân của tình trạng Trung Quốc làm chủ, nhà thầu nội chưa tham gia
nhiều trong đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
Thứ nhất, theo Luật Đấu thầu 2005 (Luật cũ), tiêu chí có giá rẻ nhất luôn được ưu
tiên trong lựa chọn nhà thầu. “Nguyên tắc này không giống bất cứ nước nào trên thế
giới!”. Chúng ta luôn có tư duy chọn nhà thầu bỏ giá rẻ và điều đó vô tình biến đấu thầu
thành đấu giá. Việc ưu tiên giá rẻ khiến các nhà thầu Việt Nam và nhà thầu quốc tế có
chất lượng cao không có cơ hội trúng thầu. Các nước trên thế giới lại không chọn những
nhà thầu bỏ giá quá rẻ, mà họ chọn nhà thầu bỏ giá hợp lý nhất có thể.
Chính vì ưu tiên giá rẻ nên các nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu hầu hết các dự
án lớn ở Việt Nam, bởi nói về giá thì cả thế giới đều phải thua Trung Quốc. Các nhà thầu

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 18


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Trung Quốc thường ra giá thầu thấp hơn giá chuẩn từ 20%-30%, nên khó ai cạnh tranh
được. Và thực tế “tiền nào của ấy” cũng cho thấy những hậu quả nhãn tiền.
Thứ hai, Luật cũ thiếu hướng dẫn về hệ số quy đổi liên quan đến xuất xứ vật tư,
phụ kiện hàng hóa khi xét giá, đánh giá gây nhiều khó khăn trong công tác xét thầu, vì
thế chỉ chọn được nhà thầu với giá thấp. Nhiều chuyên gia và các nhà thầu đến từ khối
các nước công nghiệp phát triển (G7) đều phản ánh, Luật Đấu thầu năm 2005 của chúng
ta bỏ qua điều khoản nêu xuất xứ thiết bị để có hệ số đánh giá các tiêu chuẩn kỹ thuật và
giá trị.
Bên cạnh đó, việc tính điểm thưởng, phạt các nhà thầu không công bằng, nhiều
nhà thầu vi phạm ở các dự án khác hoặc không trung thực lại không bị trừ điểm. Thậm
chí, một số nhà thầu bị đánh giá kém ở công trình trước, đáng ra phải bị loại bỏ tham gia
thầu ở các dự án về sau của chủ đầu tư công trình. Nhưng thực tế, sau một thời gian
ngắn, các nhà thầu này lại vẫn được tiếp tục tham gia dự thầu và trúng thầu.
Thứ ba, do sự ràng buộc khi dự án sử dụng vốn tài trợ của nước ngoài. Các dự án
sử dụng nguồn vốn nước ngoài thông thường phải tổ chức đấu thầu quốc tế. Khi vay vốn
ưu đãi, các nước có quan hệ song phương, hầu hết họ có điều kiện là dành công việc cho
nhà thầu của nước họ làm, đây gần như là thông lệ trên thế giới.
Đơn cử như các dự án nhiệt điện, vì nước ta thiếu vốn, một số dự án nhiệt điện
vay vốn từ ngân hàng của Trung Quốc, nên buộc phải chỉ định nhà thầu Trung Quốc, như
các dự án nhiệt điện: Quảng Ninh 1, Vĩnh Tân 1, Duyên Hải 1; hoặc đấu thầu hạn chế
trong số các nhà thầu Trung Quốc (như dự án Nhiệt điện Cao Ngạn).
Thứ tư, chủ đầu tư ra "đầu bài" mời thầu chưa sát thực tế. Khi lập dự án, Việt
Nam luôn tính suất đầu tư quá thấp. Chẳng hạn như một dự án có thiết bị và công nghệ
hiện đại, thì suất đầu tư cần là 1 tỷ USD mới có thể mời các nhà thầu Nhật Bản và nhà
thầu châu Âu tham gia, nhưng nếu chỉ lập ra dự án với mức đầu tư 700 triệu USD, thì chỉ
phù hợp với nhà thầu của Trung Quốc.
Bên cạnh việc dự toán thấp khiến nhà thầu có chất lượng không tham gia được,
còn có việc xác định các yêu cầu tối thiểu về kinh nghiệm và năng lực không hợp lý, làm
mất cơ hội của nhà thầu nội. Một công việc chỉ yêu cầu có kinh nghiệm 1 năm, nhưng
chủ đầu tư lại yêu cầu nhà thầu có kinh nghiệm tới 5-10 năm hoặc ra điều kiện là nhà
thầu phải có năng lực tài chính hơn nhiều lần giá trị gói thầu...

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 19


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Thứ năm, năng lực của chủ đầu tư yếu kém. Việc xác định năng lực thực tế của
các nhà thầu rất cần thiết, nhưng các quy định, văn bản pháp luật liên quan vấn đề này
thiếu chi tiết, cụ thể. Mặt khác, sự phối hợp của các cơ quan chức năng, đặc biệt là chủ
đầu tư, ban quản lý dự án, tư vấn giám sát… trong đánh giá nhà thầu thiếu chặt chẽ, thực
hiện quản lý giám sát dự án lỏng lẻo.
Thứ sáu, các chủ đầu tư dự án lớn dùng vốn nhà nước do muốn “an nhàn”, nên
thường thích đấu thầu theo hình thức EPC, ngại trong việc tách các phần công việc để có
các gói thầu phù hợp với điều kiện của nhà thầu trong nước. Điều này là nguyên nhân
khiến nhà thầu nội mất cơ hội do thầu EPC đòi hỏi vốn lớn, may ra mới dành được vai
thầu phụ cho nhà thầu ngoại.
Thứ bảy, năng lực tài chính nhà thầu nội có hạn. Hiện một số chính sách thuế, tín
dụng của Việt Nam chưa ưu đãi đối với chủ đầu tư và nhà thầu trong nước, trong khi một
số nhà thầu nước ngoài được hưởng ưu đãi, điển hình như Trung Quốc. Theo ông Phạm
Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc có hẳn
một chương trình hậu thuẫn rất mạnh mẽ cho các nhà thầu đi ra nước ngoài nhận thầu.
Họ quy định rõ ràng, nếu vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị Trung Quốc đưa vào dự án
bằng 15% tổng giá trị dự án đó trở lên, thì các nhà thầu được vay vốn với lãi suất rất thấp
và được giảm nhiều thứ thuế, thậm chí có loại còn được miễn thuế.
Thứ tám, tệ nạn tham nhũng hoành hành gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng đấu thầu. Mặc dù, không có con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn điều này xảy
ra không ít. Ngay cả nhà thầu của Nhật Bản luôn được đánh giá là có chất lượng cao
cũng phải hối lộ để có dự án, điển hình như vụ Tập đoàn Tư vấn giao thông Nhật Bản
(JTC) hối lộ cho một số lãnh đạo ngành đường sắt Việt Nam hơn 700.000 USD mới đây,
vụ liên quan đến xa lộ Đông - Tây ở TP. Hồ Chí Minh trước đây… là minh chứng rõ
ràng. Điều này cũng phần nào lý giải vì sao nhà thầu Trung Quốc trúng nhiều dự án mặc
dù năng lực cũng như chất lượng công trình thực hiện luôn ở mức thấp, bởi như lời
chuyên gia Lê Đăng Doanh “Trung Quốc là bậc thầy của đút lót, hối lộ và lại quả”!
Thứ chín, tính công khai, minh bạch chưa cao. Trong Luật cũ, tiêu chuẩn đánh giá
hồ sơ dự thầu được giữ bí mật. Chẳng hạn, yêu cầu cần giải thích lý do không trúng thầu
cho nhà thầu biết, thì Luật Đấu thầu năm 2005 quy định là không có trách nhiệm giải
thích lý do (Khoản 2, Điều 41). Trong khi, việc giải thích rõ ràng là một việc làm cần
thiết nhằm khẳng định tính minh bạch, khách quan.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 20


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

3. Những kết quả đạt được trong đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
-Hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu về cơ bản được hoàn thiện, thống nhất
theo hướng tăng cường phân cấp
Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đó được hoàn thiện, thống nhất
theo hướng tăng cường phân cấp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đó ban hành các văn bản
hướng dẫn về đấu thầu đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật về đấu thầu được
thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc phục được
những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản. Luật và các văn bản
hướng dẫn thi hành đó thống nhất và chuẩn hóa về thủ tục, thời gian trong hoạt động đấu
thầu, quy định chi tiết về lập, thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu,
đánh giá hồ sơ dự thầu, nâng cao quyền và trách nhiệm của chủ đầu tư, từ đó tạo điều
kiện tiết kiệm thời gian trong đấu thầu, đảm bảo tiến độ chung của toàn bộ dự án đầu tư.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ
bản bước đầu đã đi vào cuộc sống, nâng cao vai trò của chủ đầu tư trong quá trình quản
lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án (quyết định nội
dung hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, giải quyết tình huống trong
đấu thầu). Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đó tăng cường tính chủ động linh
hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên
thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đó được rút ngắn đáng kể.
2-Đấu thầu rộng rãi tăng, chỉ định thầu giảm so với các năm trước
Tính đến năm 2014, hình thức đấu thầu rộng rãi vẫn là hình thức được lựa chọn
nhiều. Theo số liệu tổng hợp, đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước nói chung thì tổng
giá gói thầu đối với các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi năm 2012 tăng 16.083 tỷ, cụ
thể năm 2011 tổng giá gói thầu là 184.640 tỷ đồng thì đến năm 2012 đã tăng lên là
200.724 tỷ đồng. Đối với hình thức chỉ định thầu thì tổng giá gói thầu áp dụng chỉ định
thầu năm 2011 là 196.892 tỷ đồng, đến năm 2012 giảm xuống 77.592 tỷ đồng là
119.299 tỷ đồng. Ngoài ra tỷ lệ tiết kiệm đối với hình thức chỉ định thầu năm 2012 cao
hơn năm 2011 (năm 2012 từ 2,07% tăng lên 4,74%).
3-Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước
Mặc dù năm qua có nhiều biến động về giá cả, song công tác đấu thầu vẫn mang
lại hiệu quả đáng kể. Việc thực hiện theo Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định
85/CP không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực,

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 21


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nhà nước 23.172,078
tỷ đồng, tương đương 1,1 tỷ USD bằng 1% GDP của cả nước, đây là con số rất ý nghĩa
thể hiện hiệu quả của công tác đấu thầu. Ngoài ra, tiết kiệm đạt được chủ yếu từ các hình
thức đấu thầu mang tính cạnh tranh như đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế. Điều đó
cho thấy, việc quy định bắt buộc áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, chỉ được áp dụng
các hình thức khác (kém cạnh tranh hơn) khi có đủ điều kiện, không những giúp tăng số
lượng các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi mà đã trực tiếp đem lại giá trị tiết kiệm
đáng kể.
4-Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển khai trên
diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu
Kiểm tra, thanh tra về đấu thầu đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói
chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng. Ở nhiều địa phương, kiểm tra
đấu thầu đã giúp ngăn chặn kịp thời các sai phạm trong đấu thầu như nhà thầu có dấu
hiệu vi phạm trong Hồ sơ dự thầu (HSDT) khi tham gia đấu thầu tại một số gói thầu trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nhà thầu cung cấp thông tin không trung thực trong HSDT
trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Ninh Bình hay đánh giá HSDT không căn cứ vào yêu cầu
của HSMT làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long... và đã có
biện pháp xử lý kịp thời.
5-Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể
Việc công khai hóa thông tin về đấu thầu được tăng cường thể hiện qua việc gia
tăng nhu cầu đăng tải thông tin.
Ví dụ: Năm 2010, số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần suất
xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng có quan tâm tới
công tác đấu thầu. Ngoài trụ sở chính của Báo Đấu thầu tại Hà Nội, với việc có thêm 6
đại lý của Báo Đấu thầu tại TP. Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho các nhà
thầu không chỉ có được thông tin về đấu thầu trên cả nước mà còn dễ dàng tiếp cận
thông tin đấu thầu tập trung của 2 thành phố lớn nhất của cả nước (có số lượng gói thầu
được thực hiện nhiều nhất so với các địa phương khác). Ngoài ra, số lượng Báo phát
hành năm 2010 đã tăng gần 80.000 tờ báo (tăng 6% so với năm 2009) và số trang phát
hành được tăng lên 80 trang, nhờ đó Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan
trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 22


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu
thầu qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận
dụng các ưu thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân
đang tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời đây là
kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ý đối
với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành.
Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở
thành một chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008. Bộ phận
tiếp nhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không
phù hợp, làm khó nhà thầu. Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quan
chức năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúng Luật
Đấu thầu.
Trên cơ sở các báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương gửi đến về danh sách các
tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và danh sách nhà thầu nước
ngoài trúng thầu tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã theo dõi và tổng hợp danh sách
và đăng tải trên trang web muasamcong.mpi.gov.vn để các chủ đầu tư và bên mời thầu
được biết.
6-Việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đạt nhiều kết quả tích cực
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được gần 30 đơn kiến nghị của các nhà thầu; mặc dù các
đơn kiến nghị gửi đến không thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã có văn bản chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định và yêu cầu các
cơ quan này thực hiện giải quyết kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu
hiện hành và có báo cáo phản hồi để theo dõi.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 23


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

PHẦN III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU
QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu
Nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống pháp quy về đấu thầu luôn là trọng tâm của
công tác quản lý nhà nước về đấu thầu.
Để đảm bảo tính đồng bộ, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh một số văn bản
pháp quy sau.
– Mẫu hồ sơ mời thầu về mua sắm hàng hóa.
– Pháp lệnh đấu thầu.

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 24


Bài tiểu luận Kinh tế đầu tư

GVHD: TS Lê Bảo

Trên cơ sơ các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu của Nhà nước đã ban
hành, các bộ ngành, địa phương tùy theo tình hình cụ thể cần ra các văn bản hướng dẫn
thực hiện cho phù hợp.
Xem xét sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các các quy định pháp luật liên quan đến
đấu thầu, phân cấp quản lý đầu tư. Xem xét điều chỉnh, bổ sung Luật Đấu thầu và các
hướng dẫn kèm theo. Trong đó, phải có quy định tiêu chuẩn trúng thầu theo các yếu tố
đồng bộ: giá dự thầu thấp; trình độ công nghệ cao; kinh nghiệm và trình độ quản lý, năng
lực thi công của nhà thầu; tiến độ triển khai; nâng mức phạt vi phạm hợp đồng.
Bên cạnh đó, Luật Đấu thầu theo hướng lựa chọn nhà thầu EPC không nhất thiết
phải có giá thấp nhất. Trong đó cần quy định rõ cách đánh giá lựa chọn nhà thầu EPC;
cách xác định năng lực nhà thầu EPC để đảm bảo chọn được nhà thầu có kinh nghiệm
quản lý dự án tốt, năng lực về kỹ thuật và tài chính mạnh. Đặc biệt các dự án khi nhà đầu
tư nước ngoài thắng thầu phải có quy định tỷ lệ nội địa hóa về chế tạo thiết bị tại Việt
Nam.
Cần kiểm tra chứng chỉ hành nghề theo luật định; cấp giấy phép an ninh quốc gia
cho các dự án đầu tư và nhà thầu nước ngoài vào kinh doanh tại các vùng, các ngành
nhạy cảm. Lập quỹ dữ liệu về giao nhận thầu công trình xây dựng, tổ chức tổng kết và
công bố rộng rãi kinh nghiệm xây dựng các công trình mới, công trình lớn có vốn đầu tư
nhà nước. Ban hành Luật Đầu tư công, trong đó đặc biệt ngăn ngừa tình trạng thanh toán
dây dưa, gây thiệt hại cho nhà thầu.
Sớm ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển công
nghiệp phụ trợ để giảm bớt nhập siêu, đồng thời, chủ động thay thế máy móc thiết bị,
phụ tùng nhập khẩu không để phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, góp phần tăng trưởng
kinh tế.
2. Tổ chức phổ biến quán triệt thực thi pháp luật về đấu thầu và nâng cao chất
lượng cán bộ làm công tác đầu thầu
Việc phân cấp trong đấu thầu đã và đang được các Bộ Ban Ngành địa phương
triển khai triệt để đến tận cấp phường xã (thậm chị hiệu trưởng các trường tiểu học trung
học cũng được phân cấp thẩm quyền phê duyệt quyết định đầu tư, là người có thẩm
quyền trong đấu thầu). Tuy nhiên, năng lực của chủ đầu tư cấp huyện, xã, các trường
học, bệnh viện… của một số đơn vị tư vấn, bên mời thầu còn hạn chế. Vì vậy, tổ chức
phổ biến quán triệt thi hành các quy định pháp luật về đấu thầu cho chủ đầu tư, bên mời

Thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Sen - Lớp QLK.K31

Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×