Tải bản đầy đủ

Thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hô trợ từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐỨC HUY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm
2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI


NGUYỄN ĐỨC HUY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN PHÚ THÁI


LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và nghiên cứu, được sự hướng dẫn, giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp,
luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi” đã hoàn thành.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến TS. Nguyễn Phú Thái đã hướng dẫn tận tình, chu đáo,
đầy trách nhiệm. Sự giúp đỡ của Thầy đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo trong và ngoài Học viện Khoa học xã hội đã tận tình truyền đạt
các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học.
Biết ơn UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Công Thương tỉnh Quảng Ngãi, đã cho phép và tạo điều kiện trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu; sự giúp đỡ, cung cấp dữ liệu của các tổ chức, cá nhân cho tôi trong quá trình
nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, bản thân rất mong nhận được sự góp ý.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên

Nguyễn Đức Huy


LỜI CAM ĐOAN


LỜI CAM ĐOAN



LỜI CAM ĐOAN


MỤC LỤC
Nguyễn Đức Huy
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG HỖ TRỢ...................................................................10
1.1..................................................................................................................... Một
số khái niệm................................................................................................10
1.2.
Vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của tổ chức đối với thực hiện chính
sách công................................................................................................................. 19
1.3.........................................................................Các bước thực hiện chính sách
..................................................................................................................... 20
1.4..................................................................................................................... Cá
c yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách công.....................................25
1.5..................................................................................................................... Nh
ững yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách...........................................29
1.6..................................................................................................................... Chí
nh sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.........................................................32
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI......................37
2.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi ảnh hưởng

đến
việc thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ........................................37
2.2.
Thực trạng thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi..............................................................................................43
2.3.

Đánh giá về tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ

trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.................................................................................48
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
NGÃI....................................................................................................................... 57


3.1.

Quan điểm phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

57
3.2.

Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ

trợ
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.................................................................................58
KẾT LUẬN...........................................................................................................72
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CS

: Chính sách

CSC

: Chính sách công

CCN

: Cụm công nghiệp

CNH

: Công nghiệp hóa

CNHT

: Công nghiệp hỗ trợ

CSPTCNHT

: Chính sách phát triển Công nghiệp hỗ trợ

DNNVV

: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

GTSX

: Giá trị sản xuất

HĐND

: Hội đồng nhân dân

HĐH

: Hiện đại hóa

KTXH

: Kinh tế - xã hội

KKT

: Khu kinh tế

KCN

: Khu công nghiệp

KTTĐMT

: Kinh tế trọng điểm miền Trung

NQ

: Nghị quyết

UBND

: Ủy ban nhân dân

Số h iệu

T ên h ìn h

Trang

hình
1.1

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

15

1.2

Khái niệm CNHT của Việt Nam

17


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hỗ trợ là lĩnh vực công nghiệp cung cấp những sản phẩm có vai
trò hỗ trợ cho việc sản xuất thành các sản phẩm chính, đó là những linh kiện, phụ
liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu và còn bao gồm những sản phẩm trung
gian, những nguyên liệu sơ chế. Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong
việc tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp cuối cùng, giảm nhập siêu,
góp phần quan trọng vào công nghiệp hóa, từ đó tác động mạnh đến quá trình phát
triển công nghiệp và kinh tế xã hội của địa phương và của đất nước. Công nghiệp hỗ
trợ kém phát triển s ẽ làm hạn chế sự phát triển của công nghiệp sản xuất sản phẩm
hoàn chỉnh ho ặc tăng cường tình trạng phụ thuộc nhập khẩu của công nghiệp lắp
ráp.
Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển cũng s ẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thu
hút đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tiềm lực lớn. Hiện nay các lợi thế về truyền
thống về nhân công, mặt b ằng . . . không còn phát huy tác dụng và không còn là tiêu
chí để các nhà đầu tư lựa chọn địa điểm, lựa chọn ngành khi đầu tư; càng ngày các
nhà đầu tư càng ưu tiên nhắm đến những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc
sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh của họ. Điều này làm cho công nghiệp hỗ trợ ngày
càng có vai trò quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ, ngày 03/11/2015
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ
trợ; theo sau đó là “Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016-2025”
cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành (QĐ 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 ) đã
khẳng định rằng: Phát triển công nghiệp hỗ trợ là khâu đột phá để phát triển nhanh và
bền vững các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH
đất nước. Cụ thể: CNHT phải đạt được mục tiêu là: Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

1


Đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu cho sản
xuất nội địa, đến năm 2025, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng được 65% nhu
cầu cho sản xuất nội địa.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong xu thế hội nhập phải gắn với phân công
hợp tác quốc tế; Phát triển công nghiệp hỗ trợ trên cơ sở chọn lọc, dựa trên tiềm
năng, lợi thế so sánh của Việt Nam với công nghệ tiên tiến có tính cạnh tranh cao,
gắn liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng trong nước đối với sản phẩm công
nghiệp xuất khẩu và phấn đấu trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc
tế. Các ngành chọn lọc bao gồm: Linh kiện phụ tùng, Công nghiệp hô trợ ngành dệt
may - da giày, Công nghiệp hô trợ cho công nghiệp công nghệ cao; Phát triển công
nghiệp hỗ trợ theo hướng phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế,
đ c biệt là các đối tác chiến lược, các công ty tập đoàn đa quốc gia. hát triển công
nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung từng nhóm ngành công nghiệp để phát huy hiệu
quả cạnh tranh.
Những phân tích trên đây cho thấy: Phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong
việc phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Có thể nói: Phát triển CNHT đang
thu hút sự quan tâm lớn của Nhà nước Trung ương cũng như chính quyền các địa
phương và Quảng Ngãi không phải là một ngoại lệ.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với Khu kinh tế Dung Quất,
nơi tập trung hàng loạt các dự án công nghiệp n ng, đ c biệt là Nhà máy lọc hóa dầu
đầu tiên của Việt Nam, nhà máy công nghiệp nặng, nhà máy luyện cán thép. Bên
cạnh đó với sự hình thành 01 KKT, 04 KCN và 22 CCN- làng nghề, Quảng Ngãi có
nhu cầu lớn về sản phẩm - dịch vụ và các điều kiện khác để phát triển CNHT. Tuy
nhiên, sự phát triển của CNHT của tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định. Tỷ lệ nội
địa hóa trong các ngành công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi là rất thấp. Hiện nay ở
Quảng Ngãi, một số ngành lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh đều phải nhập nguyên liệu

2


từ nước ngoài. Do vậy, họ luôn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu,
không thể chủ động được hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cho đến nay, nhận thức về phát triển công nghiệp hỗ trợ của địa phương mặc
dù đã có những thay đổi, tuy nhiên vẫn chưa tương xứng và phù hợp với vị trí quan
trọng của lĩnh vực công nghiệp này. Quy hoạch phát triển công nghiệp mặc dù được
xây dựng rất công phu, tuy nhiên phần đề cập đến công nghiệp hỗ trợ còn khá mờ
nhạt. Điều này làm cho công nghiệp hỗ trợ hình thành một cách tự phát và thiếu sự
tác động tích cực của Nhà nước trung ương cũng như địa phương.
Có thể nói, CNHT có vai trò quan trọng đối với tỉnh Quảng Ngãi nói riêng,
cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung, tuy nhiên để thực hiện chính sách
phát triển CNHT phù hợp, cần có bức tranh vừa tổng thể, vừa chi tiết về thực trạng
thực hiện CS phát triển CNHT và các điều kiện thuận lợi - khó khăn trong việc phát
triển CNHT. Để làm được điều này, cần có nghiên cứu một cách hệ thống hơn về cơ
sở lý luận thực hiện CS phát triển CNHT tại địa phương, về nhu cầu sản ph m - dịch
vụ hỗ trợ của các cơ sở công nghiệp trong tỉnh và khu vực, khả năng cung ứng của
các ngành công nghiệp trong tỉnh thông qua một cơ sở dữ liệu về CNHT của tỉnh.
Qua đó có thể đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân hạn chế trong việc tổ chức
thực hiện CS phát triển CNHT, đề xuất đúng phương hướng, giải pháp để thực hiện
có hiệu quả chính sách trong thời gian đến.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan nêu trên, cùng với quá trình công
tác quản lý nhà nước ngành Công nghiệp, mong muốn góp một phần công sức của
mình vào việc phát triển CNHT của tỉnh Quảng Ngãi, tác giả đã chọn đề tài: “Thực
hiện CS phát triển công nghiệp hô trợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đối tượng
nghiên cứu với mục tiêu tìm kiếm những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu
quả các CS hỗ trợ, ưu đãi nhằm đưa ngành CNHT tỉnh Quảng Ngãi phát triển theo
hướng bền vững.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3


- Các công trình nghiên cứu về CS, CSC
Công trình Tìm hiểu về khoa học chính sách công của Viện Khoa học chính trị
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã có những giới thiệu khái quát về khoa
học chính sách; phân tích các biện pháp tiếp cận đối với việc giải quyết “xung đột giá
trị” của quá trình hoạch định chính sách trên phương diện lý luận và thực tế; Đồng
thời đưa ra một số khuynh hướng phát triển và hoàn thiện lý luận về khoa học chính
sách - tức là một hệ tri thức có khả năng ứng dụng trực tiếp, phổ biến, làm cơ sở cho
việc ra các quyết định về chính sách [18].
Tác giả Lê Chi Mai trong công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách và
quy trình chính sách đã có những phân tích bước đầu, giới thiệu những vấn đề lý
luận cơ bản về khoa học chính sách, làm rõ nhận thức về chính sách và các giai đoạn
của quy trình chính sách trong thực tiễn của Việt Nam [9].
Trong tác phẩm Khoa học chính sách phát hành năm 2011 [2], tác giả Vũ Cao
Đàm đã đưa ra những c ặp khái niệm mới, như mục tiêu công bố và mục tiêu ngầm
định của chính sách, tác động dương tính và tác động âm tính của chính sách, tác
động ngoại biên và chuỗi tác động kế tiếp của chính sách, xung đột và bất bình đẳng
xã hội do chính sách, paradigm (khung mẫu) và kiến tạo xã hội của chính sách C ng
với những c p khái niệm này là quy trình/phương pháp phân tích, hoạch định, thực
hiện và đánh giá chính sách được tiếp cận dưới các hướng tiếp cận hiện đại của khoa
học.
Công trình Chính sách công - Những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Hữu
Hải [5] đã cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về chính sách công như: quá
trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công;
cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và
phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; yêu cầu, các hình thức, phương
pháp tổ chức thực hiện chính sách công và phân cấp quản lý chính sách công;
nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích chính sách công;

4


nội dung đánh giá chính sách công; tổ chức công tác phân tích, đánh giá chính sách
công. Đ ặc biệt tác giả còn chú trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào
thực tiễn đánh giá chính sách công ở Việt Nam.
Giáo trình Đại cương về chính sách công của các tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê
Văn Hòa đã có những khái quát chung nhất về lý luận chính sách công như: quá trình
phát triển khoa học CS; đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; cấu trúc nội
dung và chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp,
công cụ hoạch định chính sách công; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức
thực hiện chính sách công và phân cấp quản lý chính sách công; nguyên tắc, tiêu chí,
quy trình, nội dung và phương pháp phân tích chính sách công; nội dung đánh giá
chính sách công; tổ chức công tác phân tích, đánh giá chính sách công [4].
Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chính sách công của tác giả Đỗ Phú Hải
đã có những khái quát chung nhất về lý luận chính sách công như: Khái niện về
chính sách công; vai trò, mục đích và quy trình xây dựng chính sách công; xác định
vấn đề và giải pháp chính sách công; các nguyên tắc xây dựng chính sách công; các
tiêu chí xây dựng chính sách công; những yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định và xây
dựng chính sách công [6].
Ngoài ra, còn có các bài viết công bố trên các tạp chí như Mô hình nghiên
cứu hệ thống chính sách công Việt Nam, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội số
08/2016; Quy trình chính sách công: Một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nhân lực khoa
học xã hội số 09/2016; Khoa học chính sách công: Một số vấn đề cơ bản, Tạp chí
Nhân lực khoa học xã hội số 10/2016; Bàn về mô hình chính sách công, Tạp chí
Nhân lực khoa học xã hội số 12/2016 của Võ Khánh Vinh; Văn Tất Thu [14], Đỗ
Phú Hải [6] đã đưa ra các khái niệm, đặc điểm, chu trình chính sách công và việc
đánh giá chính sách công, tiêu chí của đánh giá chính sách công.
- Các công trình nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ

5


Từ hơn mười năm trở lại đây, CNHT là một vấn đề được quan tâm. Bởi vậy,
có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề này. Trong đó, phải kể
đến các công trình nghiên cứu: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Hà Thị Hương Lan
“Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam”; Luận án Tiến sỹ
kinh tế chính trị của Trương Nam Trung “Công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô ở
Việt Nam”; Luận văn Thạc sỹ của Phạm Văn Kim “Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối
với phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam”; Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thùy
Dương “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở một số nước Đông Nam Á và
bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam'"; “Chính sách thúc đẩy phát triển công
nghiệp hỗ trợ: Lý luận, thực tiễn và định hướng cho Việt Nam ” của TS Lê Xuân
Sang, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương; Đề tài “Điều tra, đánh giá thực
trạng công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất giải pháp phát
triển CNHT giai đoạn 2011-2015 định hướng 2020” của PGS.TS Nguyễn Trường
Sơn, Đại học Đà Nẵng; Bài đăng trên tạp chí Tài Chính “Thực trạng ngành công
nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam” của TS Nguyễn Đình Luận - Đại học Công nghệ TPHCM.
3. Mục đích và n hiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hỗ trợ, chính sách
phát triển công nghiệp hỗ trợ, luận văn s ẽ nghiên cứu thực trạng việc thực hiện
chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó đề xuất các giải
pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách, chính sách công, chính sách phát
triển công nghiệp hỗ trợ.

6


- Nghiên cứu thực trạng và công cụ thực hiện chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá thành công và hạn chế của việc thực hiện
các chính sách đó.
- Đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.
4. Đố i tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học chính sách công, đề tài luận văn tập trung nghiên cứu
việc thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011-2016.
5. Cơ sở lý luậ n và p hươn g p háp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, chủ trương, CS của Đảng và Nhà nước về CS phát triển công
nghiệp nói chúng, CS phát triển công nghiệp hỗ trợ nói riêng, về khoa học CSC,
khoa học quản lý công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà
nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của Cục Thống kê và các sở, ngành của Quảng Ngãi.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp điều tra
thực địa thu thập số liệu thực tế tại các KKT, KCN, CCN.
7


- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính thống
nhất, tính khả thi và hiệu quả của CS nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và
thực tế.
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số
liệu, tính toán các đ c trưng của đối tượng nghiên cứu nh m phục vụ cho quá trình
phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định.
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi và thảo luận
với cán bộ quản lý nhà nước ngành Công nghiệp và giáo viên hướng dẫn nhằm tháo
gỡ những thắc mắc.
6. Ý n ghĩa lý lu ậ n và thực tiễn của luậ n văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả đánh giá làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến
chính sách công, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện CS nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu lực, hiệu quả CS được ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các
lý thuyết về CSC để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về CS phát triển Công
nghiệp hỗ trợ ở tỉnh Quảng Ngãi, từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng của CS trong
những năm tiếp theo.
Luận văn góp phần làm rõ tính chất, vai trò, vị trí của CNHT và về CS phát
triển CNHT, về thực hiện CS công nói chung, thực hiện CS phát triển CNHT nói
riêng. Đồng thời qua khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện CS phát
triển CNHT đối với tỉnh Quảng Ngãi, luận văn chỉ ra những bất cập, những việc thực
hiện chưa tốt, những m t còn hạn chế của việc thực hiện CS phát triển CNHT ở địa
phương. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất với các cấp có th m quyền các giải pháp
nh m nâng cao hiệu quả thực hiện CS phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

8


Kết quả đạt được của luận văn còn có ý nghĩa gợi ý, làm tài liệu tham khảo
cho việc xây dựng các Nghị quyết, chủ trương về phát triển công nghiệp hỗ trợ và
thực hiện CS phát triển CNHT của tỉnh Quảng Ngãi.
7. Cơ cấu của lu ậ n văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển
công. Nghiệp hỗ trợ.
Chương 2: Thực trạng về thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát
triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG HỖ TRỢ
1.1. Một số khái niệm
- Chính sách:
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội.
Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản
ứng của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính
thức được gọi dưới cái tên “Chính sách”. CS là một công cụ quan trọng của quản lý
“Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chiến lược,
kế hoạch, CS và quyết định quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách
thức nào đó nh m đạt tới mục tiêu mong muốn” [5, tr.6].
Mặc dù CS của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở thành
vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây. Sự phát triển của nó
gắn với một số sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi từ khi kết thúc thế

9


chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ
năm 1951. Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh m , trở thành
một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề CS, mỗi cách tiếp cận liên quan
trực tiếp tới tính đ c thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội,. Mỗi cách
tiếp cận giúp người chu n bị quyết định CS một hướng tư duy. Từ thực tế CS của các
ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên các
diễn đàn nghiên cứu CS, dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về CS:
- “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân ho ặc
một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” (James
Anderson) [9, tr.4].
- Theo Từ điển tiếng Việt “Chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch
cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế mà đề ra CS . .. ” [16, tr.157].
- Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS với pháp luật, tác giả Đinh
Dũng Sỹ cho rằng: “Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng,
những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm
chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện
chính sách” [20].
Tóm lại, Chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh
đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung thể
chế cho các hoạt động trong thực tiễn.
-

Chính sách công
Cụm từ “CS” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là

CSC. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản
về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành CS, về mục đích tác động của
CS và vấn đề mà CS hướng tới giải quyết.

10


Chính sách công là CS của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự
ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về CSC, Thomas
R.Dye cho rằng CSC là “bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm ho ặc không làm”
[8, tr.47].
William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có
liên quan với nhau được ban hành bởi một ho c một nhóm nhà hoạt động chính trị c
ng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt được mục tiêu trong một
tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [8, tr.48-49]. Theo tác giả, CSC là
một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này
cũng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên quan với
nhau” và quá trình CS là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước.
Guy Peter cho rằng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [9, tr.5]. Định nghĩa
này khẳng định chủ thể ban hành và thực hiện CSC là nhà nước, đồng thời nhấn
mạnh một khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của CSC đến đời sống của
mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ
chức cụ thể.
CSC theo Nguyễn Duy Gia “là một tập hợp các quyết định hành động của
Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội
theo mục tiêu xác định. CSC do Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện nên CSC phản
ánh bản chất của Nhà nước đó” [6, tr. 7].
Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết
định hoạt động của nhà nước nh m giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời
sống KTXH theo mục tiêu xác định” [15, tr.38]. Đồng thời tác giả cũng nhấn những
đặc trưng cơ bản của CSC như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành CSC là Nhà nước;
Thứ hai, các quyết định trong CSC này là những quyết định hành động, có nghĩa là

1
1


chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn; Thứ ba, CSC được ban hành nh m giải
quyết những vấn đề đ t ra trong đời sống KTXH theo những mục tiêu xác định; Thứ
tư, CSC gồm nhiều quyết định có liên quan đến nhau.
Như vậy có rất nhiều định nghĩa về “CSC” tùy theo những góc độ tiếp cận
khác nhau. Tựu chung lại, có thể hiểu “CSC là tập hợp các quyết định của
Nhà nước để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống của cộng đồng, người dân
nhằm hướng tới mục tiêu phát triển KTXH”.
CSC thường có thể được phân biệt dựa theo các tiêu chí khác nhau. Theo chủ
thể ban hành: CS do Trung ương ban hành và CS do địa phương ban hành. Theo lĩnh
vực: có CS kinh tế, CS xã hội, CS đối nội, CS đối ngoại... Theo thời gian tồn tại của
CS gồm có CS dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đối với CS phát triển công nghiệp hỗ
trợ tỉnh Quảng Ngãi mà Luận văn này chọn làm chủ đề nghiên cứu thì chủ thể CS là
cơ quan Trung ương ban hành, còn lĩnh vực đây là CS kinh tế, bao gồm các CS dài
hạn, trung hạn và ngắn hạn.
- Tổ chức thực hiện CS công: là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn
tại của CS với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là
để đạt mục tiêu mà CS theo đuổi.
Như vậy, Tổ chức thực hiện CS công là toàn bộ quá trình hoạt động của các
chủ thể theo các cách thức khác nhau nh m hiện thực hóa nội dung CS công một cách
hiệu quả [8, tr.126-127]
-

CSphát triển công nghiệp hô trợ
+ Khái niệm công nghiệp hỗ trợ:
Công nghiệp hỗ trợ bắt đầu được quan tâm và nghiên cứu kể từ những năm 80

của thế kỷ trước, sau sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản. Các khái niệm,
đ c điểm, vai trò c ng như các vấn đề liên quan của công nghiệp hỗ trợ đã được khá
nhiều các nhà nghiên cứu và quản lý quan tâm và phát triển. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu lại nhìn nhận công nghiệp hỗ trợ dưới những quan điểm riêng, t y theo đ

12


c điểm phát triển của mỗi nền kinh tế. Ở Việt Nam, khái niệm và các vấn đề về công
nghiệp hỗ trợ chỉ mới được đề cập từ đầu những năm 2000 trở lại đây, c ng với sự gia
tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực chế tạo. Cùng với sự thiếu hụt về
hệ thống lý luận và nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ, hệ thống CS riêng biệt cho
ngành này cũng chưa hoàn thiện, dẫn đến những hạn chế nhất định trong sự phát
triển của khu vực này.
Nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định CS sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hỗ
trợ”, “công nghiệp phụ trợ”.... Trên thực tế, thuật ngữ này trở nên thông dụng ở Nhật
Bản vào khoảng giữa những năm 1980 khi được Chính phủ Nhật Bản sử dụng trong
các văn bản tài liệu của mình và sau đó được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu Á.
Khái niệm CNHT ra đời và được chính phủ Nhật Bản chính thức sử dụng vào
khoảng thời gian này, bởi sự phát triển mang tính lịch sử của nền kinh tế những năm
đó. Sự tăng giá của đồng tiền Nhật Bản đã làm cho các doanh nghiệp Nhật giảm xuất
khẩu các sản phẩm cuối cùng và chuyển các cơ sở sản xuất sang các nước có chi phí
nhân công rẻ hơn. Tuy nhiên các nhà lắp ráp Nhật Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập
khẩu linh phụ kiện từ các DN Nhật Bản vì các doanh nghiệp tại nước sở tại không
thể đáp ứng. Thuật ngữ CNHT lúc đó được dùng để chỉ sự thiếu hụt các ngành công
nghiệp như vậy ở các nước này. Sau đó, thuật ngữ này đã được phổ biến đến các
nước châu Á khác cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhật Bản như New Aid Plan
năm 1987, chương trình phát triển CNHT châu Á năm 1993.
Ở Nhật Bản, CNHT được hiểu là “một nhóm các hoạt động công nghiệp cung
ứng các đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản ph m hoàn
chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn”.
Nói cách khác, CNHT n m ở phần giữa của quá trình sản xuất, từ thượng
nguồn xuống đến hạ nguồn. Đ ặc biệt là, CNHT nên dựa vào một số công đoạn sản
xuất nhất định, phục vụ một số ngành công nghiệp nhất định tương đối tương đồng
nhau (hình 1.1). Việc tương đồng này làm cho chi phí sản xuất giảm, tăng dung

1
3


lượng thị trường, gia tăng nguồn khách hàng và giúp CNHT phát triển nhanh hơn.
Nhật Bản, Đài Loan đều xác định CNHT theo cách này, b ằng cách dựa trên các công
đoạn sản xuất như dập, đúc, rèn, hàn, gia công cơ khí, khuôn mẫu . . . và bao gồm
các sản phẩm chủ yếu liên quan đến 3 lĩnh vực chính: các linh kiện kim loại, các linh
kiện nhựa và cao su, các linh kiện điện-điện tử.

Hình 1.1 Khái niệm công nghiệp hô trợ của Nhật Bản Bộ Năng lượng
Mỹ định nghĩa CNHT bao gồm những ngành cung cấp các quy trình cần thiết để sản
xuất và hình thành sản phẩm trước khi chúng được đưa đến các ngành công nghiệp
cuối cùng. Chương trình phát triển ngành CNHT hiện nay ở Mỹ bao gồm 07 ngành:
các thiết bị làm nóng công nghiệp; xử lý nhiệt; rèn; hàn; luyện kim bột và các vật
liệu dạng hạt; sứ cao cấp; các sản phẩm các-bon.
Hàn Quốc không sử dụng cụm từ công nghiệp hỗ trợ mà gọi lĩnh vực này là “
Vật liệu và linh kiện công nghiệp”. Các nước châu Âu cũng không sử dụng cụm từ
công nghiệp hỗ trợ mà thường gọi là “các ngành cung ứng” (Supplier Industries), chỉ
việc cung cấp sản phẩm từ các doanh nghiệp bên ngoài. Các khái niệm liên quan đến

14


nội dung này còn được phản ánh ở các thuật ngữ khác, như: thầu phụ, thuê ngoài,
nhà cung ứng.
Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm rộng, có tính
chất tương đối. Dù có rất nhiều cách định nghĩa, các khái niệm CNHT đều có các
điểm chung như sau:
Thứ nhất, đó là việc cung ứng các linh phụ kiện cho mục đích sản xuất sản
phẩm cuối cùng; thứ hai, các ngành CNHT bao gồm các công đoạn chủ yếu để sản
xuất các linh kiện kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử, nhằm phục vụ một số
ngành công nghiệp chế tạo như xe máy, ô tô, điện tử, chế tạo máy móc; thứ ba, việc
cung ứng này chủ yếu được đáp ứng bởi hệ thống DNNVV có trình độ công nghệ
cao, tạo ra những sản ph ẩm có độ chính xác lớn, thực hiện các cam kết hợp đồng với
khách hàng một cách chuẩn mực; thứ tư, khách hàng cuối cùng của các ngành CNHT
là nhà lắp ráp, do vậy, thị trường của CNHT không rộng như sản xuất sản phẩm cho
người tiêu dùng cuối cùng. Thị trường hàng hoá của họ thu hẹp hơn, có những nhóm
sản phẩm nằm ở phần thị trường rất hẹp và chỉ dành cho một số khách hàng nhất
định. Đây chính là khó khăn lớn nhất của phát triển CNHT.
Ở Việt nam, cụm từ “công nghiệp phụ trợ” bắt đầu được nhắc tới một cách
tương đối rộng rãi từ năm 2003. Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” đã được
chính thức hoá để chỉ vấn đề này, lần đầu ở Việt Nam từ năm 2007, trong “Quy
hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến 2010, tầm nhìn
đến 2020” do Bộ Công Thương soạn thảo và Thủ tướng phê duyệt. Trong đó, CNHT
được định nghĩa: CNHT là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản
xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ
tùng... cho khâu lắp ráp cuối cùng. Trong bản quy hoạch này, CNHT được phân chia
thành hai thành phần chính, phần cứng liên quan đến sản xuất và phần mềm là hệ
thống dịch

1
5


vụ công nghiệp

và marketing. Năm nhóm ngành đã được Chính phủ chỉ định ưu tiên phát triển
CNHT và 0được
địnhdệtkếmay,
hoạch
phát
tô, cơ hoạch
khi chẻ tạo,
gia dày,
dò triển
diện tưcụ thể, đó là: điện tử, cơ khí chế tạo,
ô tô, dệt may, da giày. Hình 1.2 mô tả khái niệm CNHT của Việt Nam.
Các nhà lăp ráp có
nhu câu về linh phụ kiện
tương tự
nhau

Hình 1.2 Khái niệm CNHT của Việt Nam Như vậy, có thể thấy
khái niệm của
Việtvật
Nam
néttùng
khác
Nguyên
liệu,có
phụ
linhbiệt
kiệnso với các khái niệm ở các quốc gia khác:
(i) CNHT được xác định rộng hơn, từ khâu sản xuất nguyên vật liệu đến cả
các dịch vụ công nghiệp. Có thể thấy khái niệm này làm cho các ngành CNHT mở
Công nghiệp hỗ trợ

Phầngồm
mềm
rộng ra rất nhiều, không chỉ bao
mộtlà số lĩnh vực công nghiệp, không chỉ tập

trung các

Phần cứng liên
DNNVV
màsàncả
quan đến
xuất

hệ thõng dịch

các doanh
nghiệp lớn. Nhìn chung, các doanh nghiệp sản
vụ công nghiệp
marketing
xuất CNHT hầu hết có quy môvànhỏ
và vừa, đòi hỏi trình độ công nghệ và quản lý
cao, điều kiện hợp đồng chặt chẽ và tương đối phụ thuộc lẫn nhau. Điều này cho
phép xác định một phạm vi hỗ trợ rộng rãi đến

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×